1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu nhu cầu và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại nội thành Hà Nội pdf

7 1,9K 45
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 168,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu nhu cầu và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại nội thành Hà Nội Trương Việt Dũng 1 và cộng sự 2 1 Trường Đại học Y Hà Nội, 2 CBYT các TTYT quận HK, BĐ, ĐĐ, Hà Nội Nghiên cứu

Trang 1

Nghiên cứu nhu cầu và sử dụng dịch vụ

khám chữa bệnh tại nội thành Hà Nội

Trương Việt Dũng 1

và cộng sự 2

1 Trường Đại học Y Hà Nội, 2

CBYT các TTYT quận HK, BĐ, ĐĐ, Hà Nội

Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp điều tra chọn mẫu gồm 2099 hộ gia đình

tại 3 quận nội thành Hà Nội, kết quả cho thấy:

- Tần suất ốm của một người/năm là 1,05 lượt có sự khác nhau giữa các nhóm tuổi, trẻ

em (<15 tuổi) và người cao tuổi (60+) có tần suất ốm nhiều gấp 2-3 lần so với các nhóm tuổi khác, chưa thấy có sự chênh lệch giữa hai giới

- Khi ốm, cách lựa chọn nhiều nhất là tự mua thuốc về chữa (36,5%), thứ đến là bệnh viện KCB ngoại trú (27,6%), đến y tế phường 21%, đến y tế tư (11,3%) Tỷ lệ đến bệnh viện điều trị nội trú rất thấp (2,6%) Yếu tố tác động đến cách lựa chọn cơ sở KCB quan trọng nhất là tính tiện lợi, trình độ chuyên môn, thái độ tốt, tình trạng bệnh Giá cả không

thật quan trọng, trừ khi phải nằm điều trị nội trú tại bệnh viện

i Đặt vấn đề

Việc tìm hiểu nhu cầu CSSK của cộng

đồng cũng quan trọng như tìm hiểu thị

trường của các nhà sản xuất, kinh doanh

Mỗi cộng đồng có những nhu cầu và yêu

cầu khác nhau, không chỉ phụ thuộc vào

tình hình ốm đau bệnh tật, vào các yếu tố

nguy cơ tới sức khoẻ mà còn tuỳ thuộc vào

các hành vi ứng xử y tế cũng như mối quan

hệ qua lại giữa người cung cấp và người sử

dụng dịch vụ y tế

Hiện nay, những thống kê bệnh tật từ

các hệ thống y tế nhà nước không còn là

nguồn số liệu chính xác về nhu cầu cũng

như sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của

cộng đồng Vì vậy, khá nhiều công trình

nghiên cứu trong hơn 10 năm lại đây đã

tập trung tìm hiểu nhu cầu từ các hộ gia

đình, tuy nhiên các nghiên cứu này thường

hay tiến hành ở các cộng đồng nông thôn

mà ít chú ý tới cộng đồng thành thị [2, 4, 5,

6]

Những câu hỏi đặt ra cho người quản lý

y tế là: tần suất ốm đau của một người trong năm là bao nhiêu, có những khác biệt gì theo giới, tuổi, theo tình trạng kinh

tế hộ gia đình, khi ốm người ta đã đến đâu

để khám chữa bệnh, các cơ sở y tế nhà nước đáp ứng được đến đâu đối với các nhu cầu đó Khi có câu trả lời cho các câu hỏi trên người ta sẽ quy hoạch và lập kế hoạch hệ thống khám chữa bệnh trên địa bàn một cách hiệu quả hơn, thu hút được người ốm đến các cơ sở y tế công nhiều hơn, nâng cao hiệu quả của công tác này

Để góp thêm những số liệu về nhu cầu khám chữa bệnh của cộng đồng đô thị nội thành Hà Nội Được sự hỗ trợ của TCYTTG chúng tôi đã tiến hành đề tài này vào tháng 5 –9 năm 2002 nhằm mục tiêu sau:

1 Mô tả nhu cầu khám chữa bệnh của các hộ gia đình

2 Phân tích tình hình sử dụng dịch vụ y

tế và các yếu tố chính liên quan đến sử dụng dịch vụ y tế

Trang 2

ii Đối tượng và phương pháp

nghiên cứu

1 Đối tượng nghiên cứu:

Để đánh giá nhu cầu và tình hình đáp

ứng nhu cầu CSSK của người dân ba quận

nội thành Hà Nội

Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

Cỡ mẫu: dùng công thức tính với mẫu

cho mô tả

Cỡ mẫu điều tra thực tế cho 3 quận là

2099 hộ

Cách chọn mẫu

- Chọn quận theo phương pháp ngẫu

nhiên đơn: Đống Đa, Ba Đình, Hoàn Kiếm

- Chọn phường: Từ mỗi quận, chọn 10

phường theo phương pháp ngẫu nhiên

đơn

- Chọn hộ gia đình: Theo phương pháp

ngẫu nhiên có hệ thống, lấy nhà đầu tiên

và các hộ gia đình tiếp theo được chọn

theo nguyên tắc “cổng liền cổng”

2 Phương pháp nghiên cứu

(1) Phỏng vấn trực tiếp người sử dụng

dịch vụ y tế:

Tập huấn cho các điều tra viên là cán

bộ y tế các phường

Quá trình phỏng vấn hộ gia đình được

giám sát bởi 2 giám sát viên của TTYT

huyện và tác giả Các câu hỏi mở được mã hoá Sau khi kiểm tra, loại bỏ các sai sót,

số liệu được nhập vào máy tính với phần mềm Foxpro Việc xử lý số liệu được thực hiện ở Phòng Thống kê - Tin học của Vụ

kế hoạch - Bộ Y tế

Nội dung nghiên cứu và các nhóm chỉ số thu thập:

(2) Đặc điểm hộ gia đình

- Các chỉ số nhân khẩu học, điều kiện kinh tế, tiếp cận

(3) Nhu cầu chăm sóc sức khoẻ theo các đặc trưng nhân khẩu học:

- Tần suất ốm trong 2 tuần, mức độ nặng nhẹ, phân bố theo nhóm tuổi, giới (3) Sử dụng dịch vụ y tế và các yếu tố

ảnh hưởng (nhân khẩu, địa dư, kinh tế hộ gia đình)

- Cách lựa chọn khi bị ốm, những yếu tố quyết định lựa chọn cơ sở y tế, cách sử trí iii Kết quả

1 Tình hình kinh tế của hộ gia đình

1.1 Tình trạng kinh tế của hộ gia đình

tự nhận xét:

4.8

78.6

15.9

0.7 0

20

40

60

80

100

%

Biểu đồ 1: Mức giàu nghèo tự nhận của hộ gia đình

Trang 3

Chỉ chưa đầy 5% số hộ tự cho rằng gia đình mình thuộc diện nghèo và rất nghèo Hộ

đủ ăn chiếm đại đa số

1.2 Tình hình thu nhập của các hộ gia đình theo nhóm ngũ phân:

Bảng 1: Tình hình thu nhập của hộ gia đình

Nhóm thu nhập

(Ngũ phân)

Bình quân thu nhập đầu người (ngàn)

% so với tổng số % cộng dồn

Thu nhập thấp nhất (Q5) 4396 10,7 10,7

Thu nhập thấp (Q4) 6469 15,7 26,4

Thu nhập TB (Q3) 7553 18,3 44,7

Thu nhập cao (Q2) 9556 23,2 67,9

Thu nhập cao nhất (Q1) 13226 32,1 100

Tỷ số Q5/Q1=3; Q2/Q1=1,4 có sự chệnh lệch đáng kể giữa các nhóm dân cư 20% dân

số của nhóm có thu nhập cao nhất đã chiếm 32,1% thu nhập của toàn bộ các hộ nghiên cứu Trong khi đó cũng 20% dân số nhóm thu nhập thấp nhất chỉ chiếm 10,7% Mức chênh lệch Q5/Q1 tới 3 lần

2 Tình hình ốm đau và ước tính nhu cầu khám chữa bệnh:

Bảng 2: Tình hình ốm trong 2 tuần trước điều tra:

Số hộ dân % ốm Ước tính đợt ng/năm

Tỷ lệ ốm chung

nghiên cứu

8823 4,03 1,05

Tỷ lệ ốm

theo giới

Nam Nữ

4241

4582

4,03 4,02

1,05 1,05

Tỷ lệ ốm

theo nhóm

tuổi

0-5 6-15 16-59 60+

812

1394

5770

847

10,3 3,4 2,7 9,6

2,7 0,9 0,7 2,15

- Mức độ ốm: 83,5% số người ốm trên 5

ngày, 16,5% số người ốm dưới 5 ngày

51,65 ốm nhưng vẫn làm việc được gần

như bình thường, 21,70% ốm phải nghỉ

việc, nghỉ học, 11,26% ốm phải nằm một

chỗ, 15,38% ốm cần có người chăm sóc

- Trung bình trong thời gian 2 tuần có

4,03 người bị ốm không có sự khác biệt về

tần suất ốm giữa nam và nữ (p>0,05)

- Trẻ <5 tuổi và người cao tuổi, già có tỷ

lệ ốm cao hơn các nhóm tuổi khác

- Người ốm trên 5 ngày chiếm đa số (83,5%)

- Người ốm có ảnh hưởng tới sinh hoạt, lao động chiếm xấp xỉ 50% số trường hợp

Trang 4

3 Tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh:

3.1 Tiếp cận với cơ sở y tế (theo khoảng cách)

Bảng 3: Tiếp cận theo khoảng cách đến cơ sở y tế

Cơ sở y tế

Mức độ tiếp cận

Y tế phường (%) Bệnh viện gần nhất (%)

Không khó đi lắm 0,5 0,9

Chưa đến bao giờ 2,1 0,05

Gần như tất cả các hộ gia đình không

gặp trở ngại gì về đường đi đến cơ sở y tế

3.2 Tình hình tiếp xúc với cán bộ y tế

trong 1 tháng:

- Trong thời gian 1 tháng, trung bình có

39,8 số hộ được cán bộ y tế đến thăm và

6,3 hộ đã đến trạm y tế phường

- Cán bộ y tế phường đến thăm hộ gia

đình với nhiệm vụ vận động sinh đẻ kế

hoạch (31,92%) và tuyên truyền VSPB là

chính (50,64%) Chăm sóc sức khoẻ tại

nhà rất ít (6,3%)

- Tỷ lệ hộ gia đình có thầy thuốc tư đến

nhà rất thấp (4/2099) và chủ yếu là để

khám chữa bệnh tại nhà

3.3 Sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh

của các trường hợp ốm:

Bảng 4: Các cách xử trí khi ốm

Nơi/cách xử trí n %

1 Tự mua thuốc về chữa

2 Đến y tế phường

3 Đến thầy thuốc YHCT

4 Đến thầy thuốc tư (Tây y)

5 Điều trị nội trú

6 KCB ngoại trú BV

135

78

3

42

10

102

36,5 21,0 1,0 11,3 2,6 27,6

Mua thuốc về chữa là hình thức phổ biến nhất, y tế phường được sử dụng với tỷ

lệ 21% thấp hơn một chút so với hình thức KCB ngoại trú tại bệnh viện và phòng khám Điều trị nội trú chiếm tỷ lệ rất thấp (2,6%)

3.4 Những lý do tìm kiếm một cơ sở KCB khi ốm

Bảng 5: Phân bố các lý do lựa chọn

cơ sở y tế

Trình độ chuyên môn, thái độ tốt Giá cả phải chăng

Gần nhà, tiến lợi, quen biết

Tình trạng nặng nhẹ của bệnh

27,6 14,5 35,2 22,7 Các lý do quan trọng nhất khi quyết

định đến một cơ sở khám chữa bệnh là tính tiện lợi và trình độ chuyên môn, thái độ phục vụ tốt

Bảng 6: Lý do đầu tiên khiến người ốm

chọn một cơ sở y tế KCB

Cơ sở KCB % Trạm y tế phường: bệnh nhẹ

Bệnh viện (KCB ngoại trú): bệnh nặng

Bệnh viện (Nội trú): bệnh nặng

Y tế tư nhân: gần, tiện lợi

64,8 43,0

42,3 55,5

Trang 5

Có sự khác nhau về lý do lựa chọn cơ

sở KCB, trong đó đến y tế phường chủ yếu

khi bệnh nhẹ, đến BV khi cần dịch vụ có

chất lượng còn đến y tế tư nhân là do gần

nhà, tiện lợi

4 Chi phí và khả năng chi trả:

- Mức chi phí trung bình cho một trường

hợp ốm phải trả phí là 285000đ

- Mức chênh lệch giữa nhóm có thu

nhập thấp nhất so với nhóm có thu nhập

cao nhất tới 3 lần

- Tỷ lệ hộ có khả năng trả phí khi có

trường hợp ốm bằng tiền có sẵn trong nhà:

93,5%

- Nếu phải đi bệnh viện KCB ngoại trú

77,2% có khả năng chi trả ngay không

phải vay mượn trong khi đó nếu phải nằm

điều trị nội trú, tỷ lệ này là 50%

iv Bàn luận

Khác với các cuộc điều tra trước đây

của chúng tôi ở Hà Nội năm 1996 Khi đó

tiến hành nghiên cứu cả khu vực nội thành

và ngoại thành [6], nghiên cứu này chỉ tiến

hành ở 3 quận nội thành Tỷ lệ đủ ăn là

78%, so với 2 điều tra khác ở nông thôn

miền núi Yên Bái và đồng bằng Thanh

Hoá, tỷ lệ người đủ ăn ở nội thành Hà Nội

cao hơn Mức chênh lệch giàu nghèo ở

đây cũng không lớn: 3 lần so với mức

chệnh lệch của 2 điểm kia là 6,2 lần và 6,7

lần [4], [5] Điều kiện kinh tế và mức chênh

lệch giầu nghèo có thể ảnh hưởng không

chỉ mức độ ốm đau mà còn tới cách tìm

kiếm dịch vụ KCB và nhất là tới khả năng

chi trả

Tình hình ốm đau phản ánh một phần

nhu cầu KCB của một cộng đồng Do số

liệu thống kê từ các cơ sở y tế chỉ phản

ánh một phần tình hình ốm đau của cộng

đồng, việc điều tra tình hình ốm đau trong

2 tuần đã trở thành phương pháp phổ biến

ở nước ngoài cũng như ở ta [2, 3, 6, 7] Cho dù chưa phải là phương pháp tối ưu (vì còn phụ thuộc vào thời điểm điều tra, tình hình dịch bệnh) nhưng để tìm hiểu thái

độ và thực tế ứng xử y tế (Lựa chọn cơ sở KCB) mỗi khi bị ốm là đáng tin cậy Để nhận định sự khác biệt về nhu cầu KCB giữa các nhóm tuổi, giới cũng như nhóm dân cư giàu nghèo khác nhau ngay trong một thời điểm cách hỏi về ốm đau cũng như ứng xử y tế là có giá trị khoa học và

được chấp nhận ở trong và ngoài nước [1, 7]

Kết quả trong bảng 2 cho thấy bình quân một người ốm với mức độ rõ rệt (có

ảnh hưởng tới sinh hoạt bình thường) khoảng 1 lần/năm Tỷ lệ này không khác nhau nhiều theo giới nhưng rất khác nhau theo lứa tuổi Điều này nói lên các nhóm tuổi khác nhau có nhu cầu KCB khác nhau Trẻ em và người cao tuổi, người già

có tần suất ốm gấp 2,5 đến 2,7 lần so với

tỷ lệ chung và gấp 3-4 lần so với 2 nhóm tuổi còn lại Do cỡ mẫu 2099 hộ và số dân

8823 người vẫn còn nhỏ khi nhận xét tình hình ốm đau trong 2 tuần, sự khác biệt về giới chưa thể hiện rõ như trong các nghiên cứu khác [4, 5] Kết quả này cũng không khác nhiều so với kết quả nghiên cứu trước

đây của chúng tôi cũng trên địa bàn Hà Nội [6] Như vậy có thể sơ bộ nhận định rằng chưa có sự thay đổi trong thời gian vừa qua về nhu cầu KCB ở địa bàn này

Về tiếp cận với cơ sở y tế, chỉ tiêu quan trọng nhất là khoảng cách Nhìn chung, ở nội thành không có khó khăn gì về tiếp cận song vẫn có 2,1% số hộ chưa bao giờ đến

y tế phường Vấn đề tiếp cận không chỉ liên quan đến khoảng cách mà còn tính tiện lợi của dịch vụ, niềm tin vào cơ sở y tế

đó và vào những cản trở về tài chính (giá cả), trong nghiên cứu này chưa đi sâu vào

Trang 6

các yếu tố đó song trong mục 2,3,4, bảng

5 và 6, khi bàn luận về những lý do lựa

chọn cơ sở KCB Một khi có người ốm

trong nhà, quyết định đi đâu để KCB thì

yếu tố gần nhà, thời gian làm việc tiện lợi

đóng vai trò quan trọng nhất (35,2%) trong

khi đó yếu tố giá cả chỉ chiếm tỷ trọng thấp

hơn (14,5%) Đối với bệnh nhân đến thầy

thuốc tư nhân 55,5% do gần nhà và thời

gian tiện lợi Kết quả này cũng khá trùng

hợp với điều tra tại địa phương khác [2, 6]

Cho dù CSYT cả tư nhân và nhà nước

sẵn sàng cung cấp dịch vụ KCB nhưng

cho tới nay, cách lựa chọn đầu tiên vẫn là

tự mua thuốc về chữa Kết quả trong bảng

4 cho thấy có tới 36,5% số trường hợp ốm

đã tự mua thuốc về chữa, tỷ lệ này rất gần

với tỷ lệ 31,2% trong điều tra trước đây của

chúng tôi năm 1995 và thấp hơn so với

điều tra ở nông thôn đồng bằng Thanh

Hoá (50%) nhưng cao hơn so với nông

thôn miền núi Yên Bái (27,7%) [4],[5] Sở

dĩ có sự khác nhau này chúng tôi cho rằng

ở miền núi do không có nhiều nơi mua

thuốc cũng như rất ít y tế tư nhân hoạt

động, bệnh viện thì xa nên cơ sở KCB

quan trọng nhất là TYT xã Đối với vùng

nông thôn đồng bằng người bán thuốc tư

nhân không nhiều hơn ở thành phố, song

khả năng kinh tế lại hạn chế hơn nên vẫn

chọn cách mua thuốc về chữa là phổ biến

nhất Kết quả của các nghiên cứu khác

còn cao hơn [2]

Trong nghiên cứu trước đây của chúng

tôi năm 1995, tỷ lệ người ốm đến y tế

phường cũng khá thấp 18,3%, trong thời

gian này, sau 5 năm tỷ lệ này vẫn chỉ là

21% Như vậy cũng như phương thức tự

mua thuốc về chữa, tình hình sử dụng trạm

y tế phường nội thành của người dân vẫn

không thay đổi Tỷ lệ sử dụng y tế phường

ở Hà Nội trong cùng thời điểm so với 2 địa

bàn nghiên cứu cho thấy cao hơn một chút

so với nông thôn Thanh Hoá (17,2%) song thấp hơn nhiều so với điểm nghiên cứu ở Yên Bái (48,5%) Hoạt động KCB ở trạm y

tế phường chưa phải là nhiệm vụ hàng

đầu

Nếu có sự khác nhau không nhiều trong

sử dụng dịch vụ KCB của trạm y tế phường

so với TYT xã đồng bằng thì tỷ lệ sử dụng bệnh viện ở nội thành lại có sự khác biết khá lớn và mang đặc trưng thành thị rất rõ Qua các công trình nghiên cứu trước đây cũng như tại 2 điểm nghiên cứu cùng thời

điểm này, tỷ lệ người ốm đến bệnh viện dao động từ 5-10% số trường hợp ốm [1, 2, 6] Trong nghiên cứu ở nội thành này tỷ lệ

sử dụng bệnh viện rất cao, tổng cộng đến 30,2% Điều đáng để ý hơn là tỷ lệ đến KCB ngoại trú rất cao (27,6%) trong khi đó chỉ có 2,6% phải nằm điều trị nội trú tại bệnh viện, đây là một đặc điểm đáng chú ý

để bố trí hệ thống KCB ngoại trú ở khu vực thành thị với nhiệm vụ nặng nề hơn khu vực điều trị nội trú Nếu so sánh tỷ lệ điều trị nội và ngoài trú ở các khu vực nông thôn, mức chênh lệch không nhiều thậm chí ở vùng khó khăn, tỷ lệ KCB ngoại trú

có thể còn thấp hơn so với điều trị nội trú

Điều này cũng cho thấy người thành thị khi

ốm đã tìm đến cơ sở bệnh viện sớm hơn vì vậy không đợi đến lúc bệnh nặng để đến viện là phải nhập viện Về mức chi phí và khả năng chi trả, mức chi phí trung bình cho một đợt ốm khá cao, trên 280000đ, cao hơn số trung bình về chi phí y tế của một người trong nghiên cứu trước đây [1] Tuy nhiên khả năng chi trả lại cao hơn, thể hiện là tỷ lệ người có sẵn tiền để trả nói chung lại cao (93,5%) Nếu phải nằm điều trị nội trú, chỉ có 50% số trường hợp ốm có sẵn tiền trong nhà để thanh toán Đây có

Trang 7

thể là một yếu tố khiến người dân chọn

cách điều trị nội trú với tỷ lệ rất thấp

v Kết luận

- Tần suất ốm của một người/năm là

1,05 lượt có sự khác nhau giữa các nhóm

tuổi, trẻ em (<15 tuổi) và người cao tuổi

(60+) có tần suất ốm nhiều gấp 2-3 lần so

với các nhóm tuổi khác, chưa thấy có sự

chênh lệch giữa hai giới

- Khi ốm, cách lựa chọn nhiều nhất là tự

mua thuốc về chữa (36,5%), thứ đến là

bệnh viện KCB ngoại trú (27,6%), đến y tế

phường 21%, đến y tế tư (11,3%) Tỷ lệ

đến bệnh viện điều trị nội trú rất thấp

(2,6%) Yếu tố tác động đến cách lựa chọn

cơ sở KCB quan trọng nhất là tính tiện lợi,

trình độ chuyên môn, thái độ tốt, tình trạng

bệnh Giá cả không thật quan trọng, trừ khi

phải nằm điều trị nội trú tại bệnh viện

Tài liệu tham khảo

1 Trần Thị Trung Chiến (2003) Y tế

công cộng Việt Nam NXB Y học, Hà Nội

2 Bội Y tế, Đơn vị chính sách, Vụ kế

hoạch (2002) Nghiên cứu theo dõi điểm

(Seltinel) về tình hình cung cấp và sử dụng dịch vụ y tế tại 28 xã nông thôn trong 2 năm 2000 – 2001 Hà Nội, 4/2002, 131 trg

3 Dicker A Armstrong D (1995) Patients’ views of Priority setting in health care: An interview survey in one practice BMJ, p 1137-1139

4 Trương Việt Dũng (2002) Báo cáo kết quả điều tra thông tin y tế từ hộ gia

đình tại Yên Bái (Đề tài nghiên cứu trong

dự án hợp tác y tế Việt Nam –WHO) Tài liệu chưa xuất bản

5 Trương Việt Dũng (2002) Báo cáo kết quả điều tra thông tin y tế từ hộ gia

đình tại Thanh Hoá (Đề tài nghiên cứu trong dự án hợp tác y tế Việt Nam –WHO) Tài liệu chưa xuất bản

6 Trương Việt Dũng, Đào Xuân Vinh Phạm Ngọc Đính (1996) Bước đầu tìm hiểu ở Hà Nội Y học thực hành, số 1, tr 22-24

7 World Bank (1992) The health of adults in the Developing world Oxford Universty Press 350p

Summary

Study on the health needs and utilization of

curative care in Hanoi metropolitan

The household sampling survey was conducted in 2099 households in 3 districts by using questionnaire, the results showed that:

Average episode per person per year was estimated 1.05; there also differences among age groups, children under 5 and aging groups were got sick more frequently 2 –3 times than those other groups There was, however, still not found the gender differences Once got sick, the most popular choices were self-medication (36.5%), out patient care (27.6%), CHS (21%) and private clinics (11.3%) Inpatient care was composed of only 2.6%

It was showed that factors influenced the choices a facility firstly conveniences, quality of care, good attitudes and severity of conditions Price of services was not an important determinant, excluding in case of hospitalization

Ngày đăng: 25/03/2014, 05:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Tình hình ốm trong 2 tuần tr−ớc điều tra: - Nghiên cứu nhu cầu và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại nội thành Hà Nội pdf
Bảng 2 Tình hình ốm trong 2 tuần tr−ớc điều tra: (Trang 3)
Bảng 3: Tiếp cận theo khoảng cách đến cơ sở y tế. - Nghiên cứu nhu cầu và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại nội thành Hà Nội pdf
Bảng 3 Tiếp cận theo khoảng cách đến cơ sở y tế (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w