A. PHẦN MỞ ĐẦU Trong thời kỳ hiện nay cách mạng khoa học công nghệ trên thế giới có sự phát triển nhảy vọt. Thành tựu của chúng ta nhanh chóng được ứng dụng vào thực tiễn đời sống chính trị – kinh tế xã hội. Các ngành khoa học công nghệ có hàm lượng tri thức cao ngày càng đóng góp nhiều hơn vào tổng thu nhập trong nước của các quốc gia. Có nước phần đóng góp này lên tới 70% yếu tố khoa học và công nghệ cao đã thâm nhập và có tác động vào các hoạt động mang tính tập thể và ở mọi địa bàn làm việc. Hiện tượng đó cho thấy, loài người đang tiến đến nền kinh tế tri thức, xã hội tri thức, mà một trong những đặc trưng cơ bản nhất của nó là khoa học, công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, yếu tố tri thức có vai trò ngày càng tăng và đang dẫn dắt sự phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ và toàn cầu. Ngày nay, các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam đều đã nhìn nhận được ý nghĩa và vai trò quan trọng của khoa học và công nghệ trong phát triển kinh tế – xã hội. Nhận rõ được những tác động ngày càng cao to lớn của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển của nhân loại, sự phồn vinh và tăng trưởng của mỗi quốc gia, những cơ hội và thách thức mà nó đặt ra đối với Việt Nam, Đại hội IX của Đảng khẳng định: con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta cần và có thể rút ngắn, vừa có bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt, phát huy lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến…, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ từng bước phát triển kinh tế tri thức.
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
Trong thời kỳ hiện nay cách mạng khoa học công nghệ trên thếgiới có sự phát triển nhảy vọt Thành tựu của chúng ta nhanh chóngđược ứng dụng vào thực tiễn đời sống chính trị – kinh tế xã hội Cácngành khoa học công nghệ có hàm lượng tri thức cao ngày càngđóng góp nhiều hơn vào tổng thu nhập trong nước của các quốc gia
Có nước phần đóng góp này lên tới 70% yếu tố khoa học và côngnghệ cao đã thâm nhập và có tác động vào các hoạt động mang tínhtập thể và ở mọi địa bàn làm việc Hiện tượng đó cho thấy, loàingười đang tiến đến nền kinh tế tri thức, xã hội tri thức, mà mộttrong những đặc trưng cơ bản nhất của nó là khoa học, công nghệ trởthành lực lượng sản xuất trực tiếp, yếu tố tri thức có vai trò ngàycàng tăng và đang dẫn dắt sự phát triển kinh tế – xã hội của mỗiquốc gia, vùng lãnh thổ và toàn cầu
Ngày nay, các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam đều đãnhìn nhận được ý nghĩa và vai trò quan trọng của khoa học và côngnghệ trong phát triển kinh tế – xã hội Nhận rõ được những tác độngngày càng cao to lớn của khoa học và công nghệ đối với sự pháttriển của nhân loại, sự phồn vinh và tăng trưởng của mỗi quốc gia,những cơ hội và thách thức mà nó đặt ra đối với Việt Nam, Đại hội
IX của Đảng khẳng định: con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoácủa nước ta cần và có thể rút ngắn, vừa có bước tuần tự, vừa có bướcnhảy vọt, phát huy lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng đểđạt trình độ công nghệ tiên tiến…, tranh thủ ứng dụng ngày càngnhiều hơn, ở mức cao hơn những thành tựu mới về khoa học và côngnghệ từng bước phát triển kinh tế tri thức
Trang 2Tri thức khoa học gồm có 3 nhóm:
Thứ nhất, các tri thức về bản chất của đối tượng khảo sát, bao
gồm các quy luật, tính quy luật của đối tượng khảo sát
Thứ hai, các tri thức về những nguyên lý vận dụng quy luật,
những giải pháp tác động nhằm định hướng cho các hoạt động đápứng nhu cầu cải tạo đối tượng
Thứ ba, các tri thức về cách thức, biện pháp tác động để cải tạo
Trang 33 Đặc trưng cơ bản của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ
Thứ nhất, sự vượt lên trước của khoa học so với kỹ thuật và
công nghệ Trong quá trình này sự đột phá bắt đầu từ cuộc cáchmạng khoa học và sau đó có cách mạng công nghệ, từ đó đẩy mạnhtiến bộ kỹ thuật – công nghệ Đến lượt nó sự tiến bộ của cách mạngcông nghệ lại thúc đẩy khoa học phát triển nhanh hơn nữa và đưakhoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
Thứ hai, các thành tố riêng biệt TIHO tác động trong quá trình
sản xuất trực tiếp được kết hợp lại một cách hữu cơ với nhau thànhmột hệ thống và xuất hiện như một giải pháp công nghệ mới vềnguyên tắc tác động, nhờ đó mà tạo ra một cuộc cách mạng thực sựtrong công nghệ sản xuất
Thứ ba, các chức năng của người lao động thể hiện trong quá
trình sản xuất ra của cải vật chất từng bước được thay thế từ laođộng cơ bắp là chủ yếu sang lao động trí tuệ Trong quá trình này,vai trò của lao động sống chuyển từ vị trí trực tiếp sang vị trí giántiếp là chủ yếu; nhờ đó mà không chỉ lao động nặng nhọc, độc hại,nguy hiểm được máy móc thay thế thậm chí lao động tư duy giảnđơn cũng được máy móc đảm nhận Chính vì vậy hàm lượng laođộng trí tuệ kết tinh trong hàng hoá chiếm tỷ trọng cao
Thứ tư, tạo ra một bước ngoặt trong toàn bộ hệ thống các yếu
tố cấu thành lực lượng sản xuất, mà hạt nhân là máy móc với tư cách
là một hệ thống đầy đủ của bốn yếu tố: máy động lực, hệ thốngtruyền lực, máy công tác và bộ phận tự điều khiển Nhờ đó đã nângcao đáng kể năng suất và hiệu quả của nền sản xuất xã hội Tác độngmột cách sâu sắc và toàn diện, tới phân công lao động trong phạm viquốc gia và quốc tế Đây là giai đoạn phát triển và biến đổi về chất
Trang 4của nền sản xuất xã hội trên cơ sở của những tư tưởng tiên tiến vềkhoa học và công nghệ cũng như của các quy luật và các hình tháivận động vật chất khác nhau được phát triển ra.
4 Xây dựng nền khoa học – công nghệ tiên tiến trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trong thời đại ngày nay, thực chất của quá trình công nghiệphoá, hiện đại hoá chính là quá trình vận dụng thành tựu khoa họccông nghệ dựa trên những đổi mới công nghệ nhằm chuyển hệ thốngkinh tế xã hội của đất nước từ trạng thái năng suất thấp, hiệu quảthấp sử dụng lao động thủ công là chính song một hệ thống có năngsuất cao, hiệu quả cao dựa trên những phương pháp công nghiệp,những công nghiệp tiên tiến
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đã làm thay đổivai trò của 4 yếu tố truyền thống mang tính lợi thế cạnh tranh tàinguyên, vốn, công nghệ và kỹ năng Cuộc cách mạng mới trongcông nghệ sinh học và công nghệ vật liệu đã làm cho tài nguyênkhông còn là yếu tố duy nhất của lợi thế cạnh tranh Cách mạng tinhọc và tài chính đã làm cho yếu tố vốn không còn là quan trọng bậcnhất của lợi thế cạnh tranh giữa các xí nghiệp, bởi vì thị trường vốn
đã được thế giới hoá Trong xu thế phát triển mạnh mẽ và sâu sắccủa cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện nay, các nước pháttriển “đi trước” đều có nhu cầu đổi mới cơ cấu kinh tế trong nước,chuyển vốn đầu tư và xuất khẩu công nghệ tới các nước đang pháttriển Do vậy, khả năng với tới các nguồn vốn và các nguồn cungcấp công nghệ là thuận lợi Nhưng phải rất tỉnh táo để không nhậpnhững công nghệ lỗi thời do các nước phát triển thải ra, để khôngtrở thành “bãi thải công nghiệp”
Trang 5Là một nước “đi sâu” về phát triển kinh tế, Việt Nam nhất thiếtphải tận dụng quá trình chuyển giao công nghệ, tiếp thu, làm chủđược các loại hình công nghệ hiện đại để nhanh chóng chuyển dịch
cơ cấu nền kinh tế thông qua một quá trình đổi mới công nghệ rộngkhắp từ sản xuất kinh doanh đến dịch vụ, quản lý Muốn phát triểnphải cấu trúc lại toàn bộ nền kinh tế, tạo sự dịch chuyển cơ cấu theohướng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nền kinh tế từ nặng
về nông nghiệp sẽ chuyển dần về phái công nghiệp chế biến và cácdịch vụ xã hội, dịch vụ kinh tế, dịch vụ trí tuệ…
Sự chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng trên sẽ vấp phải mộttrở lực hết sức lớn nếu không thu hút hết được số lao động dư dôi ratrong nông nghiệp Khắc phục trở lựa này đòi hỏi phải đầu tư để tạothêm chỗ làm việc trong nền kinh tế ở khu vực đô thị và nhất là ởnông thôn Vì vậy, phát triển công nghiệp nông thôn, tăng đầu tưvào nông thôn sẽ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướngcông nghiệp hoá, hiện đại hoá
5 Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trước hếtxuất phát từ mục tiêu, con đường đi tới chủ nghĩa xã hội mà Đảngnhân dân ta đã lựa chọn Việc thiết kế, thi công và thực hiện thànhcông mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một quá trình phấnđấu lâu dài, gian khổ nhưng nhất định phải làm Chỉ có công nghiệphoá, hiện đại hoá mới đưa nước ta thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu.Lao động công nghiệp ở nước ta vẫn chiếm khoảng 70% tổng số laođộng; địa bàn nông thôn chiếm gần 80% dân số cả nước và là nơi tậptrung đại bộ phận người nghèo trong xã hội Số liệu điều tra gần đâycho thấy có tới 29,5% số hộ nông dân có mức thu nhập dưới 20kg
Trang 6gạo/1 người/1 tháng; 5,6% số hộ thu nhập chỉ đặt dưới 8kg gạo/1người/1 tháng; khoảng 20% hộ thiếu và đói.
Trong khi đó, ở các nước Tây Âu, nền nông nghiệp do đượccông nghiệp hoá với trình độ khá cao nên năng suất lao động nôngnghiệp tăng nhanh, số lượng và tỷ trọng lao động nông nghiệp trongtổng số lao động xã hội ngày càng giảm Ở Cộng hoà liên bang Đức,
1 lao động nông nghiệp sau một năm ra 13 tấn lương thực và 2000kgthịt, đủ cung cấp cho nhu cầu của 50 người; ở Pháp 1 lao động nôngnghiệp 1 năm làm ra 13,5 tấn lương thực, 600kg thịt, đủ cung cấpcho 40 người Năm 1980, lao động nông nghiệp ở các nước Tây Âuchiếm 10,4%, tổng số lao động xã hội; Năm 1960: 6,8%; năm 1995:5,5% và đến năm 2000 sẽ còn khoảng 4,5% Đẩy mạnh công nghiệphoá, hiện đại hoá sẽ giúp chúng ta có lực mới để có thể tăng nhanhtốc độ phát triển Không những thế, do có hiện đại hoá, chúng ta cóđiều kiện để đi tắt, đón đầu Tăng tốc, chạy tắt, đón đầu chính lànhững yếu tố tổng hợp để giải bài toán phát triển đất nước
Đảng ta nhiều lần nhấn mạnh rằng: Trong quá trình thực hiệnnội dung, mục tiêu và những bước đi của công nghiệp hoá, hiện đạihoá phải luôn luôn nắm vững và quán triệt những quan điểm cơ bản
có tính nguyên tắc là: Chúng ta thực hiện công nghiệp hoá, hiện đạihoá là xã hội chủ nghĩa xã hội; chúng ta đẩy mạnh công nghiệp hoá,hiện đại hoá là theo định hướng xã hội chủ nghĩa Các quan điểm cụthể là:
- Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế,
đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại Dựa vào nguồn lựctrong nước là chính đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài.Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới,
Trang 7hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu bằng nhữngsản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả.
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự nghiệp của toàn dân, củamọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước là chủ đạo
- Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bảncho sự phát triển nhanh và bền vững Tăng trưởng kinh tế phải đi đôivới cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hoá, giáo dục, thựchiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường
- Khoa học và công nghệ là động lực của công nghiệp hoá,hiện đại hoá Kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiệnđại; tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định
- Lấy hiệu quả kinh tế – xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xácđịnh phương án phát triển, lựa chọn dự án đầu tư và công nghệ
- Kết hợp kinh tế với quốc phòng an ninh
II Tăng cường năng lực khoa học và công nghệ của đất nước
Ngày nay, các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam đều đãnhìn nhận được ý nghĩa và vai trò quan trọng của khoa học và côngnghệ trong phát triển kinh tế xã hội Nhận rõ được những tác độngngày càng to lớn của khoa học và công nghệ đối với sự phát triểncủa nhân loại, sự phồn vinh và tăng trưởng của mỗi quốc gia những
cơ hội và thách thức mà nó đặt ra đối với Việt Nam Đại hội IX củaĐảng khẳng định: Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá củanước ta cần và có thể rút ngắn, vừa có bước tuần tự, vừa có bướcnhảy vọt Phát huy lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng đểđạt trình độ công nghệ tiên tiến… tranh thủ ứng dụng ngày càngnhiều hơn, ở mức cao hơn những thành tựu mới về khoa học và côngnghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức
Trang 81 Động lực khoa học và công nghệ trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội
Cùng với khoa học tự nhiên, khoa học xã hội cũng đóng vai tròcực kỳ quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội Trên bình diện vĩ
mô, khoa học xã hội cần ưu tiên hàng đầu việc nghiên cứu và giảiquyết các vấn đề về biến đổi cơ cấu xã hội, giải quyết mối quan hệgiữa kinh tế – xã hội, giữa các mối quan hệ xã hội và xây dựng các
cơ chế thực hiện các chính sách xã hội hợp lý Trên bình diện vi mô
là hoàn thiện công nghệ quản lý và phát triển thị trường Kinhnghiệm thành công của các nước mới công nghiệp hoá ở Đông Á vàcủa gần 20 năm đổi mới ở nước ta cho thấy, khoa học xã hội cần đưa
ra được chiến lược phát triển kinh tế – xã hội thích hợp của mỗiquốc gia, mặt khác phải góp phần xây dựng, thiết kế các chính sách
vĩ mô khả thi và phù hợp nhằm thực hiện được chiến lược đã đề ra
Việc áp dụng những công nghệ hoàn toàn mới đã tạo điều kiệncho những phát triển kinh tế – xã hội theo chiều sâu, giảm hẳn tiêuhao năng lượng và nguyên liệu, giảm tác hại cho môi trường, nângcao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triểnsản xuất Đặc điểm nổi bật của cuộc cách mạng khoa học và côngnghệ đương đại này là diễn ra trên cơ sở những thành tựu của khoahọc hiện đại kết hợp chặt chẽ khoa học và công nghệ Động lực đốivới quá trình phát triển kinh tế – xã hội của khoa học và công nghệ
là thành quả tổng hợp của một phạm vi nghiên cứu ngày càng rộnglớn và liên ngành, bao trùm không chỉ các ngành khoa học tự nhiên,
kỹ thuật và công nghệ mà còn cả các ngành khoa học xã hội nhưkinh tế học, quản lý sản xuất, quản lý xã hội, tâm lý học…
2 Khoa học và công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
Trang 9Ngày nay, trên nhiều lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là kinh tế trithức khoa học và công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trựctiếp Đúng như C.Mác tiên đoán: Tri thức trở thành lực lượng sảnxuất trực tiếp Các thành phố khoa học, công viên khoa học, khucông nghệ cao chính là môi trường với những điều kiện thuận lợi đểcho khoa học, công nghệ và sản xuất nhập làm một Trong các lĩnhvực công nghệ cao như công nghệ sinh học, công nghệ thông tin,phòng thí nghiệm cũng chính là nhà máy, nhà khoa học đồng thời lànhà sản xuất, kinh doanh Các loại dược phẩm mới, các vi mạch, cácsản phẩm phần mềm tin học được sản xuất ra từ phòng thí nghiệm.Cùng một nơi, ngoài ra nghiên cứu thực nghiệm rồi sản xuất đại trà;xưởng sản xuất cũng là một phòng thí nghiệm Một phần xưởng sảnxuất vi mạch điện tử có các trang thiết bị và điều kiện giống nhưmột phòng thí nghiệm hiện đại nhất.
Với tính cách là những thực thể chính trị và kinh tế mạnh nhấttoàn cầu ngày nay Hoạt động cùng một lúc trên phạm vi nhiều nướctrên thế giới, các công ty xuyên quốc gia có vai trò ngày càng quantrọng trong nền kinh tế toàn cầu Với 57.000 công ty mẹ gần500.000 chi nhánh, các công ty xuyên quốc gia đang kiểm soát 80%công nghệ mới, 40% nhập khẩu, 60% xuất khẩu, 90% đầu tư trựctiếp nước ngoài, sử dụng 34,5 triệu lao động và có mặt ở hầu hết cácquốc gia trên thế giới Với mục tiêu đạt được lợi nhuận siêu ngạch,các công ty xuyên quốc gia, luôn tập trung phát triển khoa học vàcông nghệ, tiếp tục mở rộng kinh doanh trên phạm vi toàn cầu đểtriệt để khai thác các cơ hội đầu tư Dòng vốn đầu tư trực tiếp (FDI)ngày càng đổ về những nước có nguồn lực với lợi thế về trí tuệ vàtay nghề cao Các công ty xuyên quốc gia đã có vai trò thúc đẩy sựphồn thịnh đến một mức độ nhất định ở các nước đang phát triển,
Trang 10nhưng sau đó, bằng việc bòn rút lợi nhuận đã làm cạn kiệt nhanhchóng nguồn tài nguyên và ô nhiễm nghiêm trọng môi trường sinhthái ở những nước này.
3 Tăng cường năng lực khoa học và công nghệ trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta, quátrình tăng cường trình độ công nghệ và kỹ thuật tiến triển theo cả haihướng: tăng cường công nghệ và kỹ thuật trong từng ngành sản xuất
và chuyển dịch cơ cấu sản xuất sang những ngành có hàm lượngkhoa học và công nghệ cao – cũng chính là những ngành có giá trịgia tăng lớn
Sự tiến bộ công nghệ của nền kinh tế được thực hiện bằng cáchnhập khẩu công nghệ ở nước ngoài và tự phát triển, sáng tạo ra côngnghệ tiên tiến Trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá ở một nước đang trong quá trình phát triển như ViệtNam, thì nhập khẩu công nghệ tiên tiến ở nước ngoài là phươngpháp vừa tiết kiệm thời gian vừa tiết kiệm chi phí nếu lựa chọn đúngnhững công nghệ tiên tiến, thích hợp với giá thành hạ trong quátrình nhập khẩu Điều này được gọi là lợi thế đi sau của các nướcđang phát triển do không bắt buộc phải trải qua hành trình tiến bộcông nghệ như các nước phát triển
Vấn đề nhập công nghệ tiên tiến đòi hỏi chi phí đầu tư lớntrong khi khả năng nguồn vốn của nền kinh tế còn hạn hẹp Khảnăng sáng tạo công nghệ là con đường duy nhất để Việt Nam cũngnhư các nước đang phát triển đuổi kịp và vượt trình độ của các nướccông nghiệp phát triển, nhờ vậy mới có thể giảm bớt những khoảnchi phí tốn kém cho việc nhập khẩu những công nghệ tiên tiến Nóphụ thuộc vào tiềm năng trí tuệ của dân tộc và đòi hỏi một chính
Trang 11sách đầu tư lâu dài liên tục và đúng phương hướng vào khoa học vàcông nghệ của đất nước.
Như tất cả các nước đang phát triển có nguồn lực còn hạn chế,nước ta muốn vượt được khó khăn trong quá trình đầu tư hiện đạihoá công nghệ và kỹ thuật phải tích luỹ và sử dụng tối ưu nguồnvốn Trong thời kỳ đầu, chúng ta đã tập trung vốn vào các ngànhkinh tế với công nghệ và kỹ thuật chưa phải tiên tiến và đòi hỏinguồn vốn thấp để phát huy lợi thế so sánh về lao động so với cácnước phát triển hơn Tuy nhiên để vượt qua trạng thái dừng của nềnkinh tế có trình độ công nghệ thấp, trong thời gian tới chúng ta phải
có chiến lược nâng cao trình độ khoa học để tối ưu hoá chất lượngsản phẩm và hiệu quả của nền kinh tế Đây chính là mô hình pháttriển “xuất khẩu tịnh tiến” bằng động lực khoa học và công nghệ
Việc nâng dần trình độ công nghệ và kỹ thuật của nền kinh tếphải được thực hiện đồng thời bằng hai quá trình
Thứ nhất, nâng dần trình độ công nghệ và kỹ thuật của các
ngành sản xuất đã có để phá vỡ trạng thái dừng của các ngành này,nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sản lượng và thu nhập lao động
Thứ hai, chuyển dịch dần cơ cấu sản xuất sang các ngành có
trình độ khoa học và công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn
Quá trình thứ nhất diễn ra một cách tự nhiên trong sự cạnhtranh giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước trong cùng mộtngành Quá trình thứ hai đòi hỏi phải có một sự định hướng đúngđắn của Đảng và Nhà nước trong chính sách ưu đãi ngành sản xuấtgiáo dục và đào tạo cũng như nghiên cứu khoa học và công nghệ, đitrước một bước tương ứng với quá trình đột phá và dịch chuyển củanền kinh tế lên trình độ công nghệ cao hơn Vì vậy việc lực chọnđầu tư ngành mũi nhọn và phát triển khoa học và công nghệ phù hợp
Trang 12có ý nghĩa chiến lược thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tạođiều kiện cho quá trình tăng trưởng liên tục của nền kinh tế đấtnước.
Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá chúng ta phảithực hiện đồng thời hai quá trình là chuyển từ kinh tế nông nghiệpsang kinh tế công nghiệp và nâng cao trình độ khoa học và côngnghệ của cả hai lĩnh vực này cùng với lĩnh vực dịch vụ của nền kinh
tế Tăng cường năng lực khoa học và công nghệ của đất nước để bắtkịp và làm chủ công nghệ hiện đại Sự thành công của công nghiệphoá, hiện đại hoá rút ngắn phụ thuộc vào việc chủ động hội nhậpkinh tế quốc tế kết hợp với tăng cường các yếu tố năng lực nội sinhcủa dân tộc như văn hoá, giáo dục, khoa học Không có đủ tri thức,không có đủ năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ thì trongquá trình hội nhập đất nước sẽ bị thua thiệt, bị bóc lột, chèn ép và sẽtrở thành bãi thải công nghệ của các nước khác
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sử dụng tri thức và khoa học– công nghệ mới nhất để phát triển nền kinh tế, chuyển nền kinh tế
từ tình trạng năng suất, chất lượng, hiệu quả thấp sang nền kinh tếnăng suất, chất lượng, hiệu quả cao Nước ta tuy còn ở trình độ pháttriển chưa cao, nhưng tiềm năng trí tuệ của con người Việt Namkhông thua kém những nước mới công nghiệp hoá thành công ởChâu Á Con người Việt Nam tiếp thu và làm chủ các tri thức mới,công nghệ mới rất nhanh; một số lĩnh vực mới hình thành đã sửdụng công nghệ mới nhất và kéo theo cách nghĩ, cách làm côngnghiệp hoá trước đây thì bài toán đặt ra về rút ngắn khoảng cách sẽkhông có lời giải mang tính tích cực và hiệu quả cao
Với tiềm năng trí tuệ, tinh thần sáng tạo, ý chí và bản lĩnh kiêncường của cả dân tộc và đặc biệt là của đội ngũ các nhà khoa học,
Trang 13tiếp tục tăng cường năng lực khoa học và công nghệ, chúng ta nhấtđính ẽ thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoárút ngắn, đạt tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ, văn minh.
* Đổi mới một cách cơ bản cơ chế quản lý và tổ chức hoạtđộng khoa học và công nghệ; lấy sự phát triển nhanh, hiệu quả vàbền vững của đất nước làm mục tiêu chủ yếu của hoạt động khoahọc và công nghệ
Có cơ chế, chính sách kinh tế để khuyến khích và thúc đẩy cácdoanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp Nhà nước tích cực đổi mớicông nghệ và ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học và côngnghệ Khẩn trương khắc phục tình trạng bao cấp, hành chính hoáhoạt động khoa học và công nghệ Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm
để tạo bước bứt phá về một số công nghệ cao có tác động tích cựcđến việc nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế Khẩntrương chuyển các tổ chức khoa học và công nghệ nghiên cứu triểnkhai sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp Đẩy mạnh hội nhậpquốc tế trong lĩnh vực khoa học và công nghệ Đổi mới cơ bản quản
lý Nhà nước về khoa học và công nghệ theo hướng hỗ trợ phát triểnthị trường khoa học và công nghệ khuyến khích, tôn vinh các nhàkhoa học trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài thực sự có tài,
có đóng góp cho đất nước
* Đi tắt, đón đầu, phát triển nhanh một số lĩnh vực khoa họccông nghệ cao Đây là bước phát triển cần chú trọng trước hết ởnước ta trong thời điểm hiện nay, vì một số lý do sau:
Các ngành khoa học công nghệ cao có hàm lượng trí tuệ cao,
có tốc độ tăng trưởng cao, sử dụng ít tài nguyên thiên nhiên, đó làcác ngành như công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, vật liệu