1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình ốm và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của trẻ em dưới 5 tuổi ở 28 xã pot

8 818 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 228,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1457 bà mẹ có con dưới 5 tuổi được phỏng vấn về các trường hợp ốm trong 2 tuần trước ngày điều tra một năm tiến hành điều tra 4 đợt theo mùa và tình hình sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh..

Trang 1

Tình hình ốm và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh

của trẻ em dưới 5 tuổi ở 28 xã

Nguyễn Thị Luyến, Trương Việt Dũng

Đại học Y Hà Nội

Nghiên cứu được tiến hành tại 28 xã trên 7 vùng sinh thái 1457 bà mẹ có con dưới 5 tuổi được phỏng vấn về các trường hợp ốm trong 2 tuần trước ngày điều tra (một năm tiến hành điều tra 4 đợt theo mùa) và tình hình sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh Các tác giả

đi đến kết luận sau:

1.Các triệu chứng / bệnh thường gặp ở trẻ em ốm là nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT), bệnh nhiễm trùng mắt, tiêu chảy, bệnh ngoài da, đau bụng không tiêu chảy… nói chung là các bệnh nhiễm khuẩn liên quan đến điều kiện vệ sinh mụi trường (VSMT) kém Tần suất mắc bệnh ở trẻ em là 2 lượt / năm

2 Chỉ có 56% các trường hợp trẻ ốm được khám và điều trị tại các cơ sở y tế, một nửa trong số này đến các cơ sở y tế tư, còn lại là đến các cơ sở y tế công cộng: trạm y tế xã, y

tế thôn… Cách tự mua thuốc về chữa vẫn còn phổ biến

3 Các lý do có liên quan đến quyết định chọn nơi khám chữa bệnh gồm: sự tiện lợi (gần nhà), quen biết, trình độ chuyên môn tốt, thái độ tốt và giá cả

4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc không sử dụng hệ thống y tế công cộng:

Về phía người cung cấp dịch vụ y tế: thiếu thuốc, thiếu lòng tin (trạm y tế), thiếu giường,

đường xa (bệnh viện)…

Về phía người sử dụng: nghề nghiệp, văn hoá của các bà mẹ, những bà mẹ làm nghề nông nghiệp và có văn hoá từ cấp II trở lên có xu hướng đưa con đến các cơ sở y tế công cộng Các bà mẹ làm nghề phi nông nghiệp và văn hoá thấp từ cấp I trở xuống có xu hướng sử dụng dịch vụ y tế tư nhân để chữa bệnh cho trẻ

I Đặt Vấn Đề

Trong những năm gần đây, mặc dù các

chương trình chăm sóc sức khoẻ trẻ em đã

được chú trọng, tỷ lệ chết trẻ em vẫn còn

cao [1]: 46 /1000 năm 1992 – 1993, chết

dưới 5 tuổi là 80 (so với 1000 trẻ sống)

Theo một thống kê cho thấy [2]: nguyên

nhân chết của 11,6 triệu trẻ em dưới 5 tuổi

ở các nước đang phát triển là: suy dinh

dưỡng 54%, nhiễm khuấn hô hấp cấp tính

là 19%, chu sinh 18%, sởi 7%, sốt rét 5%,

còn lại là các bệnh khác Tại Việt Nam:

theo niên giám thống kê năm 1999 [2] các bệnh có tỷ lệ mắc và chết cao nhất: viêm phổi, ỉa chảy do nhiễm trùng, suy dinh dưỡng … ước tính có khoảng 33% chết do NKHHCT và tiêu chảy là nguyên nhân gây

tử vong gần một nửa trong tổng số chết trẻ

em Việc tìm hiểu tình hình ốm đau ở trẻ

em và cách xử trí khi ốm đau là cần thiết Vì vậy đề tài thực hiện với mục tiêu sau:

1 Tìm hiểu tình hình ốm và sử dụng dịch vụ y tế của trẻ em

Trang 2

2 Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến

việc sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của

cơ sở y tế nhà nước

ii Đối tượng và phương pháp

nghiên cứu

1 Đối tượng nghiên cứu:

10 tỉnh (Bắc Cạn, Quảng Ninh, Phú

Thọ, Ninh Bình, Quảng Trị, Khánh Hoà,

Đắc Lắc, Tây Ninh, Đồng Tháp, Cần Thơ)

đại diện cho các vùng sinh thái được chọn

một cách có chủ đích Mỗi tỉnh chọn ngẫu

nhiên một huyện Mỗi vùng có 4 xã được

nghiên cứu từ 10 huyện này

Mỗi xã chọn ngẫu nhiên có hệ thống

200 hộ gia đình Tổng số có 1457 hộ có trẻ

dưới 5 tuổi Các bà mẹ là đối tượng phỏng

vấn

2 Phương pháp nghiên cứu:

Tiến hành điều tra ngang: sử dụng bộ câu hỏi của đơn vị CSSKBĐ - Bộ Y tế để phỏng vấn trực tiếp bà mẹ về các trường hợp ốm trong 2 tuần trước ngày điều tra (một năm tiến hành điều tra 4 đợt theo mùa) và hình sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh

iii Kết quả

1 Tình hình ốm đau của trẻ em và nhân dân

Bảng 1: Tỷ lệ mắc các chứng, bệnh (trong 8 tuần)

Trẻ em dưới 5 tuổi

Cộng đồng Bệnh chứng bệnh

1 NKHH(ARI) 117 36 98 38 215 37 1087 22,3

3 Bệnh ngoài da 16 5 23 9 39 7 516 10,6

4 Bệnh về mắt 41 13 27 11 68 12 898 18,5

7 Bệnh khác 117 35 53 30 170 32,5 1658 34,6

Số lượt mắc bệnh 272 56 216 44 488 100 4173

Các chứng bệnh mà trẻ em hay mắc là: NKHHCT, bệnh nhiễm trùng mắt, bệnh ngoài

da, tiêu chảy và không khác biệt giữa nam và nữ (p >0,05)

Ước tính số lượt ốm trung bình một trẻ mắc trong năm: 3172: 1739 = 1,8 (2 lượt)

Số lượt người ốm trong cộng đồng (gồm cả người lớn và trẻ em): 4173 ì 52: 8 = 27125

Ước tính số lượt ốm trung bình một người dân trong năm: 27125: 27125 = 1 lượt

Trang 3

2 Chăm sóc trẻ ốm theo tình trạng bệnh

Bảng 2: Sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh và tình trạng bệnh

Trẻ em dưới 5 tuổi Nhẹ

(<6 ngày)

Vừa (6-9 ngày)

Nặng (> 9 ngày)

Chung

Cộng đồng Bệnh/chứng bệnh

n % n % n % n % n % Không chữa

Tự mua thuốc chữa

Thuốc dân gian, lá cây

Đến YTTB

Trạm y tế

Lang y

Y tế nhân

Ngoại trú BV

Nội trú BV

Khác

9

125

6

4

66

2

91

8

7

3

3

39

2

1

21

1

28

2

2

1

2

42

3

3

17

2

20

3

10

11

2

40

3

3

17

2

20

3

10

1

1

28

3

3

7

4

29

11

15

3

1

27

3

3

7

4

28

11

14

3

12

195

12

10

91

8

141

22

32

7

2

37

2

2

17

2

27

4

6

2

115

1733

168

81

606

115

1133

346

288

69

3

37

4

2

13

3

24

7

6

1

Khi trẻ ốm 37% các trường hợp tự mua

thuốc về chữa, 56% đến với các cơ sở y tế

trong đó 27% đến y tế tư nhân, 17% đến

trạm y tế xã, 10% đến điều trị tại bệnh

viện, 2% đến y tế thôn Số ít các trường

hợp điều trị bằng thuốc dân gian và tại các

lang y, 2% không điều trị Cách lựa chọn

nơi khám chữa bệnh cho trẻ em nói riêng

cũng tương tự cho cả cộng đồng

- Theo tình trạng bệnh:

Khi trẻ ốm nặng có 27% tự mua thuốc

về chữa, 63% các trường hợp đến các cơ

sở y tế trong đó 28% đến y tế tư nhân, 7%

đến trạm y tế thôn Như vậy khi ốm nặng

các bà mẹ đưa con đến các cơ sở y tế

nhiều hơn, nhất là đến bệnh viện, số các

trường hợp đến trạm y tế giảm hơn

- Đối với các cơ sở y tế:

Đến trạm y tế: 21% khi bệnh nhẹ, 17%

khi bệnh vừa và 7% khi bệnh nặng

Đến bệnh viện: 4% khi bệnh nhẹ, 13%

khi bệnh vừa và bệnh nhẹ

Như vậy bệnh càng nặng, đến bệnh viện càng nhiều và càng nhẹ đến trạm y tế càng tăng Có thể cho rằng chất lượng dịch vụ quyết định sự lựa chọn và chất lượng KCB ở trạm y tế chưa đáp ứng nhu cầu người dân Đối với y tế tư nhân không theo quy luật về chất lượng mà bị các yếu

tố khác chi phối

3 Chi phí trực tiếp trung bình cho một

đợt ốm và khả năng chi trả của một hộ gia đình

Trang 4

Bảng 3: Khả năng chi trả cho KCB

Trả ngay Vay Bán đồ Miễn giảm Cơ sở điều trị Chi phí TB ± SE

Tự mua thuốc chữa

Thuốc dân gian, lá cây

Đến YTTB

Trạm y tế xã

Lang y

Y tế tư nhân

18.672± 1.715 12.000± 6.932 23.888±10.808 13.234±1.387 44.250±22.694 47.014±6.459

184

12

8

89

8 137

95,8

100 88,9

98

100 98,6

5

1

2

2,6

1,0

1,4

1 0,5 2

1

1

1,0 11,1

1

Ngoại trú bệnh viện

Nội trú bệnh viện

76.886±16.518 263.800±84.068

20

21

91 67,7

1

1

4,5 3,2

1

1

4,5 3,2 8 25,8

Chi phí trung bình cho một đợt ốm của các trường hợp điều trị tại bệnh viện là cao nhất, sau đó là y tế tư nhân Điều trị tại trạm y tế xã là rẻ nhất 95% các trường hợp trả ngay cho

điều trị, 2,6% phải đi vay hoặc bán đồ Chỉ có 25,8% số trẻ dưới 5 tuổi phải nằm điều trị nội trú tại bệnh viện được miễn giảm theo chế độ của Nhà nước

4 Các yếu tố liên quan đến sự lựa chọn nơi KCB của hộ gia đình

Bảng 4: Lý do lựa chọn cách xử trí khi bị ốm:

Tự mua thuốc về chữa Đến trạm y tế xã Đến y tế tư nhân Trẻ em

%

Cộng

đồng %

Trẻ em

%

Cộng

đồng %

Trẻ em

%

Cộng

đồng %

Tự chữa được 38 39

Các yếu tố có tính chất quyết định sự lựa chọn nơi KCB là quen biết, tiện lợi (gần nhà)

và trình độ chuyên môn tốt

Trang 5

Bảng 5: Lý do làm hộ gia đình không KCB tại cơ sở y tế công cộng (trạm y tế và BV)

Trẻ

em

Cộng

đồng

Trẻ

em

Cộng

đồng

3 Không tin tưởng 7 7 3 Không đủ chi phí 3 4

4.Thiếu thuốc 8 13 4 Không có người chăm 1 2

5 Làm việc không

thường xuyên

6 Lý do khác 15 15 6 Thiếu giường đ/trị 12

7 Chữa ở y tế tư gần 3 13

8 Chữa ở xã tiện hơn 3 3

Các lý do làm các bà mẹ đã không sử dụng dịch vụ y tế công cộng gồm:

- Trạm y tế: thiếu thuốc, thiếu lòng tin

- Bệnh viện: thiếu giường điều trị, đường xa

5 Các yếu tố liên quan đến việc sử dụng các cơ sở y tế công cộng

Bảng 6: Mối liên quan nghề nghiệp và sử dụng y tế công cộng

Cơ sở y tế

Y tế công cộng Y tế tư nhân

Tổng số

Nông nghiệp

Phi nông nghiệp

91 (42,3%)

43 (58,9%)

215

73

OR = 1,95 (1,1 < OR < 3,45); p < 0,05

Những bà mẹ làm nghề nông có xu hướng đưa con đến các cơ sở y tế công và các bà

mẹ làm nghề phi nông nghiệp thường đến cơ sở y tế tư nhân

Bảng 7: Mối liên quan giữa mức thu nhập và sử dụng y tế công

Y tế công cộng Y tế tư nhân

Từ TB trở suống

Trên TB

49 (36,6%)

52 (33,8%)

85 (63,4%)

102 (66,2%)

134

154

OR = 1,1 (0,68 < OR < 1,89); p < 0,05

Trang 6

Không có sự khác biệt về sử dụng các dịch vụ y tế giữa các bà mẹ có thu nhập khác

nhau

Bảng 8: Văn hoá mẹ và sử dụng dịch vụ y tế công

Cơ sở y tế Nghề nghiệp

Y tế công cộng Y tế tư nhân

Tổng số

OR = 0,5 (0,31 < OR < 0,85); p < 0,01

Các bà mẹ có văn hoá không thấp hay

đến cơ sở y tế công hơn các bà mẹ văn

hoá thấp

iv Bàn Luận

Việc đánh giá tình hình bệnh tật của

cộng đồng cần phải thông qua khám bệnh

theo mùa Điều này gần như không thực

hiện được vì chi phí khá tốn kém Để khắc

phục điều này chúng tôi áp dụng các

phương pháp thông thường ở nước ngoài là

phỏng vấn hộ gia đình về tình hình ốm đau

trong 2 tuần trước điều tra, 4 đợt trong năm

để có số liệu đại diện hơn cho cả năm so

với cách điều tra một lần Cách điều tra

này không đưa ra số liệu về mô hình bệnh

tật như cách khám lâm sàng, nhưng cũng

đưa ra một cách khái quát về tình hình ốm

và nhu cầu được KCB của cộng đồng, đặc

biệt là thu được thông tin về việc sử dụng

cũng như cách ứng xử với các dịch vụ

KCB

Kết quả ở bảng 1 cho thấy: ở trẻ em

mắc NKHHCT là cao nhất chiếm 37%

trong tổng số các bệnh / chứng bệnh, sau

đó là các bệnh nhiễm trùng về mắt (9,2%),

bệnh tiêu chảy (7%) và các bệnh ngoài da

Kết quả này cũng tương tự như tỷ lệ mắc

bệnh ở cộng đồng (cả người lớn và trẻ em)

và là đặc trưng cho tình hình bệnh tật ở

các nước kém phát triển: bệnh nhiễm trùng

và các bệnh có liên quan đến điều kiện vệ sinh kém…

Ước tính mỗi năm một trẻ dưới 5 tuổi ốm

2 lần, cao hơn so với số liệu chung của quần thể nghiên cứu: 1 lần / năm

Khi trẻ ốm, 37% các trường hợp tự mua thuốc về chữa, 56% đến với các cơ sở y tế, trong đó 27% đến y tế tư nhân, 17% đến trạm y tế xã, 10% đến điều trị tại bệnh viện, 2% đến y tế thôn Số ít các trường hợp điều trị bằng thuốc dân gian và dùng y học cổ truyền, 2% không điều trị Cách lựa chọn nơi khám chữa bệnh cho trẻ em nói riêng cũng tương tự như trong quần thể nghiên cứu chung

Khi trẻ ốm nặng kéo dài trên 9 ngày,vẫn

có 27% tự mua thuốc về chữa, 28% đến y

tế tư nhân, trong khi đó chỉ có 7% đến trạm

y tế, 25% đã đến điều trị tại bệnh viện, 3%

đến y tế thôn Như vậy khi ốm nặng các bà

mẹ cần đến sự hỗ trợ của thầy thuốc nhiều hơn, nhất là đến y tế tư và bệnh viện, số các trường hợp ốm nặng đến trạm y tế lại rất ít Có thể thấy mức độ đáp ứng nhu cầu KCB cho trẻ em của TYTX còn khá hạn chế so với y tế tư nhân

Kết quả này cũng có nhiều điểm phù hợp với nghiên cứu sử dụng các dịch vụ y

tế và các yếu tố ảnh hưởng của nhiều tác giả khác [4, 5, 7] Cho dù chi phí trực tiếp trung bình cho một đợt ốm khi các bà mẹ

Trang 7

mang con đến trạm y tế là thấp nhất, sau

đó là cách tự mua thuốc về chữa Điều trị

tại bệnh viện chi trả là cao nhất, sau đó là

đến y tế tư nhân…

Về khả năng chi trả cho điều trị, 95%

các trường hợp có khả năng trả ngay, 2%

phải đi vay; 0,4% phải bán đồ đạc để lấy

tiền điều trị và 2,5% trường hợp được miễn

giảm Điều này cho thấy chính sách miễn

phí KCB cho trẻ em chưa thực hiện đầy đủ

Khi đến các cơ sở y tế tư nhân mức chi

phí KCB trung bình tại đây lại cao, chỉ thấp

hơn điều trị tại bệnh viện, nơi mà ngoài

tiền thuốc người dân phải chi trả cho một

số dịch vụ khác: xét nghiệm, giường…Điều

này có thể hiểu chi phí điều trị chưa phải là

yếu tố quyết định để người dân lựa chọn

nơi KCB

Tìm hiểu về lý do lựa chọn nơi khám

chữa bệnh, các lý do lựa chọn nơi KCB cho

trẻ em và cho cả cộng đồng tương tự nhau

và các lý do được kể ra là: sự tiện lợi (gần

nhà), quen biết, chuyên môn, thái độ tốt

Điều này cũng phù hợp với kết quả nghiên

cứu trước đây của Nguyễn Đức An,

O.Kayode, Trương Việt Dũng và cộng sự

(1995) [5]

Tìm hiểu về sử dụng dịch vụ y tế theo

tình trạng bệnh có thể thấy chất lượng dịch

vụ quyết định sự lựa chọn một khi bệnh

khá nặng đến bệnh viện nhiều hơn, đến

trạm y tế ít hơn và ngược lại Đối với những

trường hợp đến y tế tư và tự mua thuốc

điều trị không theo quy luật này, tỷ lệ đến y

tế tư và tự mua thuốc không khác nhau đối

với trường hợp ốm nặng và ốm nhẹ

Các lý do khiến các bà mẹ không đem

con đến khám bệnh tại trạm y tế và bệnh

viện là do tình trạng bệnh (nhẹ), đường xa

Riêng ở trạm y tế các lý do được kể đến

còn là: thiếu thuốc, chất lượng điều trị

thấp Việc không khám bệnh và tự mua thuốc về chữa cho trẻ em chứa đựng nguy cơ sử dụng thuốc không an toàn, không hiệu quả Cần có chương trình giáo dục cho bà mẹ cách chữa bệnh cho trẻ tại nhà

v Kết Luận

- Các triệu chứng / bệnh thường gặp ở trẻ em ốm là: NKHHCT, bệnh nhiễm trùng mắt, tiêu chảy, bệnh ngoài da, đau bụng không tiêu chảy… nói chung là các bệnh nhiễm khuẩn liên quan đến điều kiện VSMT kém Tần suất mắc bệnh ở trẻ em là

2 lượt / năm

- Chỉ có 56% các trường hợp trẻ ốm

được khám và điều trị tại các cơ sở y tế, một nửa trong số này là đến các cơ sở y tế tư, còn lại là đến các cơ sở y tế công cộng: trạm y tế xã, bệnh viện, y tế thôn….cách

xử lý mua thuốc về chữa vẫn còn phổ biến

- Các lý do liên quan đến quyết định việc chọn nơi khám chữa bệnh gồm: sự tiện lợi (gần nhà), quen biết, trình độ chuyên môn tốt, thái độ phục vụ, giá cả Các yếu tố ảnh hưởng đến việc không sử dụng y tế công cộng thuộc về hai phía:

- Về phía người cung cấp dịch vụ y tế: thiếu thuốc, thiếu lòng tin (trạm y tế), thiếu giường bệnh, đường xa (bệnh viện)…

- Về phía người sử dụng: nghề nghiệp, văn hoá của các bà mẹ, những bà mẹ làm nghề nông nghiệp và có văn hoá từ cấp II trở lên có xu hướng đưa con tới các cơ sở y

tế công cộng Các bà mẹ làm nghề phi nông nghiệp (chủ yếu) và văn hoá từ cấp I trở xuống có xu hướng sử dụng các dịch vụ

y tế tư nhân

Tài Liệu Tham Khảo

1 F Favereau & Associes: Health Care Hand book Vol 6.1.Vietnam 1995 –

1996 p.12-33

Trang 8

2 Bộ Y tế, Niên giám thống kê các năm 1999, 2000, 2001

3 Bộ Y tế (1996): Chương trình phòng chốngviêm phổi trẻ em Tài liệu huấn luyện dùng cho tuyến tỉnh, huỵện Hà Nội,

4 Bùi Thanh Tâm: Mối quan hệ cung cầu về các dịch vụ y tế ở một số huyện đồng bằng trong thời kỳ phát triển kinh tế thị trường Tạp chí Hoạt động khoa học tháng 12/1994 Tr.27-34

5 UNICEF-BYT, Nguyễn Đức An O.Kayode, Trương Việt Dũng và cộng sự (1996): A study on factors infuencing Health services utlization by households Báo cáo kết quả nghiên cứu của Dự án CSSKBĐ, BYT; Hà Nội

6 Vụ Tổ chức cán bộ – Bộ Y Tế: Báo cáo điều tra 20 xã ở huyện Tứ Lộc, năm 1999

7 Trương Việt Dũng, Nguyễn Thanh Tâm, Gill Tipping & M Segall (1995): Chất lượng dịch vụ y tế công và quyết định của gia đình trong y tế tại 4 xã nông thôn tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam Nhà xuất bản Y học Hà Nội, 1995

Summary

Health status and health services utilization of

children under 5 in 28 communes

The study was conducted at 28 communes sampled from 7 geographical areas 1457 children under five were monitored 4 times per year for 2 years The authors showed that:

1 The common disease/symtoms in children were as follows: Acute respiratory infections, eyes infections, diarrhoea, skin infections It seems to be related with poor environmental conditions The average episode of illness in children under 5 is estimated

2 times per year

2 Only 56% of cases used CHSs, Hospitals, VHWs Self medication is still common

3 The determinants for health service utilization are: Convenient, habit, skill of health workers, attitude of health workers, price

4 The barriers preventing utilization of public facilities are: Lacking of drugs, unbelief, lacking of beds, long distance and occupation, educational background of mothers Farmer and high educated mothers have tendentions of using public health services Whereas the non-farmer and low educated mothers more frequently used private health services

Ngày đăng: 25/03/2014, 05:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tỷ lệ mắc các chứng, bệnh (trong 8 tuần) - Tình hình ốm và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của trẻ em dưới 5 tuổi ở 28 xã pot
Bảng 1 Tỷ lệ mắc các chứng, bệnh (trong 8 tuần) (Trang 2)
Bảng 2: Sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh và tình trạng bệnh - Tình hình ốm và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của trẻ em dưới 5 tuổi ở 28 xã pot
Bảng 2 Sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh và tình trạng bệnh (Trang 3)
Bảng 3: Khả năng chi trả cho KCB - Tình hình ốm và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của trẻ em dưới 5 tuổi ở 28 xã pot
Bảng 3 Khả năng chi trả cho KCB (Trang 4)
Bảng 5: Lý do làm hộ gia đình không KCB tại cơ sở y tế công cộng (trạm y tế và BV) - Tình hình ốm và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của trẻ em dưới 5 tuổi ở 28 xã pot
Bảng 5 Lý do làm hộ gia đình không KCB tại cơ sở y tế công cộng (trạm y tế và BV) (Trang 5)
Bảng 8: Văn hoá mẹ và sử dụng dịch vụ y tế công - Tình hình ốm và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của trẻ em dưới 5 tuổi ở 28 xã pot
Bảng 8 Văn hoá mẹ và sử dụng dịch vụ y tế công (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w