1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra tình hình sử dụng kháng sinh ở bệnh viện tỉnh Phú Thọ pdf

6 1,2K 19
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 209,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều tra tình hình sử dụng kháng sinh ở bệnh viện tỉnh Phú Thọ Nguyễn Thị Vinh 1 , Đỗ Kháng Chiến 2 1 Bộ môn Vi sinh y học, 2 Vụ điều trị, Bộ Y tế Điều tra kiến thức bằng bộ câu hỏi tr

Trang 1

Điều tra tình hình sử dụng kháng sinh

ở bệnh viện tỉnh Phú Thọ

Nguyễn Thị Vinh 1 , Đỗ Kháng Chiến 2

1

Bộ môn Vi sinh y học, 2 Vụ điều trị, Bộ Y tế

Điều tra kiến thức bằng bộ câu hỏi trắc nghiệm, điều tra thực hành kê đơn bằng bộ câu hỏi mở và điều tra

1137 bệnh án của bệnh viện tỉnh Phú Thọ cho kết quả như sau:

1 Điểm trung bình chung là 20,9 (tổng điểm tối đa là 50); tối thiểu đạt 6 và tối đa đạt 35 điểm 88,6% bác sĩ (BS) và dược sĩ (DS) có thâm niên công tác ≥10 năm và chỉ có 11,4% đã được tham dự một khoá tập huấn về kháng sinh trong thời gian 2 - 3 ngày

Các BS đã quên nhiều kiến thức cơ bản, không được cập nhật thông tin về vi khuẩn gây bệnh, kháng sinh (KS) và sử dụng KS

2 79,0% số bệnh nhân nằm viện được điều trị bằng KS; 38,4% được điều trị bằng 1 KS; 40,6% được điều trị bằng ≥ 2 KS, phổ biến nhất là kiểu phối hợp ampicillin + gentamicin (34,4%) Các BS điều trị kê đơn KS chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, chưa chú ý đến tác nhân gây bệnh và phổ tác dụng của KS

Đặc biệt có 23,7% phối hợp betalactam + chloramphenicol để điều trị các nhiễm trùng đường hô hấp hoặc tiêu hoá là chưa hợp lý 7,3% chọn gentamicin để điều trị nhiễm trùng răng miệng cũng là chưa thích hợp

Tỷ lệ tiền KS/ tiền thuốc toàn BV là 40,1%

i đặt vấn đề

Biện pháp can thiệp quan trọng và khả thi hàng

đầu mà các chuyên gia của Tổ chức Y tế Thế giới

lựa chọn để thực hiện chiến lược toàn cầu ngăn

chặn sự đề kháng kháng sinh - Global Strategy for

Containment of Antimicrobial Resistance, là “Đào

tạo người kê đơn, người cung ứng và hướng dẫn sử

dụng & qui chế” [3] Điều này chứng tỏ việc đào

tạo và hướng dẫn sử dụng kháng sinh (KS) cho bác

sỹ điều trị (BS) và dược sỹ (DS) là cần thiết và cấp

bách cho tất cả các nước trên thế giới

Ngay từ năm 2000 Bộ Y tế nước ta đã nhận rõ:

thay đổi được nhận thức và tập quán sai lầm của

một bộ phận cán bộ y tế về KS trị liệu là công phu

và lâu dài

Để việc đào tạo đạt hiệu quả, đáp ứng đúng yêu

cầu chuyên môn và nhu cầu của cán bộ y tế, đồng

thời giải quyết được những vấn đề thực tế đặt ra tại

cơ sở, chúng ta cần hiểu rõ tình hình sử dụng KS

và phát hiện những điểm yếu kém ở đó cần khắc

phục Vì thế, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề

tài “Điều tra tình hình sử dụng kháng sinh ở bệnh

viện tỉnh Phú Thọ” nhằm đạt 2 mục tiêu:

1 Điều tra kiến thức của BS và DS về sử dụng

KS

2 Điều tra nội dung kê đơn KS của BS

ii đối tượng và phương pháp nghiên cứu

1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng của điều tra kiến thức và thực

hành hàng ngày là BS và DS

- Đối tượng của điều tra kê đơn là 1137 bệnh

án ra viện của 13 khoa trong tháng 4 và 10 ngày

đầu tháng 5/2003

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang và

hồi cứu

2.2 Công cụ nghiên cứu

Bộ câu hỏi trắc nghiệm và câu hỏi mở đã thiết

kế trước

Trang 2

Bộ test kiến thức bao gồm 50 câu hỏi trắc

nghiệm, trong đó có 21 câu Lựa chọn (1/5), 28 câu

Phân biệt Đúng/Sai và 1 câu hỏi Điền

Bộ câu hỏi điều tra thực hành hàng ngày có 46

câu hỏi mở

Phiếu điều tra kê đơn qua bệnh án gồm 40 câu

hỏi mở

Các bộ câu hỏi đã được thử nghiệm pilot, rút kinh

nghiệm và hoàn thiện trước khi triển khai toàn BV

3 Phương pháp phân tích số liệu

Sử dụng phần mềm EPI INFO 6.04

iii kết quả

1 Kết quả điều tra kiến thức

1.1 Điểm số đạt được

Tổng cộng có 71 BS và DS tham gia (đạt 80% tổng số BS và DS theo quản lý hành chính của bệnh viện)

Nếu tính: trả lời đúng mỗi câu hỏi được 1 điểm thì điểm tối đa là 50; riêng với câu hỏi phân biệt

Đúng/Sai nếu trả lời sai đáp án bị trừ 1 điểm, kết quả thu được như sau:

Biểu đồ1 Phân bố điểm test kiến thức của 71 cán bộ

Điểm trung bình chung của BV là 20,9; điểm

tối thiểu là 6 và tối đa là 35

1.2 Chi tiết về nội dung kiểm tra kiến thức

Câu hỏi phân biệt Đúng/Sai

Š Câu hỏi được trả lời Sai đáp án nhiều nhất

(84,5%) là câu số 42, tỷ lệ trả lời đúng đáp án chỉ có

12,7%

Nội dung câu hỏi: Nhiễm khuẩn vùng ổ bụng

dùng metronidazol rất tốt vì nó diệt được tất cả

các trực khuẩn Gram - âm

Đây là quan niệm sai hay gặp ở nhiều bệnh viện

khác, không riêng ở bệnh viện tỉnh Phú Thọ

Š Những câu hỏi có số trả lời “không biết” >

10% gồm có 5 câu, đó là câu 24, 31, 40, 43, 44 về

kiến thức cơ bản (R - plasmid) và về những KS như

Augmentin hoặc sulbactam, azithrromycin và acid nalidixic

Câu hỏi Lựa chọn

Vì mỗi câu hỏi có 5 khả năng để lựa chọn nên

đây là câu hỏi khó, nếu chưa nắm vững kiến thức;

tỷ lệ trả lời đúng đáp án cao nhất đạt 80,3% (câu

số 7) và thấp nhất 2,8% (câu số 9 về chọn KS đặc trị cho trực khuẩn mủ xanh)

Các câu hỏi về phân loại KS (tưởng là đơn giản) nhưng tỷ lệ trả lời đúng không cao (chỉ 32%, 35% hoặc 52%)

Š Câu hỏi được trả lời đúng đáp án cao nhất (80,3%) là câu số 7

Nội dung:

0 5 10 15 20 25 30 35

Số lượng

<=9 1 0 đ ến 1 9 2 0 đ ến 2 9 3 0 đ ến 3 9 > 4 0

Số điểm đạt được (tối đa =50)

Đ iể m t e st kiế n t hứ c

Trang 3

Nhóm 5 - nitro - imidazol (metronidazol) có

đặc điểm là:

A Không hấp thu qua đường tiêu hoá

B Phổ kháng khuẩn rất rộng, cả vi khuẩn ưa

khí và kỵ khí

C Dùng điều trị tốt cho nhiễm Trichomonas,

amip ở mô và vi khuẩn kỵ khí

D Đại diện cho 5 - nitro - imidazol là nitrofuran

E Độc tính nặng là gây thiếu máu, suy tuỷ

Đáp án C

1.3 Thâm niên của các bác sỹ và khả năng

đào tạo lại

0 1 2 3 4 5 6 7 8

1 5 6 9 10 11 12 13 14 15 17 18 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31

Thâm niên công tác

Biểu đồ 2 Thâm niên công tác của BS BV Phú Thọ tham gia nghiên cứu

88,6% BS và DS đã có thâm niên ≥10 năm và

chỉ có 8 BS (11.4%) đã được tham dự một khóa

học về kháng sinh do Sở Y tế hoặc công ty Dược

Phú Thọ tổ chức, trong khoảng thời gian 2 - 3

ngày

2 Kết quả tìm hiểu nội dung kê đơn kháng

sinh

Tổng cộng số lượng bệnh án thu thập được là

1137, đáp ứng đủ yêu cầu đã đề ra Tính chung cả

BV có 48% bệnh nhân là nam và 52% là nữ

2.1 Tìm hiểu nội dung kê đơn kháng sinh

2.1.1 Số lượng bệnh nhân được sử dụng kháng

sinh

Tính chung toàn bệnh viện tỷ lệ bệnh nhân

được dùng KS là 79,0%

Tỷ lệ người bệnh được điều trị bằng KS ở nhiều

khoa rất cao (100% ở Khoa Tai Mũi Họng, Răng

Hàm Mặt và > 90% ở khoa Ngoại chấn thương,

Mắt, Nhi, Sản); nhưng ở 2 Khoa Y học Dân tộc và

Phục hồi chức năng mỗi khoa chỉ có 1 hoặc 2 bệnh

nhân được dùng KS

Tính chung toàn BV, số bệnh nhân được dùng

đơn độc 1 KS trong quá trình điều trị ít hơn (38,4%) số bệnh nhân được dùng ≥ 2 KS (40,6%)

2.2.2 Các loại kháng sinh thường được kê đơn

Có 437 lượt bệnh nhân được điều trị bằng 1 KS (chiếm 38,4%) Loại KS thường hay được sử dụng

đơn độc để điều trị là amoxicillin (41,2% ca dùng

1 KS); nơi sử dụng nhiều nhất là Khoa Sản (chiếm 64,4% ca dùng amoxicillin đơn độc) Các sản phẩm của nhóm bêta - lactam được sử dụng nhiều nhất, sau amoxicillin là ampicillin, tiếp theo là cefadin, cefotaxim và cefalexin

2.2.3 Các kháng sinh được sử dụng phối hợp cho đợt điều trị

Các kiểu tổ hợp KS rất đa dạng Phần lớn là kiểu phối hợp 2 KS (chiếm 77,7% ca phối hợp KS); một số ít phối hợp 3, thậm chí 4 KS ở những bệnh nhân rất nặng (ví dụ đa chấn thương do tai nạn giao thông)

Dạng tổ hợp hay gặp nhất là ampicillin + gentamicin (34,4% ca phối hợp 2 KS) Kiểu phối hợp thường gặp tiếp theo là lincomycin +

Trang 4

gentamicin (chiếm 14,0%) và hay được áp dụng ở

Khoa Ngoại chấn thương, Sản và Tai Mũi Họng

Đặc biệt có kiểu phối hợp ampicillin +

chloramphenicol (Chl), cefradin + Chl và

cefotaxim + Chl để điều trị các nhiễm trùng đường

hô hấp (viêm phổi, ỉa chảy & viêm họng …) hoặc

đường tiêu hoá (đau bụng giun, bán tắc ruột do

giun, ỉa chảy cấp …) ở Khoa truyền nhiễm, Nội,

Nhi, Hồi sức cấp cứu (chiếm 23,7%) Có 7,3%

chọn gentamicin để điều trị nhiễm khuẩn răng

miệng cũng là điểm đáng lưu ý

2.2.4 Tỷ lệ chi phí cho kháng sinh

Chúng tôi đã sử dụng chỉ số: Tỷ lệ tiền KS/tiền

thuốc của bệnh nhân để xem xét mức độ chi phí

cho KS

Tỷ lệ tiền KS/ tiền thuốc toàn BV là 40,1%; cao

nhất ở Khoa Ngoại chấn thương 73,6% và Khoa

Nhi 70,8% Khoa Sản có giá trị trung bình cả tiền

KS và tiền thuốc thấp nhất BV (23426 đ/ 58865 đ)

2.2.5 Một số chi tiết khác

Các KS được kê cho dùng đường uống hầu hết

không có chỉ dẫn đầy đủ việc dùng thuốc trong

ngày; ví dụ: amoxicillin 0,25g x 8 viên

Các KS được chỉ định dùng đường tiêm bắp

hoặc truyền tĩnh mạch đều được thử test (lẩy da),

đó là ampicillin, chloramphenicol, cefradin,

cefotaxim, gentamicin, lincomycin, metronidazol,

penicillin; tuy Bộ Y tế đã có thông tư qui định chỉ

penicillin và streptomycin là cần phải thử test Thời

điểm dùng thuốc tiêm được hướng dẫn cụ thể hơn

thuốc dùng đường uống, nhất là truyền tĩnh mạch

(ví dụ 9h &15h) nhưng hiếm có chỉ dẫn chi tiết tốc

độ truyền, ví dụ XXX giọt/phút; một số ít KS tiêm

bắp cũng được chỉ dẫn rõ (ví dụ 9h &15h); tuy vậy

rất nhiều hướng dẫn còn sơ sài, ví dụ: ampicillin 1g

x 2 lọ, s - c

iv bàn luận

1 Kết quả điều tra kiến thức

Phần lớn đạt mức điểm trung bình và yếu; điểm

trung bình chung của BV là 20,9 (50% số điểm tối

đa là 25) Nếu xem xét phân bố điểm test trung

bình theo các khối thì: khối Ngoại Sản và Nội Nhi

là 2 khối có nhiều bệnh nhân hơn, sử dụng kháng sinh cũng nhiều hơn, song điểm trung bình đạt

được ở test kiến thức của các BS ở 2 khối này thấp hơn hai khối khác

Những câu hỏi được trả lời “không biết” nhiều (

> 10%) chứng tỏ: một số kiến thức cơ bản (ví dụ R

- plasmid), có thể chưa được học do tốt nghiệp đã lâu hoặc không còn nhớ; những thông tin cập nhật

về các dẫn xuất mới của KS (có thể không còn là mới ở các thành phố lớn) cùng phương thức sử dụng chưa được các BS BV tỉnh Phú Thọ biết đến,

ví dụ acid nalidixic, Augmentin …

Có một điều đặc biệt là: khi phối hợp 2 câu hỏi

về metronidazol: câu số 7 (lựa chọn) - đúng đáp

án nhiều nhất (80,3%), thì ngược lại câu số 42 (phân biệt đúng/sai) lại sai đáp án nhiều nhất (84,5%, xem phần trên) Điều này chứng tỏ: các

BS kê đơn theo kinh nghiệm lâm sàng hoặc thói quen, không quan tâm ngay cả đến phổ tác dụng của KS và cũng không cần tìm lý do vì sao kê KS này hoặc mục đích kê KS này để làm gì (diệt tác nhân gây bệnh nào)

Thêm vào đó là các BS quên nhiều kiến thức cơ bản và không được cập nhật thông tin, nhất là tình hình vi khuẩn kháng KS, cơ chế tác dụng, phổ tác dụng của các sản phẩm KS mới hoặc những KS chưa quen sử dụng

88,6% BS và DS có thâm niên ≥10 năm mà chỉ

có 11.4% đã được tham dự một khóa học về KS trong khoảng thời gian 2 - 3 ngày Nếu chưa có

điều kiện tự học và tinh thần tự học tập vươn lên chưa được khích lệ thì đây là lí do khách quan dẫn

đến: các BS đã quên nhiều kiến thức cơ bản và không được cập nhật thông tin

Điều này cho thấy, những kiến thức cập nhật về

KS và sự đề kháng KS của vi khuẩn cần phải được

bổ sung kịp thời cho các BS tuyến tỉnh

Trang 5

2 Kết quả tìm hiểu nội dung kê đơn kháng

sinh

2.1 Kê đơn kháng sinh

Tỷ lệ bệnh nhân được dùng KS là 79,0%; nhưng

mỗi Khoa tiếp nhận và điều trị những loại bệnh

khác nhau; mức độ bệnh tật nặng nhẹ khác nhau

nên tần suất kê đơn KS khác nhau; thói quen lựa

chọn KS ở mỗi Khoa cũng không giống nhau

Phần lớn các Khoa sử dụng nhiều KS sản xuất

trong nước do sẵn có tại Khoa Dược BV; đây chính

là kết quả thực hiện chiến lược sử dụng KS của Bộ

Y tế thông qua Hội đồng Thuốc & Điều trị BV

2.2 Phối hợp kháng sinh

Các kiểu tổ hợp KS rất đa dạng Chủ yếu là

phối hợp 2 KS; nhưng đáng chú ý về kiểu tổ hợp

KS là kiểu phối hợp ampicillin + chloramphenicol

(Chl), cefradin + Chl và cefotaxim + Chl (chiếm

23,7%) để điều trị nhiều loại nhiễm trùng, bao

gồm cả nhiễm trùng đường hô hấp và đường tiêu

hoá Đây là kiểu phối hợp chưa hợp lý, vì phối hợp

1 KS diệt khuẩn (đang nhân lên là beta - lactam)

với 1 KS kìm khuẩn là Chl, phần lớn sẽ cho kết quả

đối kháng; hiệu quả diệt khuẩn không tăng lên mà

ngược lại có thể còn thấp hơn 1 KS riêng rẽ 7,3%

chọn gentamicin để điều trị ở khoa Răng Hàm Mặt

cũng là chưa thích hợp [1, 2, 4]; vì gây nhiễm

trùng răng miệng phần lớn là VK kỵ khí mà

gentamicin (và các aminoglycosid nói chung)

không có tác dụng trên những VK này

Theo chúng tôi, lý do cho nhiều trường hợp KS

được kê theo kinh nghiệm là không nắm vững cơ

sở khoa học, không xem xét kỹ về căn nguyên gây

nhiễm trùng và phổ tác dụng của KS; cùng với

quan điểm “điều trị bao vây” là chính, KS bị lạm

dụng và việc sử dụng KS không đúng mục đích sẽ

dẫn đến nguy cơ gia tăng VK kháng KS hoặc KS

các thế hệ mới nhanh giảm hiệu quả điều trị

2.3 Tỷ lệ chi phí cho kháng sinh

Tỷ lệ tiền KS/ tiền thuốc ở BV tỉnh Phú Thọ là

40,1%, tương tự nhiều BV cấp tỉnh trong cả nước;

tuy vậy những con số thu được từ 1137 bệnh án

chưa phản ánh chính xác tỷ lệ thật trong thực tế

Lý do: Một số bệnh nhân phải sử dụng KS (có y lệnh trong bệnh án) nhưng đã tự mua thuốc nên tiền chi cho KS không được thể hiện trong phiếu thu; số liệu điều tra được thu thập dựa trên phiếu thu tại Phòng Tài vụ của BV

Tỷ lệ tiền KS/ tiền thuốc ở Khoa Ngoại chấn thương và Nhi cao hơn các Khoa khác vì sử dụng nhiều cephalosporin thế hệ I và III - sản phẩm nhập ngoại Khoa Sản có giá trị trung bình cả tiền

KS và tiền thuốc thấp nhất BV vì hầu hết dùng thuốc sản xuất trong nước (amoxicillin, gentamicin, lincomycin) và nhiều bệnh án “đẻ thường” Tuy vậy theo chúng tôi, nếu các sản phụ

có sức khoẻ tốt và BV thực hiện tốt các biện pháp

vệ sinh chống nhiễm khuẩn thì không cần dùng KS trị liệu cho các ca đẻ thường

Phối hợp cả hai kết quả điều tra về kiến thức và

điều tra kê đơn KS qua bệnh án chúng tôi nhận thấy điều bức xúc là: Cần phải bổ sung ngay những kiến thức cơ bản về KS, VK gây bệnh, phối hợp KS cho các BS kê đơn nhằm hạn chế sử dụng và sử dụng KS hợp lý, góp phần ngăn ngừa sự gia tăng

VK kháng KS

Những buổi trao đổi, thảo luận (ví dụ bình bệnh

án) thường xuyên giữa các đồng nghiệp sẽ giúp mỗi người ôn luyện những kiến thức cần thiết nhằm để sử dụng KS hợp lý

Chúng tôi cho rằng: Biện pháp can thiệp bằng đào tạo giúp các BS nâng cao hiểu biết (K = Knowledge);

có kiến thức mới tiến tới có quan điểm, thái độ đúng (A = Attitude); khi có thái độ đúng, kết hợp với các biện pháp hành chính thích hợp sẽ có thể thay đổi

được thói quen cũ (chưa đúng) để hình thành thói quen mới (P = Practise) nhằm sử dụng KS hợp lý

Đây chính là phương pháp đào tạo liên tục - KAP nhằm ngày càng nâng cao chất lượng công việc, trong đó có chất lượng điều trị

Hiệu quả đào tạo (kiến thức) có thể được đánh giá bằng chính bộ test kiến thức đã sử dụng trong nghiên cứu này

Đào tạo lại về sử dụng KS hợp lý cho BS và DS tuyến cơ sở không những đáp ứng đúng nhu cầu

Trang 6

thực tế và nguyện vọng của các BS và DS mà còn

thực hiện đúng chỉ thị 06 - CT/TƯ ngày 22/1/02

của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc củng cố

và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở

v Kết luận

71 BS và DS của BV tỉnh Phú Thọ (80% cán bộ

đại học) đã tham gia test kiến thức Điểm trung

bình chung là 20,9 (tổng điểm tối đa là 50)

Tất cả các BS và DS đều có nhu cầu và nguyện

vọng được đào tạo lại và cập nhật thông tin về sử

dụng KS hợp lý

Điều tra 1137 bệnh án của 13 Khoa cho thấy:

Tính chung có 79% bệnh nhân được điều trị bằng

KS Tất cả các KS dùng đường tiêm đều được thử test

(lẩy da) Có 38,4% bệnh nhân được điều trị bằng 1

KS; 40,6% được điều trị bằng ≥ 2 KS Kiểu phối hợp

KS rất đa dạng, phổ biến nhất là ampicillin +

gentamicin (34,4%) Ngoài ra còn gặp kiểu phối hợp

chưa hợp lý là betalactam + chloramphenicol

(23,7%); 7,3% chọn gentamicin để điều trị nhiễm

trùng răng miệng cũng là chưa thích hợp

Tỷ lệ tiền KS/ tiền thuốc toàn BV là 40,1%

Đây là một phần kết quả nghiên cứu của đề tài

NCKH cấp Bộ (kinh phí SNKH 100%), thực hiện

tại bệnh viện tỉnh Phú Thọ từ tháng 5/2002 đến

12/2003; cơ quan chủ trì là trường Đại học Y Hà Nội; đã nghiệm thu cấp Bộ tháng 9/2004

tài liệu tham khảo

1 Bộ Y tế Ban Tư vấn sử dụng kháng sinh (1999) Hướng dẫn điều trị bằng kháng sinh

một số bệnh nhiễm khuẩn thường gặp Chủ biên Phạm Khuê Nhà xuất bản Y học, tr 9 - 34, 75 -

78, 101 - 112, 185 - 203, 397 - 415

Committee Antibiotic Guidelines Sub -

Australia, 1996, pp 1 - 6, 66 - 81, 124 - 133, 167 -

174, 238 - 242

Containment of Antimicrobial Resistance WHO/CDS/CSR/DRS/2001.2b

4 WHO (2001); Model Prescribing

Information Drug used in Bacterial Infection Geneva, 2001, pp 3 - 13, 14 - 31, 35 - 42, 43 - 46,

49 - 51, 86 - 91

Summary

studies on antibiotic usage in Phu Tho provincial hospital

1 The average score of 50 - questions test obtained by the physicians and pharmacists was relatively low 20.9 (maximum score 50); they forgot much of basic knowledge and have not been provided updated legal information of new antibiotic products together with their guide, of pathogen germs, of antibiotic spectrum and rational drug use

2 79.0% inpatients were treated with antibiotics; the prescribing was mainly empiric, without further consideration of pathogen microorganism and antibiotic spectrum The combination of a beta - lactam and chloramphenicol (23,7%) for treatment of respiratory tract and gastrointestinal tract infections was irrational

Ngày đăng: 25/03/2014, 05:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w