1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BƯỚC ĐẦU KHẢO SÁT SỰ HIỂU BIẾT VỀ BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC Ở CÁC BỆNH NHÂN ĐẾN KHÁM TẠI VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG pot

5 1,3K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 215,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BƯỚC ĐẦU KHẢO SÁT SỰ HIỂU BIẾT VỀ BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC Ở CÁC BỆNH NHÂN ĐẾN KHÁM TẠI VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG Trần Lan Anh, Nguyễn Thành Viện Da liễu Trung ương , Sự hiểu

Trang 1

BƯỚC ĐẦU KHẢO SÁT SỰ HIỂU BIẾT VỀ BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC Ở CÁC BỆNH NHÂN ĐẾN KHÁM TẠI

VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG

Trần Lan Anh, Nguyễn Thành

Viện Da liễu Trung ương

, )

Sự hiểu biết về bệnh LTQĐTD ở nam và nữ mắc bệnh là khác nhau Mục tiêu: (1) Mô tả sự hiểu về

bệnh LTQĐTD trên các bệnh nhân nam và nữ đến khám tại Viện Da liễu Trung ương từ 2002 – 2004 (2)

Mô tả sự hiểu biết về cách phòng tránh bệnh LTQĐTD trên các đối tượng này Phương pháp: nghiên cứu

cắt ngang bằng khám lâm sàng, làm xét nghiệm và phỏng vấn bệnh nhân mắc bệnh LTQĐTD đến khám tại

Viện Da liễu Trung ương từ 2002 – 2004 Kết quả và kết luận: Tổng số bệnh nhân nghiên cứu là 109

người, trong đó nam là 62 người (56,2%), nữ là 47 người (43,1%) Phần lớn bệnh nhân có hiểu biết về bệnh LTQĐTD (90,8%): biết là bệnh truyền nhiễm (87,2%); đường lây chính là tình dục và tiêm chích 91,7%), tuy nhiên tỷ lệ hiểu biết của bệnh nhân nam cao hơn bệnh nhân nữ Kênh tiếp nhận thông tin nhiều nhất là đài báo (83,5%); kênh ít nhất là trường học (15,6%) và cha mẹ (8 2%) Kênh từ bạn bè chủ yếu là nam giới (56,5%) Hiểu biết về biện pháp phòng bệnh là dùng BCS (57,8% và chung thủy (40,4%) chiếm đa số, nhưng tỷ lệ hiểu biết ở nam giới vẫn cao hơn so với nữ giới

Từ khoá: Hiểu biết bệnh LTQĐTD, bệnh nhân nam/nữ mắc bệnh

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong giai đoạn hiện nay, tỷ lệ người mắc các

bệnh Lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD) ở

Việt nam ngày càng tăng lên Theo số liệu thống

kê của Viện Da liễu Trung ương, số bệnh nhân

(Bn) LTQĐTD thống kê được trong vài năm gần

đây khoảng > 140.000 trường hợp/năm Tuy nhiên

con số này chưa phản ánh đúng thực trạng của

bệnh vì nhiều lý do nên phần lớn bệnh nhân bị

bệnh LTQĐTD thường tìm đến các cơ sở khám

chữa bệnh tư nhân hơn là các cơ sở của Nhà nước

Điều đó không những gây khó khăn cho việc kiểm

soát các bệnh LTQĐTD mà còn làm tăng các biến

chứng do bệnh không được điều trị đầy đủ, kịp

thời gây nhiều biến chứng, tạo điều kiện cho bệnh

lây truyền sang người khác

Từ trước đến nay đã có nhiều nghiên cứu về

tình hình mắc bệnh và một số bệnh LTQĐTD

thường gặp ở Việt Nam như Lậu, giang mai, sùi

mào gà, Clamydia sinh dục… Tuy nhiên nghiên

cứu về sự hiểu biết bệnh và cách phòng tránh

bệnh LTQĐTD ở các bệnh nhân nam và nữ bị mắc

bệnh, qua đó đề xuất các biện pháp, cách thức

truyền thông thích hợp tới cộng đồng còn rất ít ỏi

Đề tài được tiến hành với mục tiêu:

1 Mô tả sự hiểu biết về bệnh LTQĐTD

trên các bệnh nhân nam và nữ đến khám tại

Viện Da liễu Trung ương từ 2002 - 2004

2 Mô tả sự hiểu biết về cách phòng tránh bệnh LTQĐTD của các đối tượng trên

Từ đó đề xuất biện pháp, cách thức truyền thông thích hợp tới cộng đồng.

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng: Bệnh nhân LTQĐTD đến khám

tại Viện Da liễu Trung ương từ 2002 - 2004

2 Phương pháp: nghiên cứu cắt ngang

- Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân: Bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên từ các bệnh nhân là: Người lớn ≥ 18 tuổi, đã được chẩn đoán xác định mắc các bệnh LTQĐTD, không phân biệt tuổi; giới; nghề nghiệp; nơi sống và đồng ý tham gia nghiên cứu

- Tiêu chuẩn loại trừ:

+ Bệnh nhân < 18 tuổi

+ Người mắc kèm các bệnh tâm thần, các bệnh/chứng không kiểm soát được hành vi và các bệnh gan, thận, phổi nặng

- Các bước tiến hành:

+ Bệnh nhân được khám lâm sàng tại Khoa khám bệnh của Viện Da liễu Trung ương, sau khi phát hiện các triệu chứng nghi ngờ mắc các bệnh LTQĐTD thì sẽ được gửi đi làm xét nghiệm để xác định bệnh

+ Tuỳ theo các triệu chứng trên bệnh nhân mà xét nghiệm kiểm tra có thể là:

Trang 2

Xét nghiệm xác định bệnh Giang mai bằng

phản ứng RPR, TPHA

Xác định bệnh Lậu bằng soi tươi, nuôi cấy,

kháng sinh đồ

Xác định Herpes sinh dục bằng PCR hoặc

ELIZA

Xác định bệnh Chlamydia bằng test nhanh

hoặc test phát hiện kháng thể IgG hoặc miễn dịch

sắc kí (HEXAGONE) và PCR

Xác định bệnh nấm, trùng roi âm đạo bằng

soi tươi

Xác định viêm âm đạo do vi khuẩn bằng soi

tươi, nhuộm Gram, thử độ pH, test Sniff

Xác định nhiễm HIV bằng Serodia HIV,

Determine, ELISA

Xác định sùi mào gà từ chẩn đoán lâm sàng

Các xét nghiệm trên được tiến hành tại Khoa

Xét nghiệm Viện Da liễu Trung ương

Sau khi có kết quả xét nghiệm xác định mắc

bệnh LTQĐTD thì bệnh nhân sẽ được phỏng vấn

trực tiếp theo “phiếu phỏng vấn” cho tất cả các

đối tượng

- Phiếu phỏng vấn bao gồm các phần sau:

+ Một số thông tin chung về nhóm nghiên cứu: tuổi, giới, nghề nghiệp, trình độ học vấn, địa dư v.v

+ Các thông tin sự hiểu biết về bệnh và cách phòng tránh bệnh ở giới nam và nữ bị mắc bệnh LTQĐTD đến khám tại Viện Da liễu

Các thông tin sẽ được thu thập và xử lý theo thống kê y học chương trình Epi info 6.04 Các số liệu phân tích đặc biệt quan tâm đến tỷ lệ % sự khác biệt giữa giới nam và nữ về sự hiểu biết bệnh LTQĐTD và hiểu biết về cách phòng tránh bệnh tính theo thuật toán χ2

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tổng số bệnh nhân nghiên cứu là 109 người, trong đó nam là 62 người (56,2%), nữ là 47 người (43,1%) Bệnh gặp chủ yếu ở tuổi trẻ (20 – 39t) (83,5%) Người mắc bệnh trẻ nhất là nữ 18t, người mắc bệnh già nhất là nam 72t Đa số phụ

nữ bị bệnh LTQĐTD (60,9%) là có gia đình, trong khi hầu hết nam giới là độc thân (89,2%), sự khác biệt có ý nghĩa giữa 2 giới với p < 0,001

1 Sự hiểu biết về bệnh LTQĐTD trên nhóm bệnh nhân nghiên cứu

Bảng 1 Sự hiểu biết về bệnh LTQĐTD Nam N = 62 (%) Nữ N = 47 (%) Tổng N (%) p

I Đã từng nghe nói về bệnh LTQĐTD:

χ2 = 2,91

p > 0,05

II Có cho bệnh LTQĐTD là bệnh truyền nhiễm:

χ2 = 9,20

p < 0,01

III Hiểu biết về đường lây của bệnh LTQĐTD:

Qua máu, tiêm chích 21 (33,9) 6 (12,8) 27 (24,8)

Khác (vệ sinh kém, nước

χ2 = 26,88

p > 0,05

IV Hiểu biết về khả năng chữa khỏi của bệnh LTQĐTD:

χ2 = 3,13

p < 0,05

Nhận xét :

Trang 3

- Hầu hết (90,8%) bệnh nhân ở cả 2 giới đều đã hiểu biết về bệnh LTQĐTD và không có sự khác biệt

ở nam và nữ p > 0,05

,

(

,

,

- Đa số người được hỏi (87 2%) đều cho bệnh LTQĐTD là bệnh truyền nhiễm, tuy nhiên sự hiểu biết

của nam giới (96,8%) cao hơn nữ (74,5%) Nhóm trả lời không biết chủ yếu là phụ nữ (23,4%) sự khác

biệt có ý nghĩa p < 0,01

- Hầu hết các bệnh nhân cả nam và nữ) đều biết đường lây chính của bệnh LTQĐTD là quan hệ tình

dục (91,7%) Số người biết lây qua đường máu hoặc tiêm chích chiếm tỷ lệ thấp (24,8%) Có 8,25% trả lời

bệnh có thể lây do vệ sinh kém, dùng nước bẩn trong đó đa số là phụ nữ (14,9% so với nam 3,2%) và

không biết lây thế nào cũng chủ yếu là phụ nữ (12,8% so với nam 3,2%) tuy nhiên sự khác nhau không

có ý nghĩa p > 0,05

- Hầu hết số người trả lời đều cho rằng bệnh LTQĐTD có thể chữa khỏi được (89,9%), trong đó đa số

là nam giới (95 2%); số người không biết chủ yếu là phụ nữ (17,1% so với nam 4,8%) sự khác biệt có ý

nghĩa p < 0,05 Duy nhất 1 trường hợp trả lời bệnh AIDS không chữa khỏi được

Bảng 2 Nguồn tiếp nhận thông tin Nguồn tiếp nhận thông

tin Nam N = 62 (%) Nữ N = 47 (%) Tổng số N (%) P

Từ trường 9 (14,5) 8 (17,1) 17 (15,6) χ2 = 0,87 p > 0,05

Từ bạn 35 (56,5) 12 (25,5) 47 (43,1) χ2 = 9,20 p< 0,01

Từ cha mẹ 5 (8,1) 4 (8,5) 9 (8,2) χ2 = 0,78 p > 0,05

Từ đài/báo 56 (90,3) 35 (74,5) 91 (83,5) χ2 = 3,79 p > 0,05

Từ tuyên truyền 28 (45,2) 15 (31,9) 43 (39,4) χ2 = 1,45 p > 0,05

Khác (BVC, chồng y tế xã) 0 (0) 3 (6,4) 3 (2,7) χ2 = 4,07 p > 0,05

Nhận xét: Kênh tiếp nhận thông tin nhiều nhất về bệnh LTQĐTD là từ đài, báo (83,5%), sau đó là

bạn bè (43,1%) và truyên truyền (39,4%) Từ trường học chỉ chiếm 15,6% Từ cha mẹ chiếm tỷ lệ thấp

nhất (8,2%) Hầu hết các kênh này không có sự khác biệt giữa nam và nữ với p > 0,05 Chỉ có kênh từ

bạn bè là nam giới chiếm đa số (56,5%), có sự khác biệt với nữ với p < 0,01

Bảng 3 Kiến thức về cách phòng lây nhiễm bệnh LTQĐTD

I Hiểu biết về cách phòng lây nhiễm bệnh LTQĐTD

II Hiểu biết khả năng phòng bệnh của BCS:

P χ2 = 33,97 p > 0,05 χ2 = 1,98 p > 0,05

Nhận xét:

- Phần lớn cho rằng cách phòng bệnh LTQĐTD tốt nhất là dùng bao cao su (57,8%); sau đó là chung

thuỷ 1 vợ 1 chồng (40,4%); không quan hệ bừa bãi (10%) Trả lời không biết đa số gặp ở phụ nữ (17,7%

so với nam 6,5%), tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa p > 0,05

Trang 4

r

- Hầu hết số người được hỏi (92,7%) đều cho ằng BCS có thể phòng tránh được bệnh; 6,4% số người trả lời không biết, nhưng không có sự khác biệt giữa nam và nữ p > 0,05

IV BÀN LUẬN

1 Sự hiểu biết về bệnh LTQĐTD

- Hầu hết số người trả lời (90,8%) ở cả 2 giới

đều đã từng nghe nói về bệnh LTQĐTD và không

có sự khác biệt giữa nam và nữ p > 0,05 So sánh

với nghiên cứu của Nguyễn Duy Hưng và cộng sự

điều tra về Nhiễm khuẩn đường sinh sản

(NKĐSS)/bệnh LTQĐTD và kiến thức, thái độ, thực

hành (KAP) trên phụ nữ từ 15 – 49 tuổi tại 5 tỉnh ở

Việt Nam [4] cho thấy sự hiểu biết về NKĐSS thấp

(55,1%) Có lẽ sự khác nhau là trên đối tượng

nghiên cứu, Nguyễn Duy Hưng nghiên cứu trong

cộng đồng và là nghiên cứu chung về NKĐSS, còn

chúng tôi là nghiên cứu trên bệnh nhân đang mắc

bệnh

- Hiểu biết bệnh LTQĐTD như một bệnh truyền

nhiễm chủ yếu gặp ở nam giới (96,8%), số người

trả lời không biết phần lớn là phụ nữ (23,4% so

với nam 3,2%) với sự khác biệt p < 0,01, chứng tỏ

trong cộng đồng phụ nữ vẫn là đối tượng tiếp cận

với thông tin thấp hơn

- Hầu hết số người được hỏi đều biết đường lây

chính của bệnh LTQĐTD là quan hệ tình dục

(91,7%), các đường lây khác như máu, tiêm chích

(24,8%), mẹ sang con (3,7%) chiếm tỷ lệ thấp

hơn, nhưng không có sự khác biệt giữa nam và nữ

P > 0,05

- Có 2 bệnh nhân nam giới nhiều tuổi nhất

trong nhóm nghiên cứu (60 tuổi và 72 tuổi) đều

mắc bệnh Sùi mào gà (SMG), khi trả lời chỉ biết

bệnh lậu, giang mai là lây do quan hệ tình dục,

còn SMG thì không biết là bệnh gì và lây bằng

đường nào Cả hai bệnh nhân này chỉ hiểu rõ ràng

sau khi được tư vấn Nhận xét của chúng tôi tương

tự của Trần Thị Trung Chiến và Trần Thị Phương

Mai nghiên cứu về NKĐSS và Ung thư trong cộng

đồng thấy [1]: bệnh được biết nhiều nhất trong

cộng đồng là HIV (73,5%), sau đến bệnh Lậu

(48,2%) và Giang mai (43,3%) Bệnh ít được biết

nhất trong cộng đồng là SMG (10,1%) và trùng roi

(11,5%); còn Clamydia dường như là tác nhân xa

lạ không những trong cộng đồng mà ngay cả với

nhân viên y tế tuyến xã Vì vậy theo chúng tôi,

ngoài một số bệnh thường được tuyên truyền về

cách phòng tránh như lậu, giang mai… cũng cần

giới thiệu thêm một số bệnh LTQĐTD khác thường gặp hiện nay như SMG, Clamydia, herpes sinh dục…

- Trong nghiên cứu, nguồn tiếp nhận thông tin

về bệnh LTQĐTD có thể từ nhiều kênh khác nhau (bảng 2) Nguồn từ đài/báo chiếm tỷ lệ cao nhất (83,5%) Tỷ lệ này tương đương với nghiên cứu của Trần Thị Trung Chiến và Trần Thị Phương Mai tại Hà Nội, Hà tĩnh là 91,6 – 97,2%, tuy nhiên tại Thái Nguyên chỉ có 47,5% [1] Tiếp cận từ đài/ báo là nguồn thông tin đại chúng và phù hợp nhất trong cộng đồng

- Nguồn từ bạn bè cũng chiếm tỷ lệ tương đối cao (43,1%), nhưng tập trung chủ yếu ở nam giới (56,5%), nữ chỉ chiếm (25,5%) với sự khác biệt có

ý nghĩa p < 0,01 Nam giới, đặc biệt tuổi trẻ thường hay tò mò, thích khám phá nhất là hiểu biết về tình dục từ bạn bè Nếu có kiến thức tốt về sức khỏe sinh sản (SKSS) và các bệnh LTQĐTD chắc chắn sẽ chủ động hơn trong phòng tránh bệnh

- Nguồn từ nhà trường (15,6%) và từ cha mẹ (8,2%) chiếm tỷ lệ thấp nhất Điều này cũng phản ánh rõ nét thực trạng tại Việt Nam: việc giáo dục giới tính và SKSS trong nhà trường chưa được quan tâm đúng mức Trong một vài năm gần đây, một số trường mới đưa giáo dục SKSS vào giờ học ngoại khóa nên hiệu quả chưa cao Phần lớn các bậc phụ huynh mang tâm lý né tránh khi nói về SKSS hay tình dục với con em mình, thậm chí còn

vẽ lên bức tranh đen tối của chuyện này, cho đó là vấn đề xấu xa, bẩn thỉu cần tránh xa Thực tế, trong thế giới bùng nổ thông tin, tuổi dậy thì của các em ngày càng sớm từ 10 - 11 tuổi, các hướng dẫn quan hệ tình dục lại rất dễ tìm kiếm trên mạng, băng đĩa, phim ảnh đồi trụy… Vì thế nếu không có sự giáo dục đầy đủ, sự hiểu biết đúng đắn về SKSS thì giới trẻ rất dễ bị cuốn vào những vực thẳm nguy hiểm này

2 Cách phòng tránh bệnh LTQĐTD

Hai biện pháp được đề cập nhiều nhất là chung thủy (40,4%) và bao cao su (57,8%) Số liệu này tương tự như của Trần Thị Trung Chiến và Trần Thị Phương Mai (1) là 57,6% và 59,3% Số người trả lời không biết chiếm 13,8%, chủ yếu là phụ nữ (17,7%) 92,7% số người đều cho rằng bao cao su

Trang 5

có thể phòng được bệnh LTQĐTD 89,9% cho rằng

bệnh LTQĐTD có thể chữa khỏi được Số người

không biết bệnh có thể chữa khỏi chủ yếu vẫn là

phụ nữ

V KẾT LUẬN

1 Hiểu biết về bệnh LTQĐTD

- Hầu hết các bệnh nhân đã nghe nói về bệnh

LTQĐTD và biết là bệnh truyền nhiễm; đường lây

chính là quan hệ tình dục và tiêm chích; bệnh có

chữa khỏi, tuy nhiên tỷ lệ trả lời đúng ở nam giới

cao hơn hẳn nữ giới

- Kênh tiếp nhận thông tin nhiều nhất về bệnh

LTQĐTD là từ đài/ báo Kênh ít nhất là trường học

và cha mẹ Kênh từ bạn bè phần lớn ở nam giới

2 Hiểu biết về cách phòng tránh

bệnh LTQĐTD

Hầu hết đều biết biện pháp phòng bệnh chính

là dùng BCS và chung thủy một vợ một chồng và

khả năng phòng bệnh của BCS là cao, nhưng tỷ lệ

trả lời đúng ở nam giới vẫn cao hơn nữ giới

Kiến nghị:

- Cần đẩy mạnh hơn nữa việc giáo dục giới tính

trong trường học và cần đưa vào sớm, thậm chí

phải "đón đầu" trước khi các em đến tuổi dậy thì

- Cần phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và

cha mẹ trong việc giáo dục giới tính/ SKSS cho trẻ

vị thành niên để cho trẻ phải biết nói "không tình

dục" trước hôn nhân

- Cần đẩy mạnh hơn tuyên truyền về NKĐSS

đối với phụ nữ

Cần tìm các biện pháp tiếp cận phù hợp hơn đối với đối tượng này như sinh hoạt hội Phụ nữ, cán bộ dân số, câu lạc bộ phụ nữ hoặc câu lạc bộ gia đình

- Trong nội dung tuyên truyền giáo dục, phổ biến các kiến thức về phòng chống bệnh LTQĐTD trong cộng đồng nên giới thiệu thêm một số bệnh LTQĐTD thường gặp hiện nay như SMG, Clamydia, Herpes sinh dục…

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Doãn Thị Mùi (1999), Tình hình bệnh

LTQĐTD và nhiễm HIV ở một số đô thị của tỷnh Quảng ninh từ 1994 – 1998 Luận văn chuyên khoa II/ chuyên ngành Da liễu 1999

2 Nguyễn thị Thanh Huyền (2002),

Nghiên cứu tình hình, nguyên nhân và đặc điểm lâm sàng hội chứng tiết dịch đường sinh dục dưới

ở phụ nữ đến khám tại Viện Da liễu Trung ương Luận văn thạc sĩ y học 2002

3 Trần Thị Trung Chiến, Trần Thị Phương Mai (2004) Khảo sát thực trạng bệnh nhiễm

khuẩn đường sinh sản, ung thư cổ tử cung tại 8 tỷnh ở Việt nam Đề tài cấp Bộ y tế, nghiệm thu tháng 12/2004

4 Nguyen Duy Hung et al (2001), The

Knowledge, Attitude, Practice and prevalence of Reproductive tract infections among women 15 –

49 in Vietnam Report on International congress of sexually transmitted ISSTDR/IUSTI 2001, p121 – 126

Summary

STUDY ON THE KNOWLEDGE OF STDs ON PATIENTS AT THE NATIONAL INSTITUTE OF DERMATO – VENEREOLOGY (NIDV) IN VIETNAM

Objectives: Described on the knowledge of STDs of male and female patients at NIDV from 2002 –

2004 and described on the knowledge of the preventions’ STDs in these groups Methods: The cross –

sectional study have implemented in NIDV from 2002 to 2004 by face to face interview, physical

examination and laboratory tests of STD patients Result and conclusions: Total 109 interviewees

including male (56,9%), female (43%) Most of STD patients had been heard on STDs (90,8%) Most of the patients think STDs are: infection disease (87,2%); the main transmission ways are through sexual intercourses and injections (91,7%), but the knowledge in male were higher than female The most popular of communication is TV, radio and newspapers (83,5%) The lower communication is in the school (15,6%), particularly from parent’s patients (8,2%) The communication from friends has been mainly in male (56,5%) Most of STDs patients had been known the methods of STDs prevention are condom uses (57,8%) and faithful love (40,4%), but the knowledge in male were also higher than female

Keyword: The Knowledge of STDs , STDs ‘s male and femal patients

Ngày đăng: 25/03/2014, 05:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Sự hiểu biết về bệnh LTQĐTD - BƯỚC ĐẦU KHẢO SÁT SỰ HIỂU BIẾT VỀ BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC Ở CÁC BỆNH NHÂN ĐẾN KHÁM TẠI VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG pot
Bảng 1. Sự hiểu biết về bệnh LTQĐTD (Trang 2)
Bảng 3. Kiến thức về cách phòng lây nhiễm bệnh LTQĐTD - BƯỚC ĐẦU KHẢO SÁT SỰ HIỂU BIẾT VỀ BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC Ở CÁC BỆNH NHÂN ĐẾN KHÁM TẠI VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG pot
Bảng 3. Kiến thức về cách phòng lây nhiễm bệnh LTQĐTD (Trang 3)
Bảng 2. Nguồn tiếp nhận thông tin - BƯỚC ĐẦU KHẢO SÁT SỰ HIỂU BIẾT VỀ BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC Ở CÁC BỆNH NHÂN ĐẾN KHÁM TẠI VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG pot
Bảng 2. Nguồn tiếp nhận thông tin (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w