Nghiên cứu nhu cầu và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại nội thành Hà Nội Trương Việt Dũng 1 và cộng sự 2 1 Trường Đại học Y Hà Nội, 2 CBYT các TTYT quận HK, BĐ, ĐĐ, Hà Nội Nghiên cứu
Trang 1Nghiên cứu nhu cầu và sử dụng dịch vụ
khám chữa bệnh tại nội thành Hà Nội
Trương Việt Dũng 1
và cộng sự 2
1 Trường Đại học Y Hà Nội, 2
CBYT các TTYT quận HK, BĐ, ĐĐ, Hà Nội
Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp điều tra chọn mẫu gồm 2099 hộ gia đình
tại 3 quận nội thành Hà Nội, kết quả cho thấy:
- Tần suất ốm của một người/năm là 1,05 lượt có sự khác nhau giữa các nhóm tuổi, trẻ
em (<15 tuổi) và người cao tuổi (60+) có tần suất ốm nhiều gấp 2-3 lần so với các nhóm tuổi khác, chưa thấy có sự chênh lệch giữa hai giới
- Khi ốm, cách lựa chọn nhiều nhất là tự mua thuốc về chữa (36,5%), thứ đến là bệnh viện KCB ngoại trú (27,6%), đến y tế phường 21%, đến y tế tư (11,3%) Tỷ lệ đến bệnh viện điều trị nội trú rất thấp (2,6%) Yếu tố tác động đến cách lựa chọn cơ sở KCB quan trọng nhất là tính tiện lợi, trình độ chuyên môn, thái độ tốt, tình trạng bệnh Giá cả không
thật quan trọng, trừ khi phải nằm điều trị nội trú tại bệnh viện
i Đặt vấn đề
Việc tìm hiểu nhu cầu CSSK của cộng
đồng cũng quan trọng như tìm hiểu thị
trường của các nhà sản xuất, kinh doanh
Mỗi cộng đồng có những nhu cầu và yêu
cầu khác nhau, không chỉ phụ thuộc vào
tình hình ốm đau bệnh tật, vào các yếu tố
nguy cơ tới sức khoẻ mà còn tuỳ thuộc vào
các hành vi ứng xử y tế cũng như mối quan
hệ qua lại giữa người cung cấp và người sử
dụng dịch vụ y tế
Hiện nay, những thống kê bệnh tật từ
các hệ thống y tế nhà nước không còn là
nguồn số liệu chính xác về nhu cầu cũng
như sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của
cộng đồng Vì vậy, khá nhiều công trình
nghiên cứu trong hơn 10 năm lại đây đã
tập trung tìm hiểu nhu cầu từ các hộ gia
đình, tuy nhiên các nghiên cứu này thường
hay tiến hành ở các cộng đồng nông thôn
mà ít chú ý tới cộng đồng thành thị [2, 4, 5,
6]
Những câu hỏi đặt ra cho người quản lý
y tế là: tần suất ốm đau của một người trong năm là bao nhiêu, có những khác biệt gì theo giới, tuổi, theo tình trạng kinh
tế hộ gia đình, khi ốm người ta đã đến đâu
để khám chữa bệnh, các cơ sở y tế nhà nước đáp ứng được đến đâu đối với các nhu cầu đó Khi có câu trả lời cho các câu hỏi trên người ta sẽ quy hoạch và lập kế hoạch hệ thống khám chữa bệnh trên địa bàn một cách hiệu quả hơn, thu hút được người ốm đến các cơ sở y tế công nhiều hơn, nâng cao hiệu quả của công tác này
Để góp thêm những số liệu về nhu cầu khám chữa bệnh của cộng đồng đô thị nội thành Hà Nội Được sự hỗ trợ của TCYTTG chúng tôi đã tiến hành đề tài này vào tháng 5 –9 năm 2002 nhằm mục tiêu sau:
1 Mô tả nhu cầu khám chữa bệnh của các hộ gia đình
2 Phân tích tình hình sử dụng dịch vụ y
tế và các yếu tố chính liên quan đến sử dụng dịch vụ y tế
Trang 2ii Đối tượng và phương pháp
nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu:
Để đánh giá nhu cầu và tình hình đáp
ứng nhu cầu CSSK của người dân ba quận
nội thành Hà Nội
Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
Cỡ mẫu: dùng công thức tính với mẫu
cho mô tả
Cỡ mẫu điều tra thực tế cho 3 quận là
2099 hộ
Cách chọn mẫu
- Chọn quận theo phương pháp ngẫu
nhiên đơn: Đống Đa, Ba Đình, Hoàn Kiếm
- Chọn phường: Từ mỗi quận, chọn 10
phường theo phương pháp ngẫu nhiên
đơn
- Chọn hộ gia đình: Theo phương pháp
ngẫu nhiên có hệ thống, lấy nhà đầu tiên
và các hộ gia đình tiếp theo được chọn
theo nguyên tắc “cổng liền cổng”
2 Phương pháp nghiên cứu
(1) Phỏng vấn trực tiếp người sử dụng
dịch vụ y tế:
Tập huấn cho các điều tra viên là cán
bộ y tế các phường
Quá trình phỏng vấn hộ gia đình được
giám sát bởi 2 giám sát viên của TTYT
huyện và tác giả Các câu hỏi mở được mã hoá Sau khi kiểm tra, loại bỏ các sai sót,
số liệu được nhập vào máy tính với phần mềm Foxpro Việc xử lý số liệu được thực hiện ở Phòng Thống kê - Tin học của Vụ
kế hoạch - Bộ Y tế
Nội dung nghiên cứu và các nhóm chỉ số thu thập:
(2) Đặc điểm hộ gia đình
- Các chỉ số nhân khẩu học, điều kiện kinh tế, tiếp cận
(3) Nhu cầu chăm sóc sức khoẻ theo các đặc trưng nhân khẩu học:
- Tần suất ốm trong 2 tuần, mức độ nặng nhẹ, phân bố theo nhóm tuổi, giới (3) Sử dụng dịch vụ y tế và các yếu tố
ảnh hưởng (nhân khẩu, địa dư, kinh tế hộ gia đình)
- Cách lựa chọn khi bị ốm, những yếu tố quyết định lựa chọn cơ sở y tế, cách sử trí iii Kết quả
1 Tình hình kinh tế của hộ gia đình
1.1 Tình trạng kinh tế của hộ gia đình
tự nhận xét:
4.8
78.6
15.9
0.7 0
20
40
60
80
100
%
Biểu đồ 1: Mức giàu nghèo tự nhận của hộ gia đình
Trang 3Chỉ chưa đầy 5% số hộ tự cho rằng gia đình mình thuộc diện nghèo và rất nghèo Hộ
đủ ăn chiếm đại đa số
1.2 Tình hình thu nhập của các hộ gia đình theo nhóm ngũ phân:
Bảng 1: Tình hình thu nhập của hộ gia đình
Nhóm thu nhập
(Ngũ phân)
Bình quân thu nhập đầu người (ngàn)
% so với tổng số % cộng dồn
Thu nhập thấp nhất (Q5) 4396 10,7 10,7
Thu nhập thấp (Q4) 6469 15,7 26,4
Thu nhập TB (Q3) 7553 18,3 44,7
Thu nhập cao (Q2) 9556 23,2 67,9
Thu nhập cao nhất (Q1) 13226 32,1 100
Tỷ số Q5/Q1=3; Q2/Q1=1,4 có sự chệnh lệch đáng kể giữa các nhóm dân cư 20% dân
số của nhóm có thu nhập cao nhất đã chiếm 32,1% thu nhập của toàn bộ các hộ nghiên cứu Trong khi đó cũng 20% dân số nhóm thu nhập thấp nhất chỉ chiếm 10,7% Mức chênh lệch Q5/Q1 tới 3 lần
2 Tình hình ốm đau và ước tính nhu cầu khám chữa bệnh:
Bảng 2: Tình hình ốm trong 2 tuần trước điều tra:
Số hộ dân % ốm Ước tính đợt ng/năm
Tỷ lệ ốm chung
nghiên cứu
8823 4,03 1,05
Tỷ lệ ốm
theo giới
Nam Nữ
4241
4582
4,03 4,02
1,05 1,05
Tỷ lệ ốm
theo nhóm
tuổi
0-5 6-15 16-59 60+
812
1394
5770
847
10,3 3,4 2,7 9,6
2,7 0,9 0,7 2,15
- Mức độ ốm: 83,5% số người ốm trên 5
ngày, 16,5% số người ốm dưới 5 ngày
51,65 ốm nhưng vẫn làm việc được gần
như bình thường, 21,70% ốm phải nghỉ
việc, nghỉ học, 11,26% ốm phải nằm một
chỗ, 15,38% ốm cần có người chăm sóc
- Trung bình trong thời gian 2 tuần có
4,03 người bị ốm không có sự khác biệt về
tần suất ốm giữa nam và nữ (p>0,05)
- Trẻ <5 tuổi và người cao tuổi, già có tỷ
lệ ốm cao hơn các nhóm tuổi khác
- Người ốm trên 5 ngày chiếm đa số (83,5%)
- Người ốm có ảnh hưởng tới sinh hoạt, lao động chiếm xấp xỉ 50% số trường hợp
Trang 43 Tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh:
3.1 Tiếp cận với cơ sở y tế (theo khoảng cách)
Bảng 3: Tiếp cận theo khoảng cách đến cơ sở y tế
Cơ sở y tế
Mức độ tiếp cận
Y tế phường (%) Bệnh viện gần nhất (%)
Không khó đi lắm 0,5 0,9
Chưa đến bao giờ 2,1 0,05
Gần như tất cả các hộ gia đình không
gặp trở ngại gì về đường đi đến cơ sở y tế
3.2 Tình hình tiếp xúc với cán bộ y tế
trong 1 tháng:
- Trong thời gian 1 tháng, trung bình có
39,8 số hộ được cán bộ y tế đến thăm và
6,3 hộ đã đến trạm y tế phường
- Cán bộ y tế phường đến thăm hộ gia
đình với nhiệm vụ vận động sinh đẻ kế
hoạch (31,92%) và tuyên truyền VSPB là
chính (50,64%) Chăm sóc sức khoẻ tại
nhà rất ít (6,3%)
- Tỷ lệ hộ gia đình có thầy thuốc tư đến
nhà rất thấp (4/2099) và chủ yếu là để
khám chữa bệnh tại nhà
3.3 Sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh
của các trường hợp ốm:
Bảng 4: Các cách xử trí khi ốm
Nơi/cách xử trí n %
1 Tự mua thuốc về chữa
2 Đến y tế phường
3 Đến thầy thuốc YHCT
4 Đến thầy thuốc tư (Tây y)
5 Điều trị nội trú
6 KCB ngoại trú BV
135
78
3
42
10
102
36,5 21,0 1,0 11,3 2,6 27,6
Mua thuốc về chữa là hình thức phổ biến nhất, y tế phường được sử dụng với tỷ
lệ 21% thấp hơn một chút so với hình thức KCB ngoại trú tại bệnh viện và phòng khám Điều trị nội trú chiếm tỷ lệ rất thấp (2,6%)
3.4 Những lý do tìm kiếm một cơ sở KCB khi ốm
Bảng 5: Phân bố các lý do lựa chọn
cơ sở y tế
Trình độ chuyên môn, thái độ tốt Giá cả phải chăng
Gần nhà, tiến lợi, quen biết
Tình trạng nặng nhẹ của bệnh
27,6 14,5 35,2 22,7 Các lý do quan trọng nhất khi quyết
định đến một cơ sở khám chữa bệnh là tính tiện lợi và trình độ chuyên môn, thái độ phục vụ tốt
Bảng 6: Lý do đầu tiên khiến người ốm
chọn một cơ sở y tế KCB
Cơ sở KCB % Trạm y tế phường: bệnh nhẹ
Bệnh viện (KCB ngoại trú): bệnh nặng
Bệnh viện (Nội trú): bệnh nặng
Y tế tư nhân: gần, tiện lợi
64,8 43,0
42,3 55,5
Trang 5Có sự khác nhau về lý do lựa chọn cơ
sở KCB, trong đó đến y tế phường chủ yếu
khi bệnh nhẹ, đến BV khi cần dịch vụ có
chất lượng còn đến y tế tư nhân là do gần
nhà, tiện lợi
4 Chi phí và khả năng chi trả:
- Mức chi phí trung bình cho một trường
hợp ốm phải trả phí là 285000đ
- Mức chênh lệch giữa nhóm có thu
nhập thấp nhất so với nhóm có thu nhập
cao nhất tới 3 lần
- Tỷ lệ hộ có khả năng trả phí khi có
trường hợp ốm bằng tiền có sẵn trong nhà:
93,5%
- Nếu phải đi bệnh viện KCB ngoại trú
77,2% có khả năng chi trả ngay không
phải vay mượn trong khi đó nếu phải nằm
điều trị nội trú, tỷ lệ này là 50%
iv Bàn luận
Khác với các cuộc điều tra trước đây
của chúng tôi ở Hà Nội năm 1996 Khi đó
tiến hành nghiên cứu cả khu vực nội thành
và ngoại thành [6], nghiên cứu này chỉ tiến
hành ở 3 quận nội thành Tỷ lệ đủ ăn là
78%, so với 2 điều tra khác ở nông thôn
miền núi Yên Bái và đồng bằng Thanh
Hoá, tỷ lệ người đủ ăn ở nội thành Hà Nội
cao hơn Mức chênh lệch giàu nghèo ở
đây cũng không lớn: 3 lần so với mức
chệnh lệch của 2 điểm kia là 6,2 lần và 6,7
lần [4], [5] Điều kiện kinh tế và mức chênh
lệch giầu nghèo có thể ảnh hưởng không
chỉ mức độ ốm đau mà còn tới cách tìm
kiếm dịch vụ KCB và nhất là tới khả năng
chi trả
Tình hình ốm đau phản ánh một phần
nhu cầu KCB của một cộng đồng Do số
liệu thống kê từ các cơ sở y tế chỉ phản
ánh một phần tình hình ốm đau của cộng
đồng, việc điều tra tình hình ốm đau trong
2 tuần đã trở thành phương pháp phổ biến
ở nước ngoài cũng như ở ta [2, 3, 6, 7] Cho dù chưa phải là phương pháp tối ưu (vì còn phụ thuộc vào thời điểm điều tra, tình hình dịch bệnh) nhưng để tìm hiểu thái
độ và thực tế ứng xử y tế (Lựa chọn cơ sở KCB) mỗi khi bị ốm là đáng tin cậy Để nhận định sự khác biệt về nhu cầu KCB giữa các nhóm tuổi, giới cũng như nhóm dân cư giàu nghèo khác nhau ngay trong một thời điểm cách hỏi về ốm đau cũng như ứng xử y tế là có giá trị khoa học và
được chấp nhận ở trong và ngoài nước [1, 7]
Kết quả trong bảng 2 cho thấy bình quân một người ốm với mức độ rõ rệt (có
ảnh hưởng tới sinh hoạt bình thường) khoảng 1 lần/năm Tỷ lệ này không khác nhau nhiều theo giới nhưng rất khác nhau theo lứa tuổi Điều này nói lên các nhóm tuổi khác nhau có nhu cầu KCB khác nhau Trẻ em và người cao tuổi, người già
có tần suất ốm gấp 2,5 đến 2,7 lần so với
tỷ lệ chung và gấp 3-4 lần so với 2 nhóm tuổi còn lại Do cỡ mẫu 2099 hộ và số dân
8823 người vẫn còn nhỏ khi nhận xét tình hình ốm đau trong 2 tuần, sự khác biệt về giới chưa thể hiện rõ như trong các nghiên cứu khác [4, 5] Kết quả này cũng không khác nhiều so với kết quả nghiên cứu trước
đây của chúng tôi cũng trên địa bàn Hà Nội [6] Như vậy có thể sơ bộ nhận định rằng chưa có sự thay đổi trong thời gian vừa qua về nhu cầu KCB ở địa bàn này
Về tiếp cận với cơ sở y tế, chỉ tiêu quan trọng nhất là khoảng cách Nhìn chung, ở nội thành không có khó khăn gì về tiếp cận song vẫn có 2,1% số hộ chưa bao giờ đến
y tế phường Vấn đề tiếp cận không chỉ liên quan đến khoảng cách mà còn tính tiện lợi của dịch vụ, niềm tin vào cơ sở y tế
đó và vào những cản trở về tài chính (giá cả), trong nghiên cứu này chưa đi sâu vào
Trang 6các yếu tố đó song trong mục 2,3,4, bảng
5 và 6, khi bàn luận về những lý do lựa
chọn cơ sở KCB Một khi có người ốm
trong nhà, quyết định đi đâu để KCB thì
yếu tố gần nhà, thời gian làm việc tiện lợi
đóng vai trò quan trọng nhất (35,2%) trong
khi đó yếu tố giá cả chỉ chiếm tỷ trọng thấp
hơn (14,5%) Đối với bệnh nhân đến thầy
thuốc tư nhân 55,5% do gần nhà và thời
gian tiện lợi Kết quả này cũng khá trùng
hợp với điều tra tại địa phương khác [2, 6]
Cho dù CSYT cả tư nhân và nhà nước
sẵn sàng cung cấp dịch vụ KCB nhưng
cho tới nay, cách lựa chọn đầu tiên vẫn là
tự mua thuốc về chữa Kết quả trong bảng
4 cho thấy có tới 36,5% số trường hợp ốm
đã tự mua thuốc về chữa, tỷ lệ này rất gần
với tỷ lệ 31,2% trong điều tra trước đây của
chúng tôi năm 1995 và thấp hơn so với
điều tra ở nông thôn đồng bằng Thanh
Hoá (50%) nhưng cao hơn so với nông
thôn miền núi Yên Bái (27,7%) [4],[5] Sở
dĩ có sự khác nhau này chúng tôi cho rằng
ở miền núi do không có nhiều nơi mua
thuốc cũng như rất ít y tế tư nhân hoạt
động, bệnh viện thì xa nên cơ sở KCB
quan trọng nhất là TYT xã Đối với vùng
nông thôn đồng bằng người bán thuốc tư
nhân không nhiều hơn ở thành phố, song
khả năng kinh tế lại hạn chế hơn nên vẫn
chọn cách mua thuốc về chữa là phổ biến
nhất Kết quả của các nghiên cứu khác
còn cao hơn [2]
Trong nghiên cứu trước đây của chúng
tôi năm 1995, tỷ lệ người ốm đến y tế
phường cũng khá thấp 18,3%, trong thời
gian này, sau 5 năm tỷ lệ này vẫn chỉ là
21% Như vậy cũng như phương thức tự
mua thuốc về chữa, tình hình sử dụng trạm
y tế phường nội thành của người dân vẫn
không thay đổi Tỷ lệ sử dụng y tế phường
ở Hà Nội trong cùng thời điểm so với 2 địa
bàn nghiên cứu cho thấy cao hơn một chút
so với nông thôn Thanh Hoá (17,2%) song thấp hơn nhiều so với điểm nghiên cứu ở Yên Bái (48,5%) Hoạt động KCB ở trạm y
tế phường chưa phải là nhiệm vụ hàng
đầu
Nếu có sự khác nhau không nhiều trong
sử dụng dịch vụ KCB của trạm y tế phường
so với TYT xã đồng bằng thì tỷ lệ sử dụng bệnh viện ở nội thành lại có sự khác biết khá lớn và mang đặc trưng thành thị rất rõ Qua các công trình nghiên cứu trước đây cũng như tại 2 điểm nghiên cứu cùng thời
điểm này, tỷ lệ người ốm đến bệnh viện dao động từ 5-10% số trường hợp ốm [1, 2, 6] Trong nghiên cứu ở nội thành này tỷ lệ
sử dụng bệnh viện rất cao, tổng cộng đến 30,2% Điều đáng để ý hơn là tỷ lệ đến KCB ngoại trú rất cao (27,6%) trong khi đó chỉ có 2,6% phải nằm điều trị nội trú tại bệnh viện, đây là một đặc điểm đáng chú ý
để bố trí hệ thống KCB ngoại trú ở khu vực thành thị với nhiệm vụ nặng nề hơn khu vực điều trị nội trú Nếu so sánh tỷ lệ điều trị nội và ngoài trú ở các khu vực nông thôn, mức chênh lệch không nhiều thậm chí ở vùng khó khăn, tỷ lệ KCB ngoại trú
có thể còn thấp hơn so với điều trị nội trú
Điều này cũng cho thấy người thành thị khi
ốm đã tìm đến cơ sở bệnh viện sớm hơn vì vậy không đợi đến lúc bệnh nặng để đến viện là phải nhập viện Về mức chi phí và khả năng chi trả, mức chi phí trung bình cho một đợt ốm khá cao, trên 280000đ, cao hơn số trung bình về chi phí y tế của một người trong nghiên cứu trước đây [1] Tuy nhiên khả năng chi trả lại cao hơn, thể hiện là tỷ lệ người có sẵn tiền để trả nói chung lại cao (93,5%) Nếu phải nằm điều trị nội trú, chỉ có 50% số trường hợp ốm có sẵn tiền trong nhà để thanh toán Đây có
Trang 7thể là một yếu tố khiến người dân chọn
cách điều trị nội trú với tỷ lệ rất thấp
v Kết luận
- Tần suất ốm của một người/năm là
1,05 lượt có sự khác nhau giữa các nhóm
tuổi, trẻ em (<15 tuổi) và người cao tuổi
(60+) có tần suất ốm nhiều gấp 2-3 lần so
với các nhóm tuổi khác, chưa thấy có sự
chênh lệch giữa hai giới
- Khi ốm, cách lựa chọn nhiều nhất là tự
mua thuốc về chữa (36,5%), thứ đến là
bệnh viện KCB ngoại trú (27,6%), đến y tế
phường 21%, đến y tế tư (11,3%) Tỷ lệ
đến bệnh viện điều trị nội trú rất thấp
(2,6%) Yếu tố tác động đến cách lựa chọn
cơ sở KCB quan trọng nhất là tính tiện lợi,
trình độ chuyên môn, thái độ tốt, tình trạng
bệnh Giá cả không thật quan trọng, trừ khi
phải nằm điều trị nội trú tại bệnh viện
Tài liệu tham khảo
1 Trần Thị Trung Chiến (2003) Y tế
công cộng Việt Nam NXB Y học, Hà Nội
2 Bội Y tế, Đơn vị chính sách, Vụ kế
hoạch (2002) Nghiên cứu theo dõi điểm
(Seltinel) về tình hình cung cấp và sử dụng dịch vụ y tế tại 28 xã nông thôn trong 2 năm 2000 – 2001 Hà Nội, 4/2002, 131 trg
3 Dicker A Armstrong D (1995) Patients’ views of Priority setting in health care: An interview survey in one practice BMJ, p 1137-1139
4 Trương Việt Dũng (2002) Báo cáo kết quả điều tra thông tin y tế từ hộ gia
đình tại Yên Bái (Đề tài nghiên cứu trong
dự án hợp tác y tế Việt Nam –WHO) Tài liệu chưa xuất bản
5 Trương Việt Dũng (2002) Báo cáo kết quả điều tra thông tin y tế từ hộ gia
đình tại Thanh Hoá (Đề tài nghiên cứu trong dự án hợp tác y tế Việt Nam –WHO) Tài liệu chưa xuất bản
6 Trương Việt Dũng, Đào Xuân Vinh Phạm Ngọc Đính (1996) Bước đầu tìm hiểu ở Hà Nội Y học thực hành, số 1, tr 22-24
7 World Bank (1992) The health of adults in the Developing world Oxford Universty Press 350p
Summary
Study on the health needs and utilization of
curative care in Hanoi metropolitan
The household sampling survey was conducted in 2099 households in 3 districts by using questionnaire, the results showed that:
Average episode per person per year was estimated 1.05; there also differences among age groups, children under 5 and aging groups were got sick more frequently 2 –3 times than those other groups There was, however, still not found the gender differences Once got sick, the most popular choices were self-medication (36.5%), out patient care (27.6%), CHS (21%) and private clinics (11.3%) Inpatient care was composed of only 2.6%
It was showed that factors influenced the choices a facility firstly conveniences, quality of care, good attitudes and severity of conditions Price of services was not an important determinant, excluding in case of hospitalization