1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải thưởng Nobel về Sinh lý và y học năm 2003 (The Nobel prize in Bio-Medicine 2003) pot

2 396 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 2
Dung lượng 92,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vũ Triệu An* Bộ môn Miễn dịch Sinh lý bệnh- Đại học Y Hà Nội Ttheo thông lệ hàng năm mỗi khi được tin về giải thưởng Nobel Sinh lý và Y học, chúng tôi hay viết một bài báo về giải thưở

Trang 1

TCNCYH 25 (5) 2003

Giải thưởng Nobel về Sinh lý và y học năm 2003

(The Nobel prize in Bio-Medicine 2003)

GS Vũ Triệu An*

Bộ môn Miễn dịch Sinh lý bệnh- Đại học Y Hà Nội

(Ttheo thông lệ hàng năm mỗi khi được tin về giải thưởng Nobel Sinh lý và Y học, chúng tôi hay viết một bài báo về giải thưởng ấy, dựa trên những thông tin thu được cũng như một số hiểu biết của bản thân với tính chất phổ biến cùng các bạn đọc Việt Nam Riêng bài này thuộc nhiều về lĩnh vực lý hoá và nhất là chụp hinh y học (medical imaging) cho nên đă xin thêm ý kiến của một số

đồng nghiệp chuyên môn Xin cám ơn các bạn).

Ngày 6 tháng 10 vừa qua Hội đồng Nobel

Viện Karolinska Thuỵ Điển đã quyết đinh về

giải thưởng Nobel Sinh lý và Y học cho 2 nhà

bác học người Mỹ Paul C Lauterbur và Peter

Mansfield có công trong phát minh những áp

dụng về hiện tượng cộng hưởng từ (magnetic

resonance) vào trong y học

Hiện tượng công hưởng từ đã được 2 nhà

vật lý học là Felix Bloch và Edward Mills (Mỹ)

tìm ra năm 1946 và đã được giải thưởng Nobel

về vật lý học năm 1952 Họ đã xác định được

mối liên quan giữa cường độ từ trường và tần

số sóng radio Nhân của một nguyên tử nằm

trong một từ trường mạnh sẽ quay với một tần

số phụ thuộc vào cường độ của từ trường

Năng lượng của chúng có thể tăng nếu chúng

hấp thu các sóng radio có cùng tần số, cho

nên mới gọi là cộng hưởng (resonance) Khi

nhân nguyên tử quay trở về mức năng lương

ban đầu thì sóng radio sẽ đước phát ra và có

thể ghi nhận được chúng (chụp hình) Đối với

nhân của mỗi loại nguyên tử có lẻ số proton

và/hay neutron thì có một hằng số toán học

xác định được bước sóng theo cường độ của từ

trường

Năm 1991 một giải thưởng Nobel về hoá

học đã được trao cho Richard Ernst (Thuỵ Sĩ )

vì đã phát triển thêm thành phương pháp

quang phổ cộng hưởng từ có độ phân giải cao

(high resolution magnetic resonance

spectroscopy) và năm 2002 một giải thưởng Nobel khác trao cho Kurt Wutricht (cũng Thuỵ Sĩ) vì đã sử dụng phương pháp trên

để xác định cấu trúc ba chiều của các đại phân

tử sinh học trong dung môi Trên cơ sở của những giải thưởng Nobel về

lý và hoá học trên các nhà bác học được giải thưởng năm nay đã có công đề xuất ra phương pháp áp dụng chúng vào trong y học để có thể chụp hình được những cấu trúc khác nhau của cơ thể sống

Paul C Lauterbur (sinh năm 1929 tại Urbana, Illinois) từ 1970 đã phát hiện ra là nếu tạo ra građiên trong từ trương thì có thể làm hiện hình 2 chiều của những cấu trúc mà các

kỹ thuật khác không cho thấy được Năm 1973

ông đã thành công trong việc làm hiện hình cắt dọc của 2 ống thuỷ tinh lồng vào nhau , cống bên trong chứa nước thường được bọc bởi cái bên ngoài chứa nước nặng, một cách mà cho tới lúc đó chưa ai thực hiện được vì nước thường và nước nặng không khác gì nhau về cảm quan Ông đã sử dụng cách thêm vào cục

từ chính của máy cảm ứng từ một loạt những cục từ có sức mạnh theo građiên nhất định Peter Mensfield (sinh 1933 tại Nottingham, Anh, sau vào quốc tịch Mỹ) đã phát triển công việc của Lauterbur bằng cách tăng khả năng phát hiện các tín hiệu phát ra và do đó có thể phân tích chúng có hiệu quả hơn để chuyển

100*Nguyên trưởng Bộ môn Miễn dịch Sinh lý bệnh, trường Đại học Y Hà Nội

Trang 2

TCNCYH 25 (5) 2003

chúng thành hình Ông đã cho thấy là chỉ có

thể có được hình rõ ràng nếu có được thay đổi

građiên cực nhanh (nên mới có tên à

echo-plannar scanning) Nhờ kỹ thuật này mới có

ứng dụng rộng rãi trong thực tế

ứng dụng của chụp hình cộng hưởng từ

(MRI)

MRI hơn hẳn các loại chụp hình khác đã có

(X quang, chụp cắt lớp CT) vì cho đến hiện nay

người ta chưa thấy nó có độc hại như tia X

Nhưng khó có thể áp dụng với một số bệnh

nhân như khi họ có trong người những mảnh

kim loại sinh từ hay máy tạo nhịp tim, hoặc ở

người không chịu được nằm lâu trong lồng kín

chật hẹp

MRI có giá trị rất lớn trong thăm dò não và

cột sống [2, 3] Các rối loạn trong não thường

kéo theo thay đổi lượng nước trong mô Chỉ cần

có thay đổi chừng 1% lượng nước là có thể

được phản ảnh rất rõ trên MRI như xuất huyết

não, viêm não, khối u trong não Đặc biệt trong

bệnh xơ cứng rải rác (multiple sclerosis) có

viêm trong não và tuỷ sống thì MRI dễ dàng

phát hiện nơi nào bị viêm, nặng nhẹ ra sao và

tác dụng điều trị đến đâu Nó hơn hẳn các biện

pháp cũ trong chẩn đoán và theo dõi điều trị

Trong chứng đau thắt lưng dưới, nó cho

phép phân biệt được là đau tại cơ hay do tuỷ

sống hay thần kinh bị chèn ép Nếu là do đĩa

đệm thì có hướng để điều trị bằng phẫu thuật

MRI cũng là một phương tiện giúp đỡ cho

công việc chuẩn bị và tiến hành phẫu thuật vì

nó cho một hình ảnh ba chiều của tổn thương

và người tiến hành phẫu thuật có thể biết rõ

không những vị trí của tổn thương mà cả đường

tiếp cận thuận lợi nhất Trong vi phẫu thuật tại

não, MRI là trợ thủ đắc lực vì phẫu thuật viên

có thể mổ qua màn hình của nó Hình ảnh đủ

rõ để cho phép đặt điện cực một cách chính

xác vào trong các nhân não khi chữa chứng

Parkinson

Trong chẩn đoán ung thư, MRI cho thấy rõ

số lượng và giới hạn rõ ràng của từng khối u kể

cả phần mô xung quanh bị xâm lấn hay các

hạch khi có di căn Đó là những điều rất cần

biết để quyết định phương pháp điều trị bằng tia xạ hay phẫu thuật hay trong theo dõi kết quả các biện pháp điều trị ung thư khác nhau Cuối cùng MRI còn thay thế được một số thử nghiệm thăm dò mà với các phương tiện kinh điển là một cực hình đối với bệnh nhân Ví

dụ như khảo sát ống dẫn mật và ống tuyến tuỵ thường người ta hay dùng ống nội soi để bơm chất cản quang Nay MRI có thể thay thế và cho biết ngay tình trạng của các ống mà không cần can thiệp làm đau đớn bệnh nhân Đối với bệnh tại khớp cũng vậy, MRI cho phép khảo sát kỹ lưỡng tình trạng của sụn cũng như các dây chằng mà không phải chọc sinh thiết hay gì khác, những thủ thuật có rủi ro gây bội nhiễm

Nói tóm lại, hai nhà bác học Paul C Lauterbur và Peter Mansfield đã có đóng góp quan trọng cho sự phát triển của y học phục vụ người bệnh Chẳng thế mà phát kiến của các

ông đã không ngừng mở rộng Chỉ sau 10 năm, đến hết 2002 trên toàn thế giới có khoảng 22.000 máy chụp hình cộng hưởng từ (MRI) và tới 60 triệu xét nghiệm đã được làm Riêng tại Việt Nam chúng ta cũng đã có mấy cái và đã

có một số kinh nghiệm như trong các bài báo tham khảo dưới đây

Tài liệu tham khảo hạn chế

1 The 2003 Nobel Prize in Physiology or Medicine Press release

2.Nguyễn Quang Bài (1998) Giá trị của chụp cộng hưởng từ MRI trong chẩn đoán tổn thương não và tuỷ Tạp chí Nghiên cứu y học 1998,7.3 25-27

3 Trần Trung, Hoàng Đức Kiệt (1999) Chẩn đoán thoát vị đĩa đệm cột sống bằng chụp cộng hưởng từ Tạp chí nghiên cứu y học 1999,9.1.3-6

101

Ngày đăng: 25/03/2014, 05:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w