1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dự báo thời gian sống sót của bệnh nhân ung thư vú di căn bằng mạng nơron và cây hồi quy một tiếp cận mới doc

8 658 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 203,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

dự BáO thời gian sống sót của bệnh nhân ung thư vú di căn bằng mạng nơron và cây hồi quy - một tiếp cận mới Trịnh Quốc Anh 2 , Bernard Assenlain 1 , Thu Hoàng 2 1 Institut Curie, Par

Trang 1

dự BáO thời gian sống sót của bệnh nhân ung

thư vú di căn bằng mạng nơron và cây hồi quy -

một tiếp cận mới Trịnh Quốc Anh 2 , Bernard Assenlain 1 , Thu Hoàng 2

1 Institut Curie, Paris, France,

2 Université René Descartes, Paris, France

Chúng tôi đã phân tích số liệu thu được từ 1477 bệnh nhân nữ trên 18 tuổi bị ung thư

vú biểu mô có di căn được điều trị bằng nhiều liệu pháp khác nhau tại Viện Curie, Paris (Pháp) từ năm 1977 đến 1998 để nghiên cứu khả năng sống sót và sử dụng cây hồi quy

và mô hình mạng nơ ron trong đó có 15 nơ ron tiếp nhận thông tin từ 14 yếu tố được chọn và có yếu tố thời gian để xác định nguy cơ tử vong thevooooôo thời gian của bệnh nhân Việc kết hợp hai phương pháp thống kê để nghiên cứu thời gian sống sót của bệnh nhân cho kết quả tốt hơn mô hình Cox và cho thấy mối liên quan tiềm ẩn giữa các yếu tố tiên lượng bệnh

I Đặt vấn đề

Nghiên cứu về sự sống sót (survival

analysis) là một nghiên cứu quan trọng

trong điều trị bệnh, nhất là đối với những

bệnh hiểm nghèo vì nó giúp người thầy

thuốc có được những cải tiến hợp lý trong

quá trình điều trị bệnh nhằm kéo dài thời

gian sống của bệnh nhân Ung thư vú từ

lâu nay đã được xem là một căn bệnh

điển hình cần nghiên cứu sống sót và

ngày càng được quan tâm nhiều hơn, thể

hiện qua số lượng các công trình nghiên

cứu không ngừng tăng lên Thống kê trên

toàn thế giới của National Library of

Medicine (Mỹ) theo chủ đề "Surival

analysis"và "breast cancer" cho thấy từ

năm 1998 đến năm 2001 số bài báo đã

tăng lên hơn 1,5 lần, từ 262 đến 418 bài

Khó khăn lớn thường gặp trong nghiên

cứu sống sót là việc mất thông tin về

bệnh nhân trong quá trình theo dõi điều trị

bởi các nguyên nhân khách quan không

mong muốn; ví dụ bệnh nhân bị tai nạn

giao thông hay chuyển chỗ ở Một điều trị

có tỷ lệ mất thông tin cao sẽ gây ra sai

lệch lớn về ước đoán thời gian sống sót

của bệnh nhân và do đó đánh giá sai hiệu quả của điều trị

Các nghiên cứu về sự sống sót thường

sử dụng mô hình hồi quy của Cox (1) để

ước lượng nguy cơ tử vong của bệnh nhân (hazard) và từ đó dự báo thời gian sống sót Tuy nhiên, mô hình này khó thể hiện

được sự tác động qua lại tự nhiên giữa các yếu tố nguy cơ của bệnh (risk factors)

và do vậy không đánh giá được chính xác khả năng sống sót của bệnh nhân

Với mục đích ứng dụng toán học và tin học vào nghiên cứu sự sống sót của bệnh nhân ung thư vú biểu mô di căn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nằm giải quyết các mục tiêu sau đây:

- Phân tích mối liên quan đơn biến và

đa biến giữa một số yếu tố với thời gian sống sót của bệnh nhân ung thư vú biểu mô di căn

- Mô tả mối liên quan tiềm ẩn giữa một

số yếu tố với sự sống sót bằng mạng nơ ron

- Xây dựng cây hồi quy dự báo thời gian sống sót của bệnh nhân

Trang 2

II Đối tượng và phương pháp

nghiên cứu

1 Số liệu:

Các số liệu được thu thập từ 1477

bệnh nhân nữ trên 18 tuổi bị ung thư vú

biểu mô có di căn được điều trị tại Viện

Curie, Paris (Pháp) từ năm 1977 - 1998,

loại trừ các bệnh nhân sau:

- Bệnh nhân có số lượng bạch cầu đạt

dưới 1,5 x 109/L hay có số lượng tiểu cầu

dưới 100 x 109/L; trừ khi hiện tượng ức

chế tuỷ xương là do chính tuỷ xương

- Bệnh nhân có nồng độ bilirubin cao

hơn ít nhất 1,5 lần nồng độ bình thường,

có tiền sử bị suy tim ứ huyết, chỉ có di căn

ở não là bằng chứng có ung thư lan toả

Viện Curie đã sử dụng 8 thử nghiệm

khác nhau của hoá trị liệu cơ bản có

anthrracyclin để điều trị bệnh nhân bị ung

thư vú biểu mô [7] Các bệnh nhân được

đánh giá trước khi được điều trị dựa trên

các kiểm tra kỹ lưỡng về lâm sàng như đo

các tổn thương có thể sờ thấy được, đếm

các tế bào máu, thăm dò chức năng gan,

định lượng nồng độ các điện giải và canxi,

chụp X quang phổi, xương Trước mỗi đợt

điều trị, các thông số của từng bệnh nhân

lại được cập nhật nhằm phát hiện các

triệu chứng mới hoặc triệu chứng bệnh

nhân lên đòi hỏi phải điều chỉnh liều Các

tạng có thể bị di căn được chụp cắt lớp và

chụp X quang vào các tháng thứ 4, 8, 12,

18

Hiệu quả của các thử nghiệm điều trị

được đánh giá theo các tiêu chuẩn của tổ

chức chống ung thư quốc tế, như:

- Điều trị được coi là có đáp ứng toàn

phần nếu các di căn đã được phát hiện

không còn nữa và là có đáp ứng một phần

nếu tích số của hai kích thước dài nhất

vuông góc nhau của tổn thương đo được

ung thư ổn định, còn nếu kích thước đo

được tăng lên trên 25% hoặc xuất hiện tổn thương mới thì cho là có ung thư tiến triển

- Thời gian bệnh tiến triển được tính từ lúc bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên tới lúc có ung thư tiến triển hoặc tới ngày theo dõi cuối cùng Thời gian sống sót là thời gian từ lúc được chọn ngẫu nhiên cho

đến lúc chết hoặc đến ngày cuối cùng

được theo dõi Nếu chết trước khi được

đánh giá đáp ứng thì được coi là ung thư

tiến triển

2 Điều trị ban đầu gồm có 900 người

được phẫu thuật (chiếm 63% tổng số bệnh nhân) trong đó 281 người được cắt

bỏ tuyến vú, 619 người được cắt bỏ tuyến

vú và bóc phần ngực (lumpectomy) có

364 (25%) bệnh nhân không được mổ và

được điều trị bảo tồn bằng xạ trị hay điều trị ngắn ngày Tổng cộng có 115 (78%) bệnh nhân dùng chiếu xạ như là một điều trị chính hay là một bổ trợ của điều trị Có

166 (12%) bệnh nhân không được điều trị tại chỗ vì có di căn sớm Số bệnh nhân

được hoá trị liệu trước là 446 (31%) Bệnh nhân được lựa chọn theo trị liệu trước dựa trên đánh giá của thầy thuốc về nguy cơ

tái phát Hoá trị liệu trước bao gồm kết hợp 5 - FU, foxorubicin, cyclophosphamide ở 165 (39,4%) bệnh nhân; CMF (cyclophosphamide, methotrexate, 5-FU) ở 92 người (21,9%);

cyclophosphamide, melphalan, methotrexate ở 98 người (23,4%) Có 64

bệnh nhân được điều trị bằng phối hợp thuốc khác không có anthracycline (15,3%) và 27 bệnh nhân được dùng hóa trị liệu không theo kiểu đặc hiệu nào Có

78 bệnh nhân chưa dùng hoá trị liệu bổ sung đã được dùng tamoxifen

3 Các yếu tố chính ảnh hưởng đến

Trang 3

trọng đến khả năng sống sót của bệnh

nhân ung thư vú di căn Các yếu tố này

(xem bảng 1) được số hoá theo các trị số

rời rạc trừ nồng độ LHD (trùng với kết quả

của Pierga et al [7]:

- Các đặc điểm của bệnh nhân: tuổi

trên/dưới 50, có/ không mãn kinh

(menopause) chỉ số Karnovsky trên/dưới

60

- 10 thông số của bệnh bao gồm: thời

gian từ lúc chẩn đoán ung thư đầu tới lúc

có di căn kí hiệu là DFI (disease free

interval) trong/ngoài khoảng 6 - 24 tháng,

có/không dùng xạ trị hoặc hoá trị trước,

kích thước của hạch lớn/nhỏ (nodal

involvement), cơ quan di căn (ở phổi,

màng phổi, gan, xương, da) và số vị trí di

căn

- Nồng độ LDH (lactic dehydrogenase)

Khả năng sống sót của bệnh nhân

được đo bằng thời gian sống sót Đối với

một yếu tố có trị số rời rạc, kiểm định toàn

cục Wald được áp dụng để kiểm tra ảnh

hưởng của các trị số khác nhau này lên khả năng sống sót của bệnh nhân là có ý nghĩa thống kê hay không và hệ số nguy cơ tương đối (Relative Risk - RR) là tỷ số

so sánh nguy cơ tử vong của bệnh nhân khi nhận các giá trị rời rạc khác nhau đó

4 Phương pháp xây dựng mạng nơ

ron và cây hồi quy

Chúng tôi sử dụng mô hình mạng nơ

ron gồm 15 nơ ron tiếp nhận thông tin từ

14 yếu tố đã được chọn (bảng 1) và có thêm yếu tố thời gian t để xác định nguy cơ tử vong theo thời gian của bệnh nhân [9]

III Kết quả và bàn luận

1 Phân tích mối liên quan đơn biến theo mô hình của Cox [1]

Các kết quả phân tích được trình bày ở bảng 1

Bảng 1: Phân tích đơn biến khả năng sống sót trên 1477 bệnh nhân bị ung thư vú di

căn

Các yếu tố

(tên viết tắt)

Số quan sát Tỷ lệ %

Thời gian sống sót (tính theo trung vị)

Hệ số nguy cơ

tương đối (với khoảng tin cậy 95)

P

Tuổi theo năm lúc chẩn đoán ung thư vú di căn (age)

Mãn kinh (meno)

Chỉ số Karnovsky (kar)

Trang 4

Hoá trị liệu bổ sung (chem)

Xạ trị (irr)

Khoảng thời gian từ lúc chẩn đoán đến lúc có di căn (dfi) 32 (0-289)

> 24 tháng

hoặc < 6

tháng

Từ > 6 tháng

đến < 24

tháng

Mức độ xâm lấn của hạch (nodes)

Số vị trí bị di căn (nbs)

Di căn vào da (ski)

Di căn vào xương (os)

Di căn vào màng phổi (plev)

Di căn vào phổi (lun)

Di căn vào gan (liver)

Trang 5

Trung vị của thời gian sống sót là 24

tháng kể từ ngày được chọn ngẫu nhiên cho

điều trị cơ bản Thời gian theo dõi trung

bình là 155 tháng Khoảng thời gian thông

thường để có ung thư tiến triển là sau 12

tháng Độ tuổi bị tái phát ung thư thường

gặp là 53 tuổi (trong khoảng 23 - 79);

khoảng thời gian trung bình từ lúc chuẩn bị

ung thư đầu tới lúc tái phát ung thư là 32

tháng Có 24% (351) bệnh nhân bị ung thư

di căn ở phổi và trong số này có 150 bệnh

nhân (11%) bị di căn ở 2 chỗ

2 Phân tích mối liên quan đa biến

(bảng 2)

Các kết quả trình bày trong bảng 2

chứng tỏ có mối liên quan rõ rệt (qua giá trị

p - value) giữa cơ quan bị di căn và số

lượng di căn nên khả năng sống sót của bệnh nhân Thật vậy, nếu chỉ có một cơ

quan bị di căn thì hệ số nguy cơ (RR) chỉ phụ thuộc vào cơ quan đó và di căn vào gan là yếu tố có ý nghĩa ảnh hưởng đến khả

năng sống của bệnh nhân (RR = 1,76; p = 0,02) Trường hợp có 2 nơi bị di căn thì hệ

số nguy cơ còn cao hơn nữa nếu có một vị trí bị di căn là gan (RR = 2,58 p < 0,001 đối lập với RR = 1,65; p = 0,028) Với trường hợp có 3 nơi bị di căn, ta cũng thu được kết quả khác biệt tương tự khi có 1 di căn ở gan (RR = 3,43; p < 0,001) và khi không có di căn nào ở gan (RR = 1,7; p = 0,02)

Bảng 2: Tác động của mối quan hệ vị trí - số lượng lên khả năng sống sót của

bệnh nhân ung thư vú di căn

Vị trí di căn

Số quan sát

Tỷ lệ

%

Thời gian sống sót (tính theo trung vị)

Hệ số nguy cơ

tương đối (với khoảng tin cậy 95)

P

Chỉ có di căn ở màng

phổi

Di căn ở 2 nơi, không bị ở

gan

Di căn ở 2 nơi, có di căn ở

gan

Di căn ở > 3 nơi, không bị

ở gan

Di căn ở > 3 nơi, có di

căn ở gan

Trang 6

TCNCYH 24 (4) 2003

Kiểm định toàn cục Wald với p < 0,001 chỉ

ra rằng quan hệ bậc 2 vị trí - số lượng của di

căn là có ý nghĩa trong sự sống sót của bệnh

nhân Các nghiên cứu khác của chúng tôi cũng

chứng minh rằng còn có nhiều mối quan hệ

khác giữa các yếu tố bệnh (trong bảng 1) ảnh

hưởng lên khả năng sống sót của bệnh nhân

Như vậy, quan hệ vị trí - số lượng của di căn

ảnh hưởng rất rõ đến nguy cơ tử vong của

bệnh nhân ung thư vú biểu mô di căn Ngoài

ra, Cutler et al [2] còn nêu lên tầm quan trọng

của vị trí bị di căn đầu tiên đối với tiên lượng

bệnh Nhiều tác giả khác đã khẳng định rằng di

căn ở gan, ở tạng và ở não ít có giá trị tiên

lượng và di căn ở xương có giá trị tiên lượng

hơn [6, 11] Trong phân tích của chúng tôi thì

nồng độ LDH là một yếu tố tiên lượng chính

Thông số này không được nói đến nhiều trong

các nghiên cứu trước đây về tiên lượng ung thư

vú nhưng ý nghĩa lâm sàng của nó đã được đề

cập [10]

3 Mạng nơ ron và cây hồi quy trong

nghiên cứu về sự sống sót

Các kết quả thống kê trên (bảng 1, 2) cho

thấy rằng, khả năng sống sót của bệnh nhân

ung thư vú di căn phụ thuộc vào rất nhiều yếu

tố và nhất là vào các quan hệ phức tạp khác

nhau của những yếu tố này Ngoài ra cũng

phải kể đến mối tương tác giữa một yếu tố với

một quan hệ để tạo thành một quan hệ mới

cấp cao hơn Các phương pháp thống kê

thường sử dụng hiện nay trong nghiên cứu

sống sót như mô hình của Cox, mô hình hồi

quy logistic [8] đều không có khả năng tự tìm

kiếm và phát hiện các tương tác giữa các yếu

tố và chúng ta thường phải dùng các mô hình

đó cùng với các quan hệ định trước được lựa

chọn theo chủ quan của các thầy thuốc Cách

làm này không thể đánh giá được toàn diện về

ăn bệnh nhất là với thời gian, khi giá trị của các

yếu tố không thể đưa ra được kịp thời những

hình cứng nhắc, chủ quan Một mạng nơ ron nhân tạo có thể khắc phục được các nhược

điểm này

Mô hình mạng nơ ron nhân tạo (artificial neural network model) lần đầu được đưa ra bởi

Mc Culloch và Pitts vào năm 1943 dựa trên ý tưởng của một mạng nơ ron sinh học: một nơ ron thần kinh nhận các tín hiệu điện kích thích, biến đổi và truyền chúng cho các nơ ron kế cận để cuối cùng cơ thể cảm nhận được kích thích và có phản ứng phù hợp Mô hình nơ ron McCulloch và Pitts (hình 1) mô tả mối quan hệ giữa p kích thích tố x1 , xp có độ mạnh yếu tương ứng là w1, ,wp với đáp ứng y của nơ ron Hình 1: mô hình nơ ron của McCulloch và Pitts (1943) với hàm kích hoạt bậc thang Như vậy, nếu xem đáp ứng y là thông tin đi

ra (kết quả xử lý thông tin) của nơ ron thì y cũng là tổ hợp của tất cả các thông tin và quan

hệ của p kích thích đầu vào x1, , xp Nếu coi p

đầu vào này là p yếu tố bệnh và đầu ra y là khả năng sống sót của bệnh nhân thì các thông số của mạng nơ ron w1, w2 cho ta biết mức độ ảnh hưởng của các yếu tố bệnh và quan hệ giữa chúng đối với sự sống sót của bệnh nhân Ví dụ đơn giản này cho thấy rằng, mạng nơ ron hoàn toàn có thể mô tả được quan hệ phức tạp giữa các yếu tố bệnh (đầu vào x) với khả năng sống sót của bệnh nhân (đầu ra y) [3]

Để việc đánh giá thống kê được chính xác, chúng tôi đã loại bỏ 269 bệnh nhân không có

đầy đủ các giá trị quan sát trên 14 yếu tố đã nêu và còn lại 1028j bệnh nhân có ung thư vú

di căn Mạng nơ ron được học bằng phương pháp học Bayes (Bayesian learning) nhằm thu

được tất cả các thông tin cần thiết từ mọi bệnh nhân, kể cả các bệnh nhân bị mất theo dõi trong quá trình điều trị hay bị chết vì nguyên nhân khác (censored cases) Để kiểm tra độ chính xác của mạng nơ ron trong việc dự báo

Trang 7

TCNCYH 24 (4) 2003

định mạng nơ ron và tập thử (test set) gồm 600

bệnh nhân còn lại được dùng để kiểm nghiệm

kết quả dự đoán Để đánh giá sự chính xác của

dự báo, chúng tôi sử dụng chỉ số c - index của

Harrell đo tỷ lệ dự báo đúng với kết quả quan

sát [4] Các kết quả thu được chứng tỏ rằng mô

hình dạng nơ ron (0,664 < c-index < 0,690) cho

kết quả dự báo thời gian sống sót chính xác

hơn so với kết quả của mô hình Cox (0,657 <

c-index < 0,659) [5]

Mặt khác, để giúp thầy thuốc có thể xác

định được nguy cơ của từng bệnh nhân ngay từ

lúc điều trị ban đầu, chúng tôi đã xây dựng cây

hồi quy dự đoán thời gian sống sót dựa trên

các kết quả thu được từ mô hình mạng nơ ron

(hình 2)

Dựa trên cây hồi quy (hình 2) chúng tôi xây

dựng 3 nhóm tiên đoán phân loại bệnh nhân

Nhóm bệnh nhân có thời gian sống sót dài hơn

cả (A) gồm những bệnh nhân không có di căn ở

gan, nồng độ LDH < 322 U/l, chỉ số Karnovsky >

60, không điều trị hoá trị liệu trước và có thời gian

DFI rất ngắn hoặc rất dài Nhóm có nguy cơ cao

nhất (C) là những bệnh nhân bị ung thư di căn ở

gan, có nồng độ LDH >313 U/l hoặc ít hơn 313

U/l nhưng có hơn 2 điểm bị di căn, thời gian DFI

ngắn hoặc dài Những bệnh nhân còn lại thuộc

nhóm B Khả năng sống sót của 3 nhóm này trên

tập kiểm định 600 bệnh nhân được mô tả bằng

đường cong xác suất Kaplan Meier (hình 3) với

thời gian sống sót trung bình của nhóm nguy cơ

thấp (A) là 44 tháng, của nhóm nguy cơ cao (C)

là 15 tháng và của nhóm còn lại (B) là 23 tháng

Ta cũng thu được kết quả thời gian sống sót

tương tự trên tập học 608 bệnh nhân ban đầu: 45

tháng với nhóm A, 13 tháng với nhóm C và 23

tháng đối với nhóm B

V Kết luận

- Quan hệ vị trí - số lượng của di căn ảnh

hưởng rất rõ đến nguy cơ tử vong của bệnh

nhân bị ung thư vú biểu mô di căn

- Mạng nơ ron dự báo khả năng sống sót tốt

hơn mô hình Cox nhờ khả năng tổ hợp được

các quan hệ tiềm ẩn giữa các yếu tố nhưng nó

lại không thể hiện được tường minh các quan

hệ này

- Mô hình cây hồi qui sử dụng các kết quả thu

được từ mạng nơ ron cũng chỉ thể hiện được phần nào các tương tác có ý nghiã

Chúng tôi hiện đang sử dụng một số mô

hình phân tích khác như Randon Forest, Support Vector Machine để so sánh với mô

hình mạng nơ ron

Bài viết tuy sử dụng các nghiên cứu và số liệu tại viện Curie (Pháp) nhưng hy vọng sẽ giới thiệu được một tiếp cận mới về nghiên cứu sống sót ở Việt Nam trong nỗ lực nhằm đưa các ứng dụng của Toán học và Tin học vào lĩnh vực Y tế cụ thể là điều trị bệnh nhân ung thư

Tài liệu tham khảo

1 Cox DR Regression model and life tables (with discussion) J.Royal Statistical Soiety B 1972; 34; 187 - 220

2 Cutler SJ, Ardyce JA, Taylor SG III Classification of patients with disseminate cancer

of the breast Cancer 1969; 24: 861 - 9

3 Farragi D, Simon R A neural network model for survival data Statistics in Medecine 1995; 14; 73 - 82

4 Harrell EF, Lee KL, and Mark đặc biệt

Multivarite prognostic models: Issues in Developing Models, Evaluating Assumptions and Adequacy, and Measuring and Reducing Errors, Statistic in Medecine 15 (1996) 361 -

387

5 Hoang T, Trinh QA, Asselain B

Construction and validation of a prognostic model for metastatic breast cancer using Bayesian neural network and regression tree

Intelligent data Analysis in Medecine and Pharmacology 2002, Workshop Notes, 37 - 43, www.cs.uu.nl/~lucas/in damap 2002/indamap2002-proc.pdf

6 Hortobagyi JY, Smith TL, Legha SS, Swenerton KD, Gehan EA, Yap HY et al

Multivariate analysis of prognostic factors in

Trang 8

TCNCYH 24 (4) 2003

metastatic breast cancer J Clin Oncol 1983;

1: 776 - 86

7 Pierga JY, Asselain B, Jouve M, et al

Effect of Adjuvant Chemotherapy on Outome in

Patients with Metastatic Breast Carcinoma

Treated with Firstline Doxorubicin Containing

Chemotherapy Cancer 2001: 91: 1079 -89

8 Sargent DJ Comparison of artificial

neural net work with other statistical

approaches: results from medical data sets

Cancer 2001: 91 (8 Supp) piii: 1636 - 42

9 Trinh QA, Hoang T, Asselain B Neural

Network Models for Survival Analysis using

Bayesian Learning or Backpropagation In:

Vidal T, Liberatore P, eds STAIRS 2002 -

Starting Artificial Intelligence Researchers Symposium Amsterdam: IOS Press, 2002; pp

167 - 177

10 Yamamoto N, Watanabe, T, Katsumata

N, et al Construction and validation of a practical pognostic index for patients with metastatic breast cancer, J Clin Oncol 1998 ; 16: 2401 - 8

11 Zinser JW, Hortobagyi GN, Buzdar AU,

et al Clinical course or breast cancer patiens with lever metastases J Clin Oncol 1987; 5:

773 -82

Summary Survival data of metastasis breast cancer

prognosis by neural net works and regression tree

- a new approach

In this paper, we expose a new approach to metastasis breast cancer prognosis based on a combination of two statistical learning methods, i.e neural net works and regression tree, applied

to survival data The two methods allow for interactions among prognostic factors such as the number and the sites of the metastases

Ngày đăng: 25/03/2014, 05:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Phân tích đơn biến khả năng sống sót trên 1477 bệnh nhân bị ung th− vú di - Dự báo thời gian sống sót của bệnh nhân ung thư vú di căn bằng mạng nơron và cây hồi quy một tiếp cận mới doc
Bảng 1 Phân tích đơn biến khả năng sống sót trên 1477 bệnh nhân bị ung th− vú di (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w