Hoàng Tích Huyền Bộ môn Dược lý, Trường Đại học Y Hà Nội Nhóm thuốc chống viêm không steroid Non - Steroidal - Anti - Inflammatory Drugs; NSAID nằm trong các loại thuốc phổ biến nhất,
Trang 1một số lưu ý về COX1, COX2, Coxib
(Some remarks about COX1, COX2, Coxibs)
GS TSKH Hoàng Tích Huyền
Bộ môn Dược lý, Trường Đại học Y Hà Nội
Nhóm thuốc chống viêm không steroid (Non - Steroidal - Anti - Inflammatory Drugs; NSAID)
nằm trong các loại thuốc phổ biến nhất, dùng chống viêm, hạ sốt, giảm đau Nhiều NSAID dùng không cần kê đơn (OTC)
Theo nghiên cứu trong các năm 1970 - 1980, có 40% số bệnh nhân dùng NSAID đã gặp những biến chứng đường tiêu hoá, thường là đau bụng trên, khó tiêu; 29% người dùng NSAID bị ợ nóng, khó tiêu, dạ dày ợ chua ít nhất một lần trong tuần đầu dùng thuốc Nhiều thống kê dịch tễ học khác cho thấy mỗi năm trên thế giới có khoảng hơn 20.000 người tử vong có liên quan đến độc tính của NSAID trên ống tiêu hoá Kể từ khi bắt đầu dùng NSAID, gần nửa triệu người tử vong do độc tính này
Những phát hiện từ cuối thế kỷ 20 về hai dạng enzym Cycloxygenase (COX), về thuốc ức chế
chọn lọc COX2 đã giúp ích đáng kể cho điều trị, tác dụng ngoại ý trên ống tiêu hoá ít hơn các NSAID kinh điển
I Vài nét về lịch sử
Năm 1976, Mc Laghan dùng salicin và acid
salicylic chữa thấp khớp Salicin là glycosid vỏ
cây liễu, cây bạch dương, khi thuỷ phân sẽ cho
saligenin (là rượu salicylic) Trước đây hơn 100
năm, Felix Hoffman đã tổng hợp salicylat điều
trị thấp khớp Aspirin (acid acetylsalicylic) được
tìm ra năm 1899
saligenin
Đáng chú ý là thời điểm năm 1982, khi
Bergtrửm, Samuelson và J Vane được giải
thưởng Nobel nhờ các công trình "Khám phá
mới về prostaglandin và các chất sinh học có liên quan" Vane (1971) đã chứng minh các
chất "giống aspirin" (aspirin-like) ức chế được
cyclooxygenase (COX) nên kìm hãm sự sinh
tổng hợp các ProstaGlandin (PG) Vane đề
xuất là "sự ức chế COX chính là cơ chế tác dụng và cũng là cơ chế gây độc của "thuốc
giống aspirin" (xin đọc sơ đồ dưới đây)
Nhưng lúc đó rất khó chứng minh là tác dụng không mong muốn lại dao động rất lớn tuỳ từng loịa NSAID, thí dụ ibuprofen và ketoprofen đều chống viêm gần như nhau, tác
động trên cùng enzym, nhưng ibuprofen lại 'lành tính" với dạ dày hơn ketoprofen nhiều! Chỉ cho đến1991, khi phân loại được hai
"dưới lớp" của enzym COX là COX1 và COX2 thì mọi việc mới sáng tỏ: COX1 bảo vệ dạ dày, còn COX2 kéo theo phản ứng viêm Suy luận
chống được viêm! Thông thường, NSAID ức chế được cả COX1 và COX2
* GS TSKH Hoàng Tích Huyền, nguyên Trưởng Bộ môn Dược lý, Trường Đại học Y Hà Nội
Trang 2(-)
Glucocorticoid
lipooxygenase cyclooxygenase
PG endoperoxyd
NSAID
Theo sơ đồ trên, mọi loại PG đều được tổng
hợp từ acid arachidonic qua xúc tác của COX
Năm 1979, tìm thêm được enzym
lipooxygenase làm xúc tác cho chuyển từ acid
arachidonic sang leucotrien, là chất gây co thắt
mạnh phế quản gây hen
II Vai trò của PG
PG gây viêm, sốt, gây đau: vì NSAID ức
chế tạo PG, nên có tác dụng hạ sốt, giảm đau,
chống viêm Ngược lại, về mặt tích cực, thì PG
bảo vệ chống sự kích ứng niêm mạc dạ dày
Trước năm 1989, chỉ tìm thấy một dạng của
COX do Miyamoto phân lập (1976) Năm 1989,
tìm ra COX2 (Simmons và cộng sự 1989) Sau
đó 3 năm, đã phân ra hai đồng dạng là COX1
và COX2
COX1 là "enzym cấu tạo" (constitutive
enzyme) có mặt thường xuyên ở nhiều loại tế
bào, giúp tổng hợp các PG có nhiệm vụ "bảo
vệ, bảo tồn nội môi" như bảo vệ niêm mạc dạ
dày, làm kết dính tiểu cầu, giữ vững chức năng
thận nên gọi COX1 là enzym "canh cửa, giữ
nhà" (house - keeping enzyme)
COX2 được ghi mã bởi gene khác với COX1,
tuy vậy vẫn là nhị phân đồng dạng, phân tử
lượng giống nhau
COX2 lúc bình thường có hoạt tính rất thấp
trong tế bào, nhưng khi được gây cảm ứng
(induced enzyme) sẽ được tăng sinh nếu gặp
phản ứng viêm Kích thích viêm làm tăng sinh
màng hoạt dịch, mô sụn gây tăng viêm
trừ các PG có ích ở niêm mạc dạ dày, hậu quả
là gây viêm, loét, thủng, chảy máu dạ dày, nhưng cũng lại làm giảm tổng hợp thromboxan
A2 ở tiểu cầu (xin đọc sơ đồ) nên có lợi ích là
chống kết dính tiểu cầu, chống huyết khối, ví
dụ với aspirin
IV Cấu trúc của COX và cách gắn của NSAID
Vị trí tác động của COX có hình túi (găng tay) Acid arachidonic là cơ chất, gắn vào COX để tổng hợp prostaglandin (PG) Còn NSAID là các thuốc đối kháng tranh chấp với acid arachidonic
ở enzym COX để cản trở tổng hợp PG (xin đọc
sơ đồ) Thí dụ aspirin bịt chặt kênh COX bằng
cách acetyl hoá không hồi phục Serin 530 ở COX1
và Serin516 ở COX2 từ đó chặn lối vào kênh COX,
đẩy cơ chất acid arachidonic ra ngoài kênh, rút cuộc PG không tổng hợp được
Cấu trúc tinh thể của COX1 và COX2 rất giống nhau, tuy vậy vị trí gắn với acid arachidonic có khác nhau chút ít:
- Kênh COX2 rộng hơn kênh COX1, giúp
điều tiết các phân tử lớn hơn qua được kênh
- COX2 có thêm một túi ở bên trong "găng tay" giúp COX2 có vị trí hoạt hoá rộng hơn
Trang 3- COX2 "mềm dẻo" hơn COX1, có thể căng
phồng ra để tóm bắt các thuốc NSAID có phân
tử lượng lớn hơn
V Phân loại NSAID theo khả năng
ức chế COX
Nhóm 1 - ức chế ưu tiên COX1, hay dùng
chống kết dính tiểu cầu, như uống aspirin liều
thấp (75 - 100mg/ngày) Vì aspirin ức chế
mạnh COX1 độc với dạ dày, nên nay rất ít dùng
liều cao để hạ sốt, giảm đau, chống viêm;
khuynh hướng là không sắp xếp aspirin vào
nhóm NSAID nữa
Nhóm 2: ức chế COX không chọn lọc, ví dụ
các NSAID kinh điển
Nhóm 3: ức chế chọn lọc COX2, meloxicam,
etodolac, nimesulide
Nhóm 4: ức chế đặc hiệu COX2, các coxib
(rofecoxib, celecoxib)
* Cụm từ "NSAID tiết kiệm dạ dày"
(stomach sparing NSAIDs) dùng để chỉ
nimesulide và đặc biệt là nhóm coxib
(rofecoxib, celecoxib) có độ an toàn với ống
tiêu hoá cao hơn các NSAID kinh điển
dao hai lưỡi
Australia thông báo từ 10/1999 đến 10/2000
đã nhận được 919 báo cáo phản ứng có hại
(ADR) nhẹ của celecoxib ở ống tiêu hóa (nôn,
tiêu chảy, đau bụng, khó tiêu), nhưng ít có phản
ứng nghiêm trọng ở ống tiêu hoá trên (31 trường
hợp) và ống tiêu hoá dưới (28 trường hợp) Nhận
định là dùng celecoxib là phù hợp khi so với các
NSAID thông thường Tuy vậy, celecoxib vẫn gây
ra ở một số ít người phản ứng loét và chảy máu
ống tiêu hoá Với rofecoxib cũng vậy: nghiên cứu
VIGOR cho thấy refecoxib vẫn còn có nguy cơ
độc với dạ dày - tá tràng Cần chống chỉ định
thuốc ức chế COX2 ở người loét dạ dày - tá tràng
đang tiến triển
Các coxib còn có khi gây tai biến tim mạch
(làm tăng huyết áp, rối loạn tần số tim và nhịp
tim, suy tim sung huyết, nhồi máu cơ tim, hiện
tượng mạch não và huyết khối tắc mạch, phù),
nên chống chỉ định trên người suy tim nặng,
thận trọng với người có tiền sử suy tim, rối loạn chức năng thất trái, tăng huyết áp, ứ nước Lời khuyên người bệnh là khi thấy triệu chứng độc tiêu hoá (đau dạ dày, phân có máu), ứ dịch, phù, thở ngắn, yếu mệt, tăng thể trọng, đau ngực khi dùng coxib, thì cần báo ngay với thầy thuốc Với người có tiền sử tăng huyết áp, bệnh tim thiếu máu cục bộ, ứ dịch, cần được thầy thuốc khám nghiệm, suy xét kỹ trước khi cho dùng coxib
Thuỵ Điển cũng nhận định các coxib có dáng dấp các nguy cơ tương tự những NSAID khác (tuy rằng có khi nhẹ hơn, như ở ống tiêu hoá), nên dùng thận trọng ở đối tượng đặc biệt (như tuổi cao, cơ địa dị ứng), với biểu hiện tác dụng ngoại ý gần giống nhau (như ứ nước, tăng huyết áp, suy tim, rối loạn chức năng thận) Vì vậy có nên xếp chung mọi NSAID có tác dụng ngoại ý thấp trên ống tiêu hoá thuộc cùng loại "ức chế có chọn lọc COX2"không? Nhiều thuật ngữ khác còn đang được dùng phổ biến,
có khi quá mức, như "ức chế đặc hiệu", "chọn
lọc cao", "ưu thế" cần hủy bỏ, không dùng, vì
tính khoa học của những thuật ngữ đó chưa
cao Kể cả việc dùng thuật ngữ "coxib" cũng
làm một số người hiểu lầm Theo quy ước của
Tổ chức Y tế thế giới (WHO), "coxib" chỉ để
nêu một nhóm thuốc trong gia đình các NSAID cũng như nhóm indol, salicylat, pyrrol, oxicam
"Coxib" không phải để nêu một tính ưu việt nào
về tác dụng dược lý, về sự dung nạp, về cơ chế trên COX2
Nên chăng cần gọi một số thuốc ức chế mạnh COX2 và ức chế yếu COX1 là "thuốc có
tác dụng hạn chế trên COX 1 " (COX 1 - sparing drugs) Nhưng tiếc thay, đến nay đề nghị này
đã quá muộn!
tài liệu tham khảo
1 Vane, J.R và cộng sự: The Lancet, Vol 356: 21/10/2002, trang 1373 - 1374
2 WHO Pharmaceuticals Newsletter: No 3 (2002)
3 Reactions Weekly: 2002
4 Vane, J.R và cộng sự: COX2 Inhibition & Arthritis; Sciences Press (London) 1999