Trong bài biết này chỳng tụi trỡnh bày những quan điểm mới nhất gề cơ chế phõn tử bệnh sinh và đề cập đến những phưưong phỏp phỏt hiện sớm AD thụng qua cỏc yếu tố và trạng thỏi nguy cơ,
Trang 1Cơ chế phân tử của hội chứng sa sút trí tuệ và các
phương pháp chẩn đoán
Tạ Thành Văn (1)
, Phạm Thắng (2)
(1)
Bộ môn Hoá - Hoá sinh – Trường Đại học Y Hà Nội
(2) Viện Lão Khoa – Bệnh viện Bạch Mai – Hà Nội
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày này song song với việc kộo dài
tuổi thọ là sự gia tăng tỷ lệ người già mắc
hội chứng “Sa sỳt trớ tuệ được viết tắt là
SSTT”, (Dementia) Đa số cỏc trường
hợp SSTT khởi phỏt từ tuổi 40 Cỏc
nghiờn cứu cho thấy ở lứa tuổi trờn 60,
cứ tăng 5 tuổi thỡ số lượng người mắc hội
chứng SSTT tăng 2 lần Như vậy, ở lứa
tuổi 80 cú đến một phần ba nguowif mắc
hội chứng này [6] SSTT từng được coi là
nỗi sự hói lớn nhất của tuổi già với một
lạot những biểu hiện sa sỳt nhận thức, trớ
nhớ, ngụng ngữ, thị giỏc, tỡnh cảm và cỏ
tớnh Liệu SSTT cú phải là một hội chứng
bệnh lý? Cõu hỏi này hiện nay chưa cú
được cõu trả lời thoả đỏng [2] Tuy nhiờn
theo quan điểm của cỏc chuyờn gia về
Thần kinh học thỡ SSTT là một tỡnh trạng
bệnh lý của hệ thống thần kinh bởi một
số lý do: (i) đõy là một bệnh của nóo
nguyờn nhõn là do sự sa sỳt về nhận
thức; (ii) sự sa sỳt về nhận thức này là
một tỡnh trạng bệnh lý và được coi như là
một loại bệnh tõm thần [5] Dự đứng trờn
quan điểm nào thỡ cỏc nhà y học đều
thống nhất quan điểm rằng SSTT là hậu
quả trực tiếp của cỏc quỏ trỡnh thoỏi hoỏ
thần kinh do nhiều nguyờn nhõn khỏ
nhau trong đú Alzheimer (AD) là nguyờn
nhõn phổ biến nhất [3] Nguyờn nhõn gõy
ra AD rất phức tạp và liờn quan chặt chẽ
với tổn thương gen, chuyển hỏo Protein
amyloid, tau và tỏc động của cỏc yếu tố
mụi trường Trong bài biết này chỳng tụi trỡnh bày những quan điểm mới nhất gề
cơ chế phõn tử bệnh sinh và đề cập đến những phưưong phỏp phỏt hiện sớm AD thụng qua cỏc yếu tố và trạng thỏi nguy
cơ, mà nhưũng trạng thỏi này thưuờng được gọi là “sự sa sỳt nhận thức thể nhẹ” (mial cognitive impairment viết tắt MCI)
II CƠ CHẾ PHÂN TỬ CỦA SSTT
Cỏc nghiờn cứu đó đưa ra những bằng chứng vững chắc về gen và bệnh học dựa trờn giả thuyết “bậc thang amyloid” của AD Giả thuyết này cho rằng amyloid-β42 là dẫn xuất thuỷ phân của phân tử Protein xuyên màng tiền thân amyloid (APP), đóng vai trò quan trọng trong tất cả các trường hợp AD 1 (Hình 1) Khởi đầu của “bậc thang amyloid”, Aβ42 kết tụ gây ra hiện tượng mất neuron thần kinh và SSTT Mặc dug Aβ42 được tạo
ra thường xuyên, song một thời gian dài người ta đã cho rằng chỉ Aβ thể lắng đọng tạo thành các mảng thần kinh amyloid mới là yếu tố độc thần kinh Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy amyloid dạng hoà tan cũng là nhưũng tác nhân gây độc thần kinh Hiện nay, các nhà khoa học đều cho rằng sự hình thành các thể ngưng kết là giai đoạn đầu tiên của quá trình bệnh lý và nhiều nhóm nghiên cứu hiện đang đi sâu nghiên cứu cơ chế bệnh học của quá trình này
Trang 2Tăng sản xuất, giảm thoái háo hạơc tăng kết tụ Aβ42
Polyme hoá và lắng đọng Aβ42 tạo các tấm lan rộng
Aβ42 ioligo ảnh hưuởng nhẹ đến synap
Hoạt hoá hệ miễn dịch (bổ thể, cytokine)
Tổn thương tăng cường synap và tế bào thần kinh
Thay đổi sự cân bằng ion gây tổn thương do oxy hoá
Thay đổi hoạt độ kinase/phosphatase tạo ra các bó rối thần kinh
Suy giảm mạch chức năng các neutron, chế tế bào, suy giảm dẫn truyuền
Sa sút trí tuệ
Hình 1: Giả thuyết bậc thang amyloid
Các giai đoạn của quá trình sinh bệnh
học của Alzheimer trong đó khởi đầu
bằng sự tăng sinh amyloid-β42 (Aβ42)
Kể từ khi được phát hiện năm 1907 bởi
Alzheimer, mãi đến gần đây người ta mới
xác định được một số nguyên nhân gây
nên AD nhờ kỹ thuật phân tích gen hiện
đại Có 5 gen gây nên AD đã được xác
định đó là: 1) tiền protein amyloid
(amyloid precursor protein viết tắt là
APP); 2) presenilin 1 và 2 (PS1 và PS2); 3) apolipoprotein E (APOE) 4)
angiotensin I-converting enzyme Trong
đó 3 gen đầu (APP, PS1 và PS2) đã
được xác định là thủ phạm gây nên AD thể sớm với những triệu chứng điển hình
AD thể này chỉ chiếm khoảng 2-5% trong tổng số các trường hợp AD [4, 7] Hai gen sau là APOE và gen ACE1 thuộc nhóm gen gây ra các yếu tố nguy cơ bệnh học của mạch máu như: xuất huyết não, chảy
Trang 3máu hoặc nhồi máu nhỏ và siêu nhỏ,
hiện tượng thoái hoá vi mạch, tổn thương
hàng rào máu não, dị dạng mạch máu
Trong nhóm gen này, APOE được cho là
đóng vai trò quan trọng hơn cả trong các
quá trình bệnh lý thành mạch nêu trên [4]
Gen APOE được xác định ở vị trí
19q13, mã hoá một protein huyết tương
liên quan đến quá trình vận chuyển và
chuyển hóa cholestrol và các dạng lipid
khác trong cơ thể Ba allen tương ứng
APOE -2, -3, -4 (e2, e3, e4) đã được giải
mã và thể hiện để tổng hợp nên ba dạng
isozyme khác nhau Các bằng chứng
khoa học đã chứng minh vai trò quan
trọng của APOE trong hoạt động của hệ
thần kinh đặc biệt là allen e4 Tại hệ thần
kinh ngoại vi, APOE liên quan đến quá
trình lưu chuyển, phân bố cholesterol,
quá trình sửa chữa, phát triển và duy trì
của myelin và màng các neuron thần kinh
trong quá trình phát triển và tổn thương
Kết quả nghiên cứu giải phẫu bệnh cho
thấy APOE e4 dao động trong khoảng
0,33-0,4 ở bệnh nhân AD trong khi ở
người khỏe mạnh chỉ từ 0,05 đến 0,14 ở
não bệnh nhân AD, có hiện tượng dư thừa
APOE đi kèm với sự xuất hiện các tấm
amyloid Nghiên cứu in vitro cho thấy
APOE có tác dụng kích thích quá trình
polyme hóa Ab để tạo các tấm amyloid
Người ta đã xác định mối quan hệ chặt
chẽ giữa đồng hợp tử gen APOE e4 với
các bệnh nhân AD thể muộn có tính chất
gia đình Đồng hợp tử gen APOE e4 làm
giảm tuổi bắt đầu xuất hiện bệnh của AD
ở cả hai thể trên và kế cả đối với AD thể
sớm so với kiểu dị hợp tử hoặc trường hợp
không có allen e4 Những bệnh nhân có
hội chứng MCI kèm theo đồng hợp tử e4
thì sẽ có nguy cơ tiến triển rất cao thành
AD Tuy nhiên đồng hợp tử gen APOE e2 thì lại có tác dụng bảo vệ AD thể muộn Cơ chế phân tử về vai trò của từng thể APOE trong AD vẫn chưa được sáng tỏ Chỉ biết rằng gen APOE là gen quan trọng nhất trong tổng số 5 loại gen đã
được biết đến là yếu tố nguy cơ cao trong cơ chế bệnh sinh của AD
Gen angiotensin 1-converting enzyme (ACE) là gen được nghiên cứu nhiều trong những năm gần đây trong các bệnh
lý về mạch máu ACE là dipeptidyl carboxypeptidase, một trong những enzyme then chốt trong hệ renin angiotensin có vai trò quan trọng trong quá trình điều hòa huyết áp và cân bằng
điện giải thông qua việc thủy phân angiotensin I thành angiotensin II cũng như bất hoạt bradykinin ACE tồn tại ở hai dạng: dạng gắn với màng tế bào nội mạc của thành mạch và dạng lưu thông tự do trong máu Lượng ACE lưu thông tự do phụ thuộc vào từng cá thể và do yếu tố di truyền quyết định Sự tăng hoạt tính ACE
ở một số vùng của não liên quan mật thiết với quá trình sản xuất acetylcholine
ở những bệnh nhân AD ACE giảm ở dịch não tủy của bệnh nhân AD và một số thể SSTT ACE gen nằm trên nhiễm sắc thể
17, tồn tại dưới hai dạng phân tử trong đó
có thể thêm (I) hoặc mất (D) một phân
đoạn gen có chiều dài 287 đôi base ở intron thứ 16 Các dạng phân tử của ACE1 liên quan mật thiết tới lượng ACE trong huyết thanh và hoạt độ ACE ở mô
ở người có một hoặc 2 allen ACE1*D thì
có nồng độ ACE trong huyết thanh cũng như hoạt độ ở mô cao hơn so với những người đồng hợp tử allen ACE1*I Thể dị hợp tử ACE*D liên quan chặt chẽ với nguy cơ nhồi máu cơ tim và phì đại thất trái Các nghiên cứu gần đây cho thấy thể
Trang 4dị hợp tử này liên quan với sự tăng nguy
cơ bị AD thể muộn đơn độc Nghiên cứu
khác lại khẳng định rằng những bệnh
nhân di truyền allen ACE1*I có nguy cơ
mắc AD cao Sự kết hợp giữa allen
ACE1*I và APOE e4 càng làm tăng cao
nguy cơ của người bệnh đối với AD Cơ
chế phân tử của mối liên quan giữa ACE
với AD vẫn chưa được biết rõ Nghiên cứu
in vitro cho thấy ACE làm giảm quá trình
tổng hợp Ab Do vậy có thể loại trừ khả
năng ACE thúc đẩy quá trình hình thành
thể lắng cặn Ab, một trong những nguyên
nhân gây nên AD Tuy nhiên nhiều bằng
chứng khoa học đã gợi ý đế sự tồn tại các con đường bệnh học liên kết giữa các yếu tố: APOE, ACE, lipid và quá trình chuyển hóa hay biến đổi Ab với cơ chế bệnh sinh của AD
Sự đan xen giữa các bệnh về mạch máu với AD đã khiến các nhà khoa học đi sâu tìm kiếm các gen mới của các yếu tố nguy cơ về mạch máu có liên quan đến
AD Đến thời điểm hiện nay đã có ít nhất gần 10 gen đã được phát hiện tương ứng với các nguy cơ mà chúng gây nên (Bảng 1)
Bảng 1 Gen của các yếu tố nguy cơ bệnh lý mạch máu liên quan tới AD thể muộn
Gen (các dạng hình thái) Vai trò đối với các yếu tố nguy cơ
APOE (NST 19; exon 4: 112-158 dạng)
APOE (đa dạng về promoter)
ACE1 (NST 17; intron 16: I/D)
MTHFR (NST 1; các dạng 677 C/T)
NOS3 (NST 7; exon 7: các dạng G/A)
PON1 (NST 7 ; các dạng 192 A/G)
LRP1 (NST 12; exon 3: các dạng C/T và
dạng nhắc lại 3 nucleotide)
OLR1 (NST 12; intron 4: các dạng A/G;
intron 5: các dạng G/T và dạng đầu 3’
UTR C/T)
ảnh hưởng đến nồng độ cholesterol toàn phần, LDL-cholesterol, APOE huyết thanh
và apoB
Điều hòa sự tổng hợp APOE
ảnh hưởng đến nồng độ ACE huyết tương
ảnh hưởng đến nồng độ homocystein huyết tương
ảnh hưởng mạnh đến giãn mạch
ức chế sự oxy hóa LDL
Điều hòa các proteinase và nồng độ lipoprotein
Liên kết với LDL oxy hóa ở ổ xơ vữa và tham gia vào quá trình chết theo chương trình của tế bào gây ra bởi LDL oxy hóa
Chú thích:
AD, bệnh Alzheimer; APOE,
apolipoprotein E; ACE1, angiotensin I
converting enzyme; MTHFR,
methyltetrahydrofolatereductase; NOS3,
nitric oxide syntase 3; PON1,
paraoxonase 1; LRP1, low-density
lipoprotein receptor-related protein 1;
OLR1, oxidized LDL-receptor 1
III Các yếu tố bệnh lý mạch máu
không phải do gen và AD
Ngoài các yếu tố mạch máu liên quan
đến gen kể trên, có nhiều các yếu tố không liên quan đến gen nhưng cũng là các yếu tố nguy cơ dẫn đến AD như: TC, Lp(a), đái tháo đường, xơ hóa tâm nhĩ, cao huyết áp, xơ vữa động mạch Các nghiên cứu dịch tễ học đã chứng minh rằng các yếu tố trên cũng có mối liên quan với nguy cơ mắc AD thể muộn [4]
IV MCI: chẩn đoán và tiên lượng
Một số nhà khoa học cho rằng MCI chính là tình trạng khởi điểm của SSTT
Trang 5Tuy nhiên việc đưa ra những tiêu chí lâm
sàng giúp cho việc chẩn đoán sớm tình
trạng bệnh lý này vẫn còn là vấn đề đang
được bàn cãi Một số nhóm nhấn mạnh
đến việc theo dõi quá trình giảm trí nhớ
sử dụng các thiết bị chẩn đoán sàng lọc
hoặc ít nhất cũng là phát hiện những rối
loạn trong cuộc sống hàng ngày Các
nhóm khác lại áp dụng những tiêu chí
cứng nhắc về tâm lý học thần kinh (> 1,5
điểm so với bình thường) để đánh giá sự
sa sút trí nhớ song song với sự bảo tồn
các khả năng nhận thức khác [4] Hai vấn
đề quan trọng nhất đặt ra cho các test về
trí nhớ là: (i) phải xác định mức độ sa sút
(có tính đặc hiệu và độ nhậy cao); (ii)
bằng cách nào để loại trừ những bệnh
nhân có các thương tổn khác về nhận
thức Chính việc sử dụng các tiêu chí
khác nhau để chẩn đoán xác định và loại
trừ là nguyên nhân tạo ra tỷ lệ sai số lớn
trong việc đánh giá tỷ lệ phần trăm MCI
chuyển thành AD Các test tâm lý học
thần kinh cho thấy hàng năm khoảng 12
đến 15% bệnh nhân MCI chuyển thành
thể SSTT Tỷ lệ này cao hơn hàng chục
lần so với tỷ lệ bệnh nhân SSTT trong
quần thể dân cư bình thường Một số
nghiên cứu gần đây đã chỉ ra thời điểm
mà các bệnh nhân MCI sẽ chuyển thành
SSTT Trong khi các nghiên cứu khác lại
cho rằng việc áp dụng những tiêu chí một
cách cứng rắn, máy móc cho nghiên cứu
cộng đồng sẽ đưa ra phỏng đoán thiếu
chính xác Dù sao thì phương pháp
nghiên cứu tiến cứu dọc (follow up) luôn
là phương pháp có giá trị trong việc chẩn
đoán và tiên lượng MCI
Để phát hiện sớm AD, công cụ chẩn
đoán phải đủ nhậy để có thể giúp phát
hiện sớm những thay đổi nhận thức ở
bệnh nhân AD Tuy nhiên công cụ và
phương pháp chẩn đoán đó cũng phải có khả năng phân biệt giữa AD thể sớm với
sự lão hóa bình thường của tuổi già hay với các thương tổn khác của não gây mất trí nhớ và đặc biệt là trạng thái trầm cảm Dưới đây là một số phương pháp chẩn
đoán AD sớm hiện đang được sử dụng:
- Test chẩn đoán: Ưu điểm là giúp cho chẩn đoán sàng lọc nhanh, dễ dàng áp dụng trong quần thể dân cư lớn Tuy nhiên điều cần thiết là phải thiết kế cho
được các bộ test có tính thực tế, đơn giản,
rẻ và có khả năng áp dụng rộng rãi
- Các dấu ấn sinh học trong dịch não tủy: Đây là phương pháp chẩn đoán sớm, chính xác Hiện nay, các nghiên cứu tập
trung định lượng protein tau và Ab1-42
(amyloid-b42) Tuy nhiên hiện nay các xét nghiệm này chưa phải là các xét nghiệm thường quy để chẩn đoán AD Hơn nữa giá trị của từng dấu ấn sinh học trong việc chẩn đoán sớm AD vẫn còn nhiều vấn đề bàn cãi Chính vì vậy, các nhà khoa học đang tập trung nghiên cứu tìm ra những dấu ấn sinh học đặc hiệu và
có khả năng áp dụng thường quy để góp phần phát hiện sớm AD
- Nghiên cứu tâm lý thần kinh và chẩn
đoán hình ảnh: Vấn đề nan giải nhất của hai kỹ thuật này là độ tin cậy trong việc
đánh giá mức độ bệnh của từng cá thể trong giai đoạn sớm của quá trình bệnh
lý, chẩn đoán phân biệt với các bệnh lý không phải AD, các tình trạng bệnh lý tâm thần hay rối loạn của tuổi già
- Nghiên cứu ở mức độ phân tử: Đây là hướng nghiên cứu đang được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nhằm tìm
ra những thay đổi nhỏ nhất ở mức độ phân tử ngay trong gian đoạn khởi phát của bệnh
Trang 6V Kết luận
Các nhà khoa học hiện nay vẫn tiếp
tục nghiên cứu để xác định: liệu các yếu
tố di truyền có phải là nguyên nhân hàng
đầu dẫn đến AD? Đột biến một trong 3
gen (PSEN1, PSEN2 và APP) được xác
định là tác nhân gây nên AD thể sớm
Tuy nhiên số bệnh nhân AD thể sớm chỉ
chiếm một tỷ lệ phần trăm rất nhỏ trong
tổng số AD Cho dù chưa xác định được
chính xác một yếu tố di truyền nào liên
quan trực tiếp với AD thể muộn song
trong khoảng thời gian 10 năm trở lại đây,
gen của các yếu tố nguy cơ dẫn đến thể
bệnh này được xác định ngày một nhiều
đặc biệt là gen gây nên các yếu tố nguy
cơ về bệnh lý của mạch máu Trong số
đó APOE được nhiều nhà khoa học coi là
yếu tố nguy cơ cao nhất đối với cả hai thể
bệnh: bệnh lý của mạch máu và AD Dù
thế nào thì yếu tố nguy cơ về gen cũng
phải được giải thích và đặt trong bối cảnh
giữa các mối liên quan chặt chẽ với môi
trường, dân tộc, địa lý và lãnh thổ
Tài liệu tham khảo
1 Citron, M Strategies for disease
modification in Alzheimer’s disease
Nature Review Neurosciences 5, 677-685
(2004)
2 Friedenberg, R M Dementia: One
of the greatest fears of aging Radiology
229, 632-635 (2003)
3 Nestor P J., Scheltens P., Hodges J R Advances in the early
detection of Alzheimer’s disease Nature Review Neuroscience S34-S41, (2004)
4 Panza, F., Introno, A D., Colacicci, A M., et al Vaccular risk and
genetics of sporadic late-onset
Alzheimer’s disease Journal of neural transmission 111, 69-89 (2004)
5 Peng, F C C Is dementia a
disease? Gerontology 49, 384-391
(2003)
6 Ritchie, K., Lovestone, S The
dementia Lancet 360, 1759-1766 (2002)
7 Van-Pericak, M A., Grubber, J.,
Bailey, R L et al Indentification of novel
genes in late-onset Alzheimer’s disease
Experimental Gerontology 35, 1343-1352
(2000)
Summary
Molecular mechanism and diagnosis principles of
dementias
So far, it has been clear that mutations in three genes: PSEN1, PSEN2, and APP caused early onset autosomal-dominant familial Alzheimer (AD), that consists of only 2-5% of the total AD cases In the last decade, it was likely that genetic factors may play
an important role in the development of late-onset Alzheimer’s disease (LOAD) and other dementias There are many strong evidents indicating environmental and genetic vascular factors implicated in developing of LOAD However, many of these researchs have shown conflicting results Apolipoprotein E (APOE) gene, one of the vascular susceptibility factors seems to be the most important one in the AD pathogenesis In this review we mainly focus on the current knowledge on molecular mechanism of genetic and nongenetic vascular factors involved in LOAD and its principles of clinical diagnosis