1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chẩn đoán và điều trị phẫu thuật chảy máu dưới màng nhện do vỡ túi phồng động mạch não potx

7 760 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chẩn đoán và điều trị phẫu thuật chảy máu dưới màng nhện do vỡ túi phồng động mạch não
Tác giả Nguyễn Thế Hào, Dương Chạm Uyên
Trường học Khoa Phẫu thuật thần kinh - Bệnh viện Việt-Đức
Thể loại bài báo
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 134,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chẩn đoán và điều trị phẫu thuật chảy máu dưới màng nhện do vỡ túi phồng động mạch não Nguyễn Thế Hào, Dương Chạm Uyên Khoa Phẫu thuật thần kinh - Bệnh viện Việt-Đức, Hà Nội Mục đích:

Trang 1

Chẩn đoán và điều trị phẫu thuật chảy máu dưới

màng nhện do vỡ túi phồng động mạch não

Nguyễn Thế Hào, Dương Chạm Uyên

Khoa Phẫu thuật thần kinh - Bệnh viện Việt-Đức, Hà Nội

Mục đích: Nghiên cứu chẩn đoán chảy máu dưới màng nhện (CMDMN) do vỡ túi

phồng hệ động mạch cảnh trong Chỉ định, phương pháp và thời điểm mổ Đánh giá kết

quả điều trị Phương pháp: Nghiên cứu mô tả, trên 73 bệnh nhân vỡ túi phồng hệ động

mạch cảnh trong, tại khoa phẫu thuật thần kinh Bệnh viện Việt-Đức, từ tháng 1/1998

đến 8/2004, trong đó 21 bệnh nhân hồi cứu và 52 bệnh nhân tiến cứu Kết quả được

đánh giá ở thời điểm xa sau mổ

Kết quả: gồm 37 nữ và 36 nam, tuổi trung bình 44,5 (thay đổi từ 13-68) Dấu hiệu

CMDMN gồm đau đầu đột ngột, dữ dội 83,5%, hội chứng màng não: 57,5%, suy giảm tri

giác 46,6% Động kinh 12,3%, và 8,2% bệnh nhân không điển hình Độ nhạy chung của

CLVT trong chẩn đoán CMDMN là 89% 21 bệnh nhân có chọc dò DNT, có kết quả

dương tính Chụp ĐMN chẩn đoán túi phồng ĐMN ở 100% và độ nhạy chẩn đoán vị trí

túi phồng vỡ là 94,3% 11 bệnh nhân mổ cấp cứu 5 bệnh nhân mổ sớm trong 4 ngày

đầu, 87,6% mổ chậm sau 10 ngày

Kết luận: Lâm sàng của CMDMN thường điển hình, chỉ 8,2% không điển hình, khó

chẩn đoán Chụp CLVT là phương pháp chủ yếu để chẩn đoán CMDMN với độ nhạy đạt

89% Chụp ĐMN là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán túi phồng ĐMN vỡ Chỉ định mổ cấp

cứu khi : giãn não thất, khối máu tụ trong sọ Mổ can thiệp loại bỏ túi phồng cần thực

hiện sớm trong vòng 3 ngày, khi bệnh nhân có tình trạng lâm sàng tốt Vi phẫu thuật

kẹp cổ túi phồng bằng clip là phương pháp điều trị hiệu quả và triệt để, thực hiện được ở

94,5% bệnh nhân, kết quả lâm sàng tốt đạt 86,1%

I Đặt vấn đề

Túi phồng động mạch não (ĐMN) là

một loại thương tổn thường gặp của hệ

thống ĐMN, chiếm khoảng 1 – 8% dân

số Vỡ là biến chứng thường gặp nhất,

chiếm tới 90% trường hợp túi phồng ĐMN

được phát hiện Tỉ lệ vỡ trung bình hàng

năm của túi phồng ĐMN là từ 10 – 15

người/100.000 dân Vỡ túi phồng ĐMN

gây chảy máu dưới màng nhện (CMDMN)

là bệnh cảnh ngoại khoa thần kinh nặng

Túi phồng hệ ĐM cảnh trong chiếm

90-95% túi phồng trong sọ CMDMN do vỡ

túi phồng của hệ ĐM cảnh trong thường

xảy ra đột ngột với biểu hiện đau đầu,

dấu hiệu kích thích màng não và suy

giảm tri giác Chẩn đoán xác định dựa trên chụp CLVT thấy rõ máu ở trong khoang dưới nhện, hoặc chọc dò DNT có nước máu không đông Cho đến nay, chụp ĐMN vẫn còn là “tiêu chuẩn vàng”

để chẩn đoán túi phồng ĐMN Điều trị CMDMN do vỡ túi phồng hệ ĐM cảnh trong đòi hỏi có sự phối hợp chặt chẽ của nhiều chuyên khoa, trong đó điều trị phẫu thuật đóng vai trò đặc biệt quan trọng

Gần đây, ở nước ta, đã có những tiến bộ trong điều trị vỡ túi phồng ĐMN, và đã đạt

được những kết quả ban đầu Song việc chẩn đoán và điều trị còn có nhiều khó khăn Vì vậy nghiên cứu nhằm mục tiêu:

Trang 2

1 Chẩn đoán xác định chảy máu dưới

màng nhện do vỡ túi phồng hệ động

mạch cảnh trong

2 Chỉ định mổ, thời điểm phẫu thuật

và phương pháp phẫu thuật

3 Đánh giá kết quả xa sau mổ

II Đối tượng và phương pháp

nghiên cứu

1 Đối tượng nghiên cứu

Gồm 73 bệnh nhân CMDMN do vỡ túi

phồng hệ ĐM cảnh trong, được chẩn

đoán và điều trị phẫu thuật tại khoa

PTTK, Bệnh viện Việt-Đức, từ tháng

1/1998 đến tháng 8/2004

Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân: Bệnh

nhân được chẩn đoán và điều trị CMDMN

do vỡ túi phồng hệ ĐM cảnh trong Nhận

định trong mổ có dấu hiệu CMDMN, và

túi phồng hệ ĐM cảnh trong vỡ là nguyên

nhân của chảy máu

2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả trên 73 bệnh nhân

(21 hồi cứu và 52 tiến cứu)

III Kết quả nghiên cứu

1 Tuổi và Giới: Nữ/Nam: 37/36

Tuổi: trung bình 44,5 (thay đổi từ 13

đến 68 tuổi), 68% bệnh nhân tuổi 40-60

2 Thời gian từ khi chảy máu đến khi

vào viện

15 bệnh nhân (20,5%) đến viện trong 4

ngày đầu, và 79,5% đến viện sau 4 ngày

3 Lâm sàng

Bảng 1: Triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng Số bệnh

nhân

Tỉ lệ

%

Đau đầu đột ngột 61 83,5

Mất tri giác ban đầu 43 58,9

Dấu hiệu lâm sàng khi vào viện: 39(53,4%) bệnh nhân tỉnh, 34 (46,6%) bệnh nhân mê

Dấu hiệu thần kinh khu trú: 9 (12,3%) bệnh nhân liệt nửa người, liệt dây III ở 6 (8,2%) bệnh nhân

4 Chụp cắt lớp vi tính

100% có chụp CLVT 56,2% bệnh nhân chụp CLVT trong vòng 3 ngày đầu

8 BN không thấy dấu hiệu chảy máu trên chụp CLVT, trong đó có 1 BN chụp trong

3 ngày đầu Độ chính xác chụp CLVT chung là: 89% (65/73) Độ chính xác của CLVT trong chẩn đoán CMDMN trong vòng 3 ngày đầu là 97,5% (40/41) và sau

3 ngày là 78,1% (25/32)

5 Chẩn đoán nguyên nhân vỡ túi phồng và vị trí vỡ trên CLVT

Độ chính xác của CLVT trong chẩn

đoán vị trí túi phồng vỡ: 52/73 (71,2%)

Độ chính xác cao ở túi phồng ĐM não giữa 15/16 (93,7%) và ĐM thông trước: 30/37 (81,1%)

6 Chọc dò DNT

Có 21 (28,7%) bệnh nhân được chọc

dò DNT để chẩn đoán CMDMN, đều có kết quả dương tính (20 bệnh nhân có DNT hồng và 1 bệnh nhân vàng) Độ chính xác của phương pháp chọc dò DNT trong chẩn đoán CMDMN do vỡ túi phồng

hệ ĐM cảnh trong: 100%

7 Thời điểm chụp động mạch n∙o

70 bệnh nhân chụp ĐMN Độ chính xác của chụp ĐMN trong chẩn đoán túi phồng: 100%

Trang 3

8 Chẩn đoán vị trí túi phồng vỡ trên chụp ĐMN

Bảng 2: Vị trí túi phồng vỡ

Vị trí túi phồng Chẩn đoán

đúng vị trí

Chẩn đoán nhầm

vị trí

Không chẩn đoán

được vị trí

Độ chính xác của chụp ĐMN trong

chẩn đoán vị trí túi phồng vỡ: 66/70=

94,3%

9 Chỉ định mổ cấp cứu

3 (4,1%) bệnh nhân giãn não thất đặt

dẫn lưu não thất ra ngoài Lấy khối máu

tụ và kẹp túi phồng: 5 (6,8%) bệnh nhân

Dẫn lưu não thất –ổ bụng: 3 (4,1%) bệnh

nhân

10 Thời điểm mổ kẹp cổ túi phồng

5 (6,8%) bệnh nhân mổ sớm trong 4

ngày đầu, 85,7% mổ sau 10 ngày Hơn

3/4 số bệnh nhân mổ sau 2 tuần

11 Phương pháp phẫu thuật

Kẹp cổ túi phồng: 94,5%, bọc túi

phồng: 5,5%

12 Kết quả điều trị

Khám lại 72 bn (98,6%), thời gian theo

dõi tối thiểu là 3 tháng sau mổ, tối đa là

82 tháng, trung bình 31 tháng Kết quả

đánh giá theo bảng GOS Kết quả tốt

(GOS 4&5): 62(86,1%), trung bình (GOS

3): 3(4,2%) và xấu (GOS 1&2): 9,7%

IV Bàn luận

1 Chẩn đoán CMDMN do vỡ túi

phồng hệ động mạch cảnh trong

1.1.Chẩn đoán lâm sàng

Tuổi thường gặp của bệnh là từ 40-60

(68%), trung bình là 44,5 Đau đầu dữ dội

là triệu chứng thường thấy (83,5%) Đau

đầu đột ngột, bệnh nhân thấy “chưa từng bao giờ đau như vậy” 58,9% bệnh nhân mất tri giác ban đầu Trong nghiên cứu của Fontanarosa [7] 53% bệnh nhân có mất tri giác ban đầu

Hội chứng màng não điển hình: tư thế

cò súng, cứng gáy, Kernig, Brudzinski nhận thấy ở 57,3% Nghiên cứu khác cho thấy 40-69% có hội chứng màng não, ở trẻ em 100% bệnh nhân có hội chứng này [1] Hội chứng màng não thường rất rõ ràng ở 2 tuần đầu (89,2%)

Những bệnh nhân đến sau 3 tuần, dấu hiệu màng não không rõ ràng

Suy giảm tri giác thấy ở 46,6% Dấu hiệu này là biểu hiện của mức độ tổn thương não Rối loạn ý thức sau chảy máu xảy ra ở 66,6% bệnh nhân đến viện sớm của chúng tôi Khi đến muộn, suy giảm tri giác còn do các biến chứng của CMDMN gây nên: co thắt mạch máu não, giãn não thất, rối loạn nội môi

1.2.Chụp cắt lớp vi tính

Trong nghiên cứu có 56,2% bệnh nhân chụp CLVT trong 3 ngày đầu Độ nhạy của chụp CLVT trong chẩn đoán CMDMN

là 89% Tuy nhiên độ chính xác của chụp CLVT thay đổi theo thời điểm chụp, vì

hiện tượng tiêu máu trong khoang dưới nhện Trong vòng 3 ngày đầu sau chảy máu, độ chính xác của chụp CLVT đạt 97,5% và sau 3 ngày chỉ còn 78,1%, sự

Trang 4

khác biệt này có ý nghĩa thống kê (với

p<0,05) Đối với trẻ em, nghiên cứu của

Nguyễn thị thanh Hương cho thấy 94%

chụp CLVT có dấu hiệu chảy máu [1]

Độ chính xác của chụp CLVT cao hơn

ở nhóm bệnh nhân có dấu hiệu thần kinh

khi vào viện 79,5% bệnh nhân tỉnh có

dấu hiệu chảy máu trên chụp CLVT, trong

khi đó 100% bệnh nhân mê có chảy máu

Trong nghiên cứu của Sidman [9] độ

chính xác của CLVT trong chẩn đoán

CMDMN là 92,1%, với 100% khi chụp

trước 12 giờ và 81,7% chụp sau 12 giờ

89% bệnh nhân của chúng tôi có

CMDMN, phối hợp chảy máu não thất ở

39,7%, khối máu tụ trong não ở 12,3%

Không có trường hợp nào có khối máu tụ

DMC, và 12,3% thấy hình ảnh túi phồng

trên CLVT Sự phối hợp khối máu tụ trong

sọ, chảy máu não thất và thấy hình ảnh

túi phồng làm tăng độ chính xác của chụp

CLVT trong chẩn đoán nguyên nhân vỡ

túi phồng và vị trí vỡ Độ chính xác của

CLVT trong chẩn đoán nguyên nhân và vị

trí vỡ túi phồng của chúng tôi là 71,2%

Khả năng chẩn đoán chính xác cao ở

nhóm túi phồng ĐM não giữa (93,7%) và

ĐM thông trước (81,1%) Kết quả của

chúng tôi cũng phù hợp với nghiên cứu

khác, tỉ lệ thấp trong phát hiện dấu hiệu

chảy máu bằng CLVT là những túi phồng

ĐM thông sau

1.3.Chọc dò dịch não tuỷ

Có 21 (28,7%) bệnh nhân chọc dò

DNT để chẩn đoán CMDMN Tỉ lệ chọc

DNT của chúng tôi cao hơn các nghiên

cứu khác (7,8% trong nghiên cứu của

Sidman [9]) Thời kỳ trước năm 2000,

chụp CLVT còn chưa được phổ cập rộng

rãi như hiện nay, thì chẩn đoán chủ yếu là

dựa vào chọc dò DNT Chẩn đoán xác

định ở 100% các trường hợp chọc dò DNT

1.4.Chụp động mạch não

Chụp ĐMN là phương pháp hiệu quả chẩn đoán túi phồng ĐMN, trong nghiên cứu của chúng tôi 96% có chụp ĐMN trước mổ 3 ngày đầu là thời điểm quan trọng để tiến hành phẫu thuật sớm, nhưng chỉ 15,1% bệnh nhân chụp ĐMN

Độ chính xác của chụp ĐMN phát hiện túi phồng hệ ĐM cảnh trong vỡ là 100% Trong chẩn đoán vị trí túi phồng vỡ, độ chính xác chụp ĐMN đạt 94,3%

2 Điều trị phẫu thuật CMDMN do vỡ túi phồng hệ động mạch cảnh trong

2.1.Chỉ định mổ

2.1.1.Chỉ định mổ cấp cứu

Thống nhất với hầu hết các tác giả, chúng tôi chỉ định mổ cấp cứu khi có khối máu tụ trong não sau vỡ túi phồng, giãn não thất có suy giảm dần tri giác

- Khối máu tụ trong não: nếu điều trị

bảo tồn thì tỉ lệ tử vong trên 80%, trong khi đó tỉ lệ này là 27-38% ở nhóm mổ [8]

Tỉ lệ khối máu tụ trong não do vỡ túi phồng của chúng tôi (12,3%) thấp hơn so với các nghiên cứu khác, do một thời kỳ chúng tôi không thể chụp ĐMN cấp cứu

và không có điều kiện mổ cấp cứu Khối máu tụ trong não là yếu tố nguy cơ của chảy máu tái phát Trong nghiên cứu chúng tôi có 2/9 bệnh nhân khối máu tụ

có chảy máu tái phát trước mổ Vì vậy mục đích của mổ là lấy bỏ khối máu tụ gây chèn ép não và kẹp cổ túi phồng Nếu chỉ lấy máu tụ đơn thuần, nguy cơ chảy máu tái phát sau mổ là rất lớn và là yếu tố chủ yếu dẫn đến kết quả xấu, tỉ lệ

tử vong 75-100% [8]

Trang 5

- Giãn não thất: là một nguyên nhân

làm tăng ALNS và suy giảm tri giác ở giai

đoạn cấp tính, đòi hỏi phải dẫn lưu não

thất Corsten và cộng sự [5] đã đặt dẫn

lưu não thất ra ngoài khi não thất giãn

vừa và bệnh nhân từ độ 2 Hunt-Hess trở

lên Chúng tôi nhận thấy chảy máu tái

phát gây giãn não thất cấp tính nhiều

hơn Chúng tôi chỉ dẫn lưu khi có dấu

hiệu tri giác giảm Chỉ định đặt dẫn lưu

của chúng tôi tương đối hạn chế vì nguy

cơ chảy máu tái phát và nhiễm trùng, chỉ

4,1% bệnh nhân được đặt dẫn lưu não

thất ra ngoài do giãn não thất cấp tính

Chúng tôi không có hệ thống dẫn lưu kín

một chiều, mà dùng ống Nelaton, lưu ống

được 48-72 giờ 1/3 bệnh nhân dẫn lưu

não thất của chúng tôi có chảy máu tái

phát, không có nhiễm trùng Giãn não

thất mạn tính, chúng tôi đặt dẫn lưu não

thất-ổ bụng 3(4,1%) bệnh nhân

2.1.2.Chỉ định mổ đối với túi phồng :

Chúng tôi chỉ định mổ đối với tất cả

các túi phồng thuộc hệ ĐM cảnh trong vỡ

73 bệnh nhân của chúng tôi có túi phồng

ở tất cả các vị trí của hệ ĐM cảnh trong,

và 2 túi phồng khổng lồ (>25 mm) Túi

phồng hệ ĐM cảnh trong là loại túi phồng

rất thường gặp, chiếm 96,3% tổng số túi

phồng ĐM não điều trị tại khoa chúng tôi

Đây là vị trí phù hợp với phẫu thuật, có

thể tiếp cận và kẹp được cổ, nguy cơ

phẫu thuật ít

Tình trạng bệnh nhân có vai trò quan

trọng trong chỉ định mổ Chúng tôi không

mổ những bệnh nhân quá nặng, hôn mê

sâu, GCS 3-4 điểm, đồng tử giãn hai bên,

rối loạn hô hấp Điểm Glasgow thấp nhất

mà chúng tôi mổ là 5

2.2 Thời điểm mổ can thiệp túi

phồng vỡ

Đối với túi phồng ĐMN vỡ, hầu hết các tác giả đều thống nhất cho rằng hoặc mổ sớm trước 4 ngày kể từ khi chảy máu, hoặc mổ chậm sau 2 tuần, không nên mổ vào thời điểm từ ngày thứ 4-14, là thời kỳ

co thắt mạch máu não, mổ sẽ làm tăng nguy cơ thiếu máu não Phẫu thuật chậm

có nhiều thuận lợi, và kết quả phẫu thuật tốt hơn, nhưng khoảng 1/3 số bệnh nhân chết trước mổ, vì chảy máu tái phát và co thắt mạch máu não khi chờ đợi 2 tuần [6] Trong nghiên cứu, 3/4 số bệnh nhân của chúng tôi mổ chậm sau 2 tuần (là do bệnh nhân đến chậm, không chụp mạch não cấp cứu và không có điều kiện mổ cấp cứu), do vậy có 9 bệnh nhân chết trước mổ (5 chảy máu tái phát, 3 co thắt mạch máu não, 1 viêm phổi nặng) Chúng tôi có 5 (6,8%) bệnh nhân mổ sớm trong 4 ngày đầu sau chảy máu, trong đó

có 3 bệnh nhân có tình trạng lâm sàng tốt trước mổ, kết quả rất tốt Như vậy, mổ sớm cho những bệnh nhân đến sớm và tình trạng tốt, kết quả rất khả quan, tránh

được chảy máu lại

2.3 Phương pháp phẫu thuật

Trong điều trị túi phồng ĐM não, phẫu thuật kẹp cổ túi phồng là phương pháp triệt để và hiệu quả, đảm bảo sự an toàn

Tỉ lệ kẹp được cổ túi phồng của chúng tôi

là 94,5%, Foroohar và cộng sự (2000) [3]

là 90%, còn theo Lafuente và cộng sự (2003) [7] thì tỉ lệ này là 98,4% Có 5,6% bệnh nhân, chúng tôi không thể kẹp được

cổ túi phồng mà phải bọc túi phồng, vì có khó khăn về mặt giải phẫu túi phồng

3 Kết quả điều trị phẫu thuật

Kết quả tốt của chúng tôi 86,1% và tỉ

lệ tử vong là 6,9% khi theo dõi thời gian trung bình là 31 tháng sau mổ Kết quả phụ thuộc vào tình trạng bệnh nhân trước

Trang 6

mổ Trong nghiên cứu của chúng tôi cho

thấy tỉ lệ tử vong ở những bệnh nhân có

tình trạng lâm sàng tốt là 2,3% và ở

những bệnh nhân nặng trước mổ là

17,4% Mặt khác, thời điểm mổ cũng có

ảnh hưởng đến kết quả Chúng tôi thấy

rằng, tỉ lệ tử vong và sống thực vật ở

nhóm mổ sớm là 40%, trong khi đó mổ

chậm là 7,8% Tuy nhiên, mổ chậm cũng

đi kèm với tỉ lệ tử vong và di chứng cao,

xảy ra trong thời gian chờ mổ Trong

nghiên cứu quốc tế về thời điểm mổ túi

phồng ĐMN vỡ [6] tiến hành trên 3521

bệnh nhân, chỉ ra rằng tỉ lệ tử vong và di

chứng giữa mổ sớm và mổ chậm xấp xỉ

bằng nhau, trừ nhóm bệnh nhân được mổ

theo kế hoạch từ 7-10 ngày có kết quả

xấu và tỉ lệ tử vong cao nhất

V Kết luận

Bệnh cảnh lâm sàng của CMDMN do

vỡ túi phồng hệ ĐM cảnh trong thường

điển hình: bệnh nhân thường là nữ, tuổi từ

40-60, đau đầu đột ngột, dữ dội, phối hợp

các dấu hiệu kích thích màng não và suy

giảm tri giác Độ nhạy của chụp CLVT

trong chẩn đoán xác định CMDMN tới

89%, chụp ĐMN là “tiêu chuẩn vàng” để

chẩn đoán túi phồng vỡ Tuy nhiên, 8,2%

bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng không

điển hình, chẩn đoán khó, chủ yếu dựa

vào chọc dò DNT

Phẫu thuật có vai trò quan trọng trong

điều trị cấp cứu những trường hợp tăng

ALNS (khối máu tụ trong não, giãn não

thất), can thiệp loại bỏ túi phồng và góp

phần điều trị co thắt mạch máu não Vi

phẫu thuật kẹp cổ túi phồng là phương

pháp hiệu quả và triệt để, có thể thực

hiện được ở 94,5% bệnh nhân, với biến

chứng phẫu thuật ít Chỉ định mổ được đặt

ra trước một túi phồng hệ ĐM cảnh trong

vỡ và tình trạng bệnh nhân cho phép Bệnh nhân đến sớm với tình trạng lâm sàng tốt, mổ sớm, cho kết quả tốt Kết quả khi theo dõi trung bình 31 tháng sau

mổ rất khả quan với 86,1% tốt

Tài liệu tham khảo

1 Nguyễn Thị Thanh Hương, Ninh Thị ứng, Phạm Minh Thông (2004),

“Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và chẩn đoán nguyên nhân của bệnh chảy máu trong sọ tự phát ở trẻ 1 đến 15 tuổi”, Y học Việt nam, 301, 153-157

2 Corsten.L, Raja.A, Guppuy.K, et al (2001), “Contemporary management of

subarachnoid hemorrage and vasospasm: the UIC experience”, Surg.Neurol, 56, 140-150

3 Foroohar.M, Macdonald.R.L, Roth.S et al (2000), “Intraoperative

variables and early outcome after aneurysm surgery”, Surg.Neurol, 54, 304-315

4 Fotanarosa.P.B (1989),

”Recognition of subarachnoid hemorrhage”, Ann,Emerg,Med,

18,1199-1205

5 Fridriksson.S, Saveland.H, Jakobsson.K.E et al (2002),

“Intraoperative complications in aneurysm surgery: a prospective national study”, J.Neurosurg, 96, 515-522

6 Kassell N F, Torner J C, Jane

J A, et al (1990) “The International

Cooperative Study on the Timing of Aneurysm Surgery Part 2: Surgical results”, J Neurosurg, 73, 37 - 47

7 Lafuente.J, Maurice-Williams (2003), “Ruptured intracranial aneurysms:

the outcome of surgical treatment in

Trang 7

experienced hands in the period prior to

the advent of endovascular coiling”,

J.Neurol.Neurosurg.Psychiatry, 74,

1680-1684

8 Niemann.D.B, Wills.A.D,

Maartens.N.F, et al (2003), “ Treatment

of intracerebral hematomas caused by

aneurysm rupture: coil placement

followed by clot evacuation”, J.Neurosurg, 99, 843-847

9 Sidman.R, Connolly.E, Lemke.T (1996), “Subarachnoid hemorrhage

diagnosis: lumbar puncture is still needed when the computed tomography scan is normal”, Acad.Emerg.Med, 3, 827-831

Summary

Diagnosis and surgical treatment for

aneurysmal subarachnoid hemorrhage

Objective: To study the clinical presentations, diagnosis of spontaneous

subarachnoid hemorrhage (SAH) due to ruptured aneurysms Determine the operative indications, the surgical modalities and timing of operation Evaluate the outcome of surgical treatment

Method: This study is performed in 73 patients with aneurysmal SAH, who have

been underwent the surgical treatment at the Viet-Duc hospital, between 1/1998 and 8/2003, 21 patients were retrospectively analyzed and the prospective evaluation has been performed in 52 The surgical outcome is followed up with a mean time of 31 months

Results: 73 patients ranged in age from 13 to 68 years (mean 44,5), with 37

womens and 36 mens.The classic symptoms and signs: severe headache 83,5%, meningeal syndrome 57,5%, deterioration of consciousness 46,6% Seizures incidence 12,3% 8.2% patients have a obscure clinical presentation The overall sensitivity of CT for aneurysmal SAH was 89% Lumbar puncture was performed on 21 patients, and revealed bloody or xanthchromia spinal fluid Cerebral arteriography was able to detect the aneurysm on all patients 6 hydrocephalus &5 hematomas were operated in urgent conditions The delayed surgery for ruptured intracranial aneurysms was indicated in 87,6% patients Direct surgical clipping obliterated 69 aneurysms GOS at 31 months posthaemorrhage indicated that 86,1% patients experienced good recovery

Conclusion: The clinical presentation of aneurysmal SAH was often typical

CTsacnner was a crucial diagnostic modality of SAH with high sensitivity, and cerebral arteriography was “gold standard” for diagnosis of ruptured intracranial aneurysms The surgical treatment play a important role for hydrocephalus, intracerebral hematomas and aneurysmal obliteration Microsurgery for clipping aneurysms was effective method, with low complication, none of the patients had a repeat hemorrhage, and 86,1% patients had a good result

Ngày đăng: 25/03/2014, 05:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w