1457 bà mẹ có con dưới 5 tuổi được phỏng vấn về các trường hợp ốm trong 2 tuần trước ngày điều tra một năm tiến hành điều tra 4 đợt theo mùa và tình hình sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh..
Trang 1Tình hình ốm và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh
của trẻ em dưới 5 tuổi ở 28 xã
Nguyễn Thị Luyến, Trương Việt Dũng
Đại học Y Hà Nội
Nghiên cứu được tiến hành tại 28 xã trên 7 vùng sinh thái 1457 bà mẹ có con dưới 5 tuổi được phỏng vấn về các trường hợp ốm trong 2 tuần trước ngày điều tra (một năm tiến hành điều tra 4 đợt theo mùa) và tình hình sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh Các tác giả
đi đến kết luận sau:
1.Các triệu chứng / bệnh thường gặp ở trẻ em ốm là nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT), bệnh nhiễm trùng mắt, tiêu chảy, bệnh ngoài da, đau bụng không tiêu chảy… nói chung là các bệnh nhiễm khuẩn liên quan đến điều kiện vệ sinh mụi trường (VSMT) kém Tần suất mắc bệnh ở trẻ em là 2 lượt / năm
2 Chỉ có 56% các trường hợp trẻ ốm được khám và điều trị tại các cơ sở y tế, một nửa trong số này đến các cơ sở y tế tư, còn lại là đến các cơ sở y tế công cộng: trạm y tế xã, y
tế thôn… Cách tự mua thuốc về chữa vẫn còn phổ biến
3 Các lý do có liên quan đến quyết định chọn nơi khám chữa bệnh gồm: sự tiện lợi (gần nhà), quen biết, trình độ chuyên môn tốt, thái độ tốt và giá cả
4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc không sử dụng hệ thống y tế công cộng:
Về phía người cung cấp dịch vụ y tế: thiếu thuốc, thiếu lòng tin (trạm y tế), thiếu giường,
đường xa (bệnh viện)…
Về phía người sử dụng: nghề nghiệp, văn hoá của các bà mẹ, những bà mẹ làm nghề nông nghiệp và có văn hoá từ cấp II trở lên có xu hướng đưa con đến các cơ sở y tế công cộng Các bà mẹ làm nghề phi nông nghiệp và văn hoá thấp từ cấp I trở xuống có xu hướng sử dụng dịch vụ y tế tư nhân để chữa bệnh cho trẻ
I Đặt Vấn Đề
Trong những năm gần đây, mặc dù các
chương trình chăm sóc sức khoẻ trẻ em đã
được chú trọng, tỷ lệ chết trẻ em vẫn còn
cao [1]: 46 /1000 năm 1992 – 1993, chết
dưới 5 tuổi là 80 (so với 1000 trẻ sống)
Theo một thống kê cho thấy [2]: nguyên
nhân chết của 11,6 triệu trẻ em dưới 5 tuổi
ở các nước đang phát triển là: suy dinh
dưỡng 54%, nhiễm khuấn hô hấp cấp tính
là 19%, chu sinh 18%, sởi 7%, sốt rét 5%,
còn lại là các bệnh khác Tại Việt Nam:
theo niên giám thống kê năm 1999 [2] các bệnh có tỷ lệ mắc và chết cao nhất: viêm phổi, ỉa chảy do nhiễm trùng, suy dinh dưỡng … ước tính có khoảng 33% chết do NKHHCT và tiêu chảy là nguyên nhân gây
tử vong gần một nửa trong tổng số chết trẻ
em Việc tìm hiểu tình hình ốm đau ở trẻ
em và cách xử trí khi ốm đau là cần thiết Vì vậy đề tài thực hiện với mục tiêu sau:
1 Tìm hiểu tình hình ốm và sử dụng dịch vụ y tế của trẻ em
Trang 22 Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến
việc sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của
cơ sở y tế nhà nước
ii Đối tượng và phương pháp
nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu:
10 tỉnh (Bắc Cạn, Quảng Ninh, Phú
Thọ, Ninh Bình, Quảng Trị, Khánh Hoà,
Đắc Lắc, Tây Ninh, Đồng Tháp, Cần Thơ)
đại diện cho các vùng sinh thái được chọn
một cách có chủ đích Mỗi tỉnh chọn ngẫu
nhiên một huyện Mỗi vùng có 4 xã được
nghiên cứu từ 10 huyện này
Mỗi xã chọn ngẫu nhiên có hệ thống
200 hộ gia đình Tổng số có 1457 hộ có trẻ
dưới 5 tuổi Các bà mẹ là đối tượng phỏng
vấn
2 Phương pháp nghiên cứu:
Tiến hành điều tra ngang: sử dụng bộ câu hỏi của đơn vị CSSKBĐ - Bộ Y tế để phỏng vấn trực tiếp bà mẹ về các trường hợp ốm trong 2 tuần trước ngày điều tra (một năm tiến hành điều tra 4 đợt theo mùa) và hình sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh
iii Kết quả
1 Tình hình ốm đau của trẻ em và nhân dân
Bảng 1: Tỷ lệ mắc các chứng, bệnh (trong 8 tuần)
Trẻ em dưới 5 tuổi
Cộng đồng Bệnh chứng bệnh
1 NKHH(ARI) 117 36 98 38 215 37 1087 22,3
3 Bệnh ngoài da 16 5 23 9 39 7 516 10,6
4 Bệnh về mắt 41 13 27 11 68 12 898 18,5
7 Bệnh khác 117 35 53 30 170 32,5 1658 34,6
Số lượt mắc bệnh 272 56 216 44 488 100 4173
Các chứng bệnh mà trẻ em hay mắc là: NKHHCT, bệnh nhiễm trùng mắt, bệnh ngoài
da, tiêu chảy và không khác biệt giữa nam và nữ (p >0,05)
Ước tính số lượt ốm trung bình một trẻ mắc trong năm: 3172: 1739 = 1,8 (2 lượt)
Số lượt người ốm trong cộng đồng (gồm cả người lớn và trẻ em): 4173 ì 52: 8 = 27125
Ước tính số lượt ốm trung bình một người dân trong năm: 27125: 27125 = 1 lượt
Trang 32 Chăm sóc trẻ ốm theo tình trạng bệnh
Bảng 2: Sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh và tình trạng bệnh
Trẻ em dưới 5 tuổi Nhẹ
(<6 ngày)
Vừa (6-9 ngày)
Nặng (> 9 ngày)
Chung
Cộng đồng Bệnh/chứng bệnh
n % n % n % n % n % Không chữa
Tự mua thuốc chữa
Thuốc dân gian, lá cây
Đến YTTB
Trạm y tế
Lang y
Y tế nhân
Ngoại trú BV
Nội trú BV
Khác
9
125
6
4
66
2
91
8
7
3
3
39
2
1
21
1
28
2
2
1
2
42
3
3
17
2
20
3
10
11
2
40
3
3
17
2
20
3
10
1
1
28
3
3
7
4
29
11
15
3
1
27
3
3
7
4
28
11
14
3
12
195
12
10
91
8
141
22
32
7
2
37
2
2
17
2
27
4
6
2
115
1733
168
81
606
115
1133
346
288
69
3
37
4
2
13
3
24
7
6
1
Khi trẻ ốm 37% các trường hợp tự mua
thuốc về chữa, 56% đến với các cơ sở y tế
trong đó 27% đến y tế tư nhân, 17% đến
trạm y tế xã, 10% đến điều trị tại bệnh
viện, 2% đến y tế thôn Số ít các trường
hợp điều trị bằng thuốc dân gian và tại các
lang y, 2% không điều trị Cách lựa chọn
nơi khám chữa bệnh cho trẻ em nói riêng
cũng tương tự cho cả cộng đồng
- Theo tình trạng bệnh:
Khi trẻ ốm nặng có 27% tự mua thuốc
về chữa, 63% các trường hợp đến các cơ
sở y tế trong đó 28% đến y tế tư nhân, 7%
đến trạm y tế thôn Như vậy khi ốm nặng
các bà mẹ đưa con đến các cơ sở y tế
nhiều hơn, nhất là đến bệnh viện, số các
trường hợp đến trạm y tế giảm hơn
- Đối với các cơ sở y tế:
Đến trạm y tế: 21% khi bệnh nhẹ, 17%
khi bệnh vừa và 7% khi bệnh nặng
Đến bệnh viện: 4% khi bệnh nhẹ, 13%
khi bệnh vừa và bệnh nhẹ
Như vậy bệnh càng nặng, đến bệnh viện càng nhiều và càng nhẹ đến trạm y tế càng tăng Có thể cho rằng chất lượng dịch vụ quyết định sự lựa chọn và chất lượng KCB ở trạm y tế chưa đáp ứng nhu cầu người dân Đối với y tế tư nhân không theo quy luật về chất lượng mà bị các yếu
tố khác chi phối
3 Chi phí trực tiếp trung bình cho một
đợt ốm và khả năng chi trả của một hộ gia đình
Trang 4Bảng 3: Khả năng chi trả cho KCB
Trả ngay Vay Bán đồ Miễn giảm Cơ sở điều trị Chi phí TB ± SE
Tự mua thuốc chữa
Thuốc dân gian, lá cây
Đến YTTB
Trạm y tế xã
Lang y
Y tế tư nhân
18.672± 1.715 12.000± 6.932 23.888±10.808 13.234±1.387 44.250±22.694 47.014±6.459
184
12
8
89
8 137
95,8
100 88,9
98
100 98,6
5
1
2
2,6
1,0
1,4
1 0,5 2
1
1
1,0 11,1
1
Ngoại trú bệnh viện
Nội trú bệnh viện
76.886±16.518 263.800±84.068
20
21
91 67,7
1
1
4,5 3,2
1
1
4,5 3,2 8 25,8
Chi phí trung bình cho một đợt ốm của các trường hợp điều trị tại bệnh viện là cao nhất, sau đó là y tế tư nhân Điều trị tại trạm y tế xã là rẻ nhất 95% các trường hợp trả ngay cho
điều trị, 2,6% phải đi vay hoặc bán đồ Chỉ có 25,8% số trẻ dưới 5 tuổi phải nằm điều trị nội trú tại bệnh viện được miễn giảm theo chế độ của Nhà nước
4 Các yếu tố liên quan đến sự lựa chọn nơi KCB của hộ gia đình
Bảng 4: Lý do lựa chọn cách xử trí khi bị ốm:
Tự mua thuốc về chữa Đến trạm y tế xã Đến y tế tư nhân Trẻ em
%
Cộng
đồng %
Trẻ em
%
Cộng
đồng %
Trẻ em
%
Cộng
đồng %
Tự chữa được 38 39
Các yếu tố có tính chất quyết định sự lựa chọn nơi KCB là quen biết, tiện lợi (gần nhà)
và trình độ chuyên môn tốt
Trang 5Bảng 5: Lý do làm hộ gia đình không KCB tại cơ sở y tế công cộng (trạm y tế và BV)
Trẻ
em
Cộng
đồng
Trẻ
em
Cộng
đồng
3 Không tin tưởng 7 7 3 Không đủ chi phí 3 4
4.Thiếu thuốc 8 13 4 Không có người chăm 1 2
5 Làm việc không
thường xuyên
6 Lý do khác 15 15 6 Thiếu giường đ/trị 12
7 Chữa ở y tế tư gần 3 13
8 Chữa ở xã tiện hơn 3 3
Các lý do làm các bà mẹ đã không sử dụng dịch vụ y tế công cộng gồm:
- Trạm y tế: thiếu thuốc, thiếu lòng tin
- Bệnh viện: thiếu giường điều trị, đường xa
5 Các yếu tố liên quan đến việc sử dụng các cơ sở y tế công cộng
Bảng 6: Mối liên quan nghề nghiệp và sử dụng y tế công cộng
Cơ sở y tế
Y tế công cộng Y tế tư nhân
Tổng số
Nông nghiệp
Phi nông nghiệp
91 (42,3%)
43 (58,9%)
215
73
OR = 1,95 (1,1 < OR < 3,45); p < 0,05
Những bà mẹ làm nghề nông có xu hướng đưa con đến các cơ sở y tế công và các bà
mẹ làm nghề phi nông nghiệp thường đến cơ sở y tế tư nhân
Bảng 7: Mối liên quan giữa mức thu nhập và sử dụng y tế công
Y tế công cộng Y tế tư nhân
Từ TB trở suống
Trên TB
49 (36,6%)
52 (33,8%)
85 (63,4%)
102 (66,2%)
134
154
OR = 1,1 (0,68 < OR < 1,89); p < 0,05
Trang 6Không có sự khác biệt về sử dụng các dịch vụ y tế giữa các bà mẹ có thu nhập khác
nhau
Bảng 8: Văn hoá mẹ và sử dụng dịch vụ y tế công
Cơ sở y tế Nghề nghiệp
Y tế công cộng Y tế tư nhân
Tổng số
OR = 0,5 (0,31 < OR < 0,85); p < 0,01
Các bà mẹ có văn hoá không thấp hay
đến cơ sở y tế công hơn các bà mẹ văn
hoá thấp
iv Bàn Luận
Việc đánh giá tình hình bệnh tật của
cộng đồng cần phải thông qua khám bệnh
theo mùa Điều này gần như không thực
hiện được vì chi phí khá tốn kém Để khắc
phục điều này chúng tôi áp dụng các
phương pháp thông thường ở nước ngoài là
phỏng vấn hộ gia đình về tình hình ốm đau
trong 2 tuần trước điều tra, 4 đợt trong năm
để có số liệu đại diện hơn cho cả năm so
với cách điều tra một lần Cách điều tra
này không đưa ra số liệu về mô hình bệnh
tật như cách khám lâm sàng, nhưng cũng
đưa ra một cách khái quát về tình hình ốm
và nhu cầu được KCB của cộng đồng, đặc
biệt là thu được thông tin về việc sử dụng
cũng như cách ứng xử với các dịch vụ
KCB
Kết quả ở bảng 1 cho thấy: ở trẻ em
mắc NKHHCT là cao nhất chiếm 37%
trong tổng số các bệnh / chứng bệnh, sau
đó là các bệnh nhiễm trùng về mắt (9,2%),
bệnh tiêu chảy (7%) và các bệnh ngoài da
Kết quả này cũng tương tự như tỷ lệ mắc
bệnh ở cộng đồng (cả người lớn và trẻ em)
và là đặc trưng cho tình hình bệnh tật ở
các nước kém phát triển: bệnh nhiễm trùng
và các bệnh có liên quan đến điều kiện vệ sinh kém…
Ước tính mỗi năm một trẻ dưới 5 tuổi ốm
2 lần, cao hơn so với số liệu chung của quần thể nghiên cứu: 1 lần / năm
Khi trẻ ốm, 37% các trường hợp tự mua thuốc về chữa, 56% đến với các cơ sở y tế, trong đó 27% đến y tế tư nhân, 17% đến trạm y tế xã, 10% đến điều trị tại bệnh viện, 2% đến y tế thôn Số ít các trường hợp điều trị bằng thuốc dân gian và dùng y học cổ truyền, 2% không điều trị Cách lựa chọn nơi khám chữa bệnh cho trẻ em nói riêng cũng tương tự như trong quần thể nghiên cứu chung
Khi trẻ ốm nặng kéo dài trên 9 ngày,vẫn
có 27% tự mua thuốc về chữa, 28% đến y
tế tư nhân, trong khi đó chỉ có 7% đến trạm
y tế, 25% đã đến điều trị tại bệnh viện, 3%
đến y tế thôn Như vậy khi ốm nặng các bà
mẹ cần đến sự hỗ trợ của thầy thuốc nhiều hơn, nhất là đến y tế tư và bệnh viện, số các trường hợp ốm nặng đến trạm y tế lại rất ít Có thể thấy mức độ đáp ứng nhu cầu KCB cho trẻ em của TYTX còn khá hạn chế so với y tế tư nhân
Kết quả này cũng có nhiều điểm phù hợp với nghiên cứu sử dụng các dịch vụ y
tế và các yếu tố ảnh hưởng của nhiều tác giả khác [4, 5, 7] Cho dù chi phí trực tiếp trung bình cho một đợt ốm khi các bà mẹ
Trang 7mang con đến trạm y tế là thấp nhất, sau
đó là cách tự mua thuốc về chữa Điều trị
tại bệnh viện chi trả là cao nhất, sau đó là
đến y tế tư nhân…
Về khả năng chi trả cho điều trị, 95%
các trường hợp có khả năng trả ngay, 2%
phải đi vay; 0,4% phải bán đồ đạc để lấy
tiền điều trị và 2,5% trường hợp được miễn
giảm Điều này cho thấy chính sách miễn
phí KCB cho trẻ em chưa thực hiện đầy đủ
Khi đến các cơ sở y tế tư nhân mức chi
phí KCB trung bình tại đây lại cao, chỉ thấp
hơn điều trị tại bệnh viện, nơi mà ngoài
tiền thuốc người dân phải chi trả cho một
số dịch vụ khác: xét nghiệm, giường…Điều
này có thể hiểu chi phí điều trị chưa phải là
yếu tố quyết định để người dân lựa chọn
nơi KCB
Tìm hiểu về lý do lựa chọn nơi khám
chữa bệnh, các lý do lựa chọn nơi KCB cho
trẻ em và cho cả cộng đồng tương tự nhau
và các lý do được kể ra là: sự tiện lợi (gần
nhà), quen biết, chuyên môn, thái độ tốt
Điều này cũng phù hợp với kết quả nghiên
cứu trước đây của Nguyễn Đức An,
O.Kayode, Trương Việt Dũng và cộng sự
(1995) [5]
Tìm hiểu về sử dụng dịch vụ y tế theo
tình trạng bệnh có thể thấy chất lượng dịch
vụ quyết định sự lựa chọn một khi bệnh
khá nặng đến bệnh viện nhiều hơn, đến
trạm y tế ít hơn và ngược lại Đối với những
trường hợp đến y tế tư và tự mua thuốc
điều trị không theo quy luật này, tỷ lệ đến y
tế tư và tự mua thuốc không khác nhau đối
với trường hợp ốm nặng và ốm nhẹ
Các lý do khiến các bà mẹ không đem
con đến khám bệnh tại trạm y tế và bệnh
viện là do tình trạng bệnh (nhẹ), đường xa
Riêng ở trạm y tế các lý do được kể đến
còn là: thiếu thuốc, chất lượng điều trị
thấp Việc không khám bệnh và tự mua thuốc về chữa cho trẻ em chứa đựng nguy cơ sử dụng thuốc không an toàn, không hiệu quả Cần có chương trình giáo dục cho bà mẹ cách chữa bệnh cho trẻ tại nhà
v Kết Luận
- Các triệu chứng / bệnh thường gặp ở trẻ em ốm là: NKHHCT, bệnh nhiễm trùng mắt, tiêu chảy, bệnh ngoài da, đau bụng không tiêu chảy… nói chung là các bệnh nhiễm khuẩn liên quan đến điều kiện VSMT kém Tần suất mắc bệnh ở trẻ em là
2 lượt / năm
- Chỉ có 56% các trường hợp trẻ ốm
được khám và điều trị tại các cơ sở y tế, một nửa trong số này là đến các cơ sở y tế tư, còn lại là đến các cơ sở y tế công cộng: trạm y tế xã, bệnh viện, y tế thôn….cách
xử lý mua thuốc về chữa vẫn còn phổ biến
- Các lý do liên quan đến quyết định việc chọn nơi khám chữa bệnh gồm: sự tiện lợi (gần nhà), quen biết, trình độ chuyên môn tốt, thái độ phục vụ, giá cả Các yếu tố ảnh hưởng đến việc không sử dụng y tế công cộng thuộc về hai phía:
- Về phía người cung cấp dịch vụ y tế: thiếu thuốc, thiếu lòng tin (trạm y tế), thiếu giường bệnh, đường xa (bệnh viện)…
- Về phía người sử dụng: nghề nghiệp, văn hoá của các bà mẹ, những bà mẹ làm nghề nông nghiệp và có văn hoá từ cấp II trở lên có xu hướng đưa con tới các cơ sở y
tế công cộng Các bà mẹ làm nghề phi nông nghiệp (chủ yếu) và văn hoá từ cấp I trở xuống có xu hướng sử dụng các dịch vụ
y tế tư nhân
Tài Liệu Tham Khảo
1 F Favereau & Associes: Health Care Hand book Vol 6.1.Vietnam 1995 –
1996 p.12-33
Trang 82 Bộ Y tế, Niên giám thống kê các năm 1999, 2000, 2001
3 Bộ Y tế (1996): Chương trình phòng chốngviêm phổi trẻ em Tài liệu huấn luyện dùng cho tuyến tỉnh, huỵện Hà Nội,
4 Bùi Thanh Tâm: Mối quan hệ cung cầu về các dịch vụ y tế ở một số huyện đồng bằng trong thời kỳ phát triển kinh tế thị trường Tạp chí Hoạt động khoa học tháng 12/1994 Tr.27-34
5 UNICEF-BYT, Nguyễn Đức An O.Kayode, Trương Việt Dũng và cộng sự (1996): A study on factors infuencing Health services utlization by households Báo cáo kết quả nghiên cứu của Dự án CSSKBĐ, BYT; Hà Nội
6 Vụ Tổ chức cán bộ – Bộ Y Tế: Báo cáo điều tra 20 xã ở huyện Tứ Lộc, năm 1999
7 Trương Việt Dũng, Nguyễn Thanh Tâm, Gill Tipping & M Segall (1995): Chất lượng dịch vụ y tế công và quyết định của gia đình trong y tế tại 4 xã nông thôn tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam Nhà xuất bản Y học Hà Nội, 1995
Summary
Health status and health services utilization of
children under 5 in 28 communes
The study was conducted at 28 communes sampled from 7 geographical areas 1457 children under five were monitored 4 times per year for 2 years The authors showed that:
1 The common disease/symtoms in children were as follows: Acute respiratory infections, eyes infections, diarrhoea, skin infections It seems to be related with poor environmental conditions The average episode of illness in children under 5 is estimated
2 times per year
2 Only 56% of cases used CHSs, Hospitals, VHWs Self medication is still common
3 The determinants for health service utilization are: Convenient, habit, skill of health workers, attitude of health workers, price
4 The barriers preventing utilization of public facilities are: Lacking of drugs, unbelief, lacking of beds, long distance and occupation, educational background of mothers Farmer and high educated mothers have tendentions of using public health services Whereas the non-farmer and low educated mothers more frequently used private health services