Xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh thời kỳ 2009 – 2010 của công ty cổ phần Sơn Chinh
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Sự tồn tại của bất kỳ một tổ chức nào cũng đều có mục đích, trong nền kinh tếthị trường mục đích của các doanh nghiệp là lợi nhuận Cơ chế thị trường luôn mở
ra rất nhiều cơ hội để tìm kiếm lợi nhuận song cũng đầy cạm bẫy rủi ro Muốn thànhcông doanh nghiệp phải tận dụng các cơ hội kinh doanh phù hợp với nguồn lực vốnhạn chế của mình, biết nhìn xa trông rộng và kiểm soát được các hoạt động kinhdoanh Để đạt được mục đích doanh nghiệp cần vạch ra cho mình một kế hoạchđúng đắn phù hợp trong thời kỳ kinh doanh, phải thiết lập được hệ thống các mụctiêu và tiến hành thực hiện kiểm tra giám sát việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra
đó là nhiệm vụ của việc thực hiện kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp Tiếnhành thực hiện kế hoạch giúp cho doanh nghiệp đối phó được với những biến đổitrong nội bộ doanh nghiệp cũng như môi trường kinh doanh Mỗi một doanh nghiệptrong quá trình hoạt động của mình phải xây dựng được một kế hoạch kinh doanhđây là một vấn đề hết sức phức tạp đòi hỏi phải tính đến các vấn đề thuận lợi khókhăn bên trong bên ngoài doanh nghiệp trên cơ sở chiến lược kinh doanh đã đề racủa công ty sao cho hoạt động kinh doanh của công ty đạt hiệu quả cao nhất Trongnền kinh tế thị trường để thích ứng với môi trường thay đổi doanh nghiệp muốnthành công phải có khả năng ứng phó với mọi tình huống Điều này đòi hỏi nhàquản trị phải nắm bắt được những xu thế đang thay đổi tìm ra những yếu tố thenchốt đảm bảo thành công biết khai thác những ưu thế tương đối hiểu được nhữngđiểm mạnh điểm yếu của mình và các đối thủ cạnh tranh Hiểu được các mongmuốn của khách hàng và khả năng đáp ứng của công ty biết cách tiếp cận thị trườngnhằm tìm ra các cơ hội kinh doanh từ đó vạch ra kế hoạch kinh doanh đúng đắn Sau hơn 15 năm đổi mới đất nước ta đã dành được nhiều thành tựu to lớn và rấtquan trọng nhất là trong lĩnh vực kinh tế Ở trong tất cả các ngành kinh tế quốc dânchúng ta có thể thấy được tình hình sản xuất kinh doanh liên tục được đổi mới vàphát triển một trong số những ngành kinh tế điển hình là ngành công nghiệp dệtmay Việt nam Với mục tiêu nghiên cứu những vấn đề lý luận, phương pháp luận vàphương pháp cụ thể để xây dựng kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp trong
Trang 2ngành dệt may Việt Nam, bên cạnh đó tìm ra một số định hướng về xây dựng kếhoạch sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần Sơn Chinh ( sản xuất hàng may
mặc) thời kỳ 2009 – 2010 em đã đi sâu nghiên cứu đề tài “xây dựng kế hoạch sản
xuất kinh doanh thời kỳ 2009 – 2010 của công ty cổ phần Sơn Chinh”.
Đây là một chuyên đề phức tạp đòi hỏi tính thực tế cao với trình độ và thời gian
hạn chế nên chuyên đề tốt nghiệp của em không khỏi tránh những thiếu sót Rấtmong được sự quan tâm góp ý của các thầy cô trong khoa kế hoạch và phát triểntrường đại học kinh tế quốc dân
Em xin cảm ơn GS.TS Vũ Thị Ngọc Phùng đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ gợi ýsửa chữa cho em trong suốt quá trình em viết chuyên đề này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo công ty các phòng ban chức năngđặc biệt là phòng kế hoạch kinh doanh của công ty cổ phần Sơn Chinh đã tạo điềukiện thuận lợi, hướng dẫn và cung cấp tài liệu cho tôi trong thời gian tôi thực tập tạicông ty để tôi có thể hoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trang 3CHƯƠNG I VAI TRÒ NỘI DUNG CỦA CÔNG TÁC XÂY DỰNG
KẾ HOẠCH KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
I- VAI TRÒ CỦA KẾ HOẠCH KINH DOANH TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
1- Tính tất yếu và bản chất của kế hoạch kinh doanh ở doanh nghiệp
Kế hoạch kinh doanh được coi là một văn bản trong đó phác thảo ra những gì sẽlàm trong thời gian tới: đó là những gì mua vào, sản xuất, bán ra và bán cho ai cầnnguồn nhân lực vật lực như thế nào để công ty tồn tại và phát triển
Sự chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang xây dựng cơ chế thị trường
có sự quản lý của nhà nước đã và đang đặt ra nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễncần phải nghiên cứu và giải quyết Một trong những vấn đề đó là lĩnh vực kế hoạchhóa Trong những năm chuyển đổi vừa qua có không ít những những ý kiến bànluận khác nhau về vai trò và sự tồn tại khách quan của công tác này Một số ý kiếncho rằng: trong nền kinh tế thị trường cơ chế quản lý mới này không có chỗ chocông tác kế hoạch hóa, tức là kế hoạch không thể tồn tại trong cơ chế thị trường,công tác này chỉ phù hợp trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp Một số ýkiến khác lại cho rằng: giờ đây khi thị trường trực tiếp điều tiết chỉ dẫn cho cácdoanh nghiệp trong các hoạt động nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế cơ bản, dùtrong điều kiện nào công tác kế hoạch hóa nói chung và công tác kế hoạch hóa trongcác doanh nghiệp nói riêng vẫn tồn tại như một khâu, một bộ phận của hoạt độngquản lý và là một trong những yếu tố cấu thành cơ chế quản lý Khi môi trường vàđiều kiện hoạt động thay đổi cùng với các bộ phận khác của cơ chế quản lý mớithay đổi công tác kế hoạch hóa cũng được nghiên cứu và đổi mới cho phù hợp Những bài học thực tiễn trong cơ chế quản lý cũ không phải ít, với cơ chế điềuhành cứng nhắc từ trên xuống dưới thể hiện ở các chỉ tiêu pháp lệnh thông qua hệthống kế hoạch pháp lệnh đã để lại sự ăn mòn trong công tác xây dựng kế hoạch
Trang 4kinh doanh của các doanh nghiệp mà đến nay vẫn chưa xóa nhòa được, hậu quả của
cơ chế cũ là làm cho các doanh nghiệp không biết đến thị trường đi ngược lại với cơchế của thị trường như quy luật cung cầu, quy luật giá cả…do đó điều hành sản xuấtkinh doanh thiếu linh hoạt nhà sản xuất không biết đến nhu cầu của người tiêu dùngsản xuất kinh doanh không gắn liền với hiệu quả kinh tế, trong giai đoạn này cácdoanh nghiệp chỉ quan tâm xem có hoàn thành được kế hoạch hay không Trong khi
đó cơ chế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt giữa các đơn vị kinh tế thì hiệu quảkinh tế là mục tiêu hàng đầu, là mục tiêu bao trùm lên tất cá các mục tiêu khác Kếhoạch cho phép các doanh nghiệp biết đến hướng đi trong thời gian tới, nó khôngchỉ quan tâm đến vấn đề tài chính mà còn xem xét các hoạt động khác của công tynhư thị trường khách hàng, sự biến động của môi trường kinh doanh…và nhữngthay đổi có thể xẩy ra, công ty có cách ứng phó như thế nào trước sự thay đổi đó.Ngoài ra kế hoạch kinh doanh còn là cơ sở để ngân hàng xem xét có nên cho công
ty vay vốn để sản xuất kinh doanh hay không vì bản kế hoạch kinh doanh sẽ chongân hàng thấy được trong tương lai công ty sẽ mở rộng và phát triển đến đâu, trongtrường hợp này bản kế hoạch kinh doanh thực sự có ý nghĩa
Thực tế hoạt động quản lý của doanh nghiệp trong những năm vừa qua đã đemlại những bài học kinh nghiệm quý giá nếu như coi thường các yêu cầu của công tác
kế hoạch hóa, các phương thức hoạch toán kinh doanh, đúng nguyên tắc tập trungdân chủ sẽ dẫn đến cách làm tùy tiện, thiếu kỷ cương, mạnh ai nấy làm không thểkiểm soát được Thực tế này đã dẫn đến một thực trạng thiếu ổn định trong công tácquản lý kế hoạch hóa doanh nghiệp: khi thì dân chủ quá dẫn đến “dân chủ quá tròn”khi thì gò bó cứng nhắc, quá nguyên tắc làm cho hoạt động kinh tế thiếu linh hoạt Trong thực tế ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển họ đều quan tâmđến công tác lập kế hoạch ở cấp doanh nghiệp, họ đánh giá đúng vai trò vị trí xácđịnh rõ chức năng và tổ chức nghiên cứu thực thi nhiều giải pháp nhằm thực hiện,hoàn chỉnh công tác này Qua những thử nghiệm và đánh giá các nhà kinh tế họcnhận định rằng: hoạt động kế hoạch hóa của doanh nghiệp là sự cần thiết nhằm thựchiện hai mục đích là tận dụng các cơ hội nhằm phát triển khả năng thành công trong
Trang 5hoạt dộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và tránh các rủi ro đe dọa của môitrường đến các doanh nghiệp Và thực tế ngày nay trong các doanh nghiệp công tác
kế hoạch hóa được quan tâm hàng đầu bởi lẽ hoạt động này giúp cho các công tycác doanh nghiệp hoạch định đúng mục tiêu hoạt động dự báo đúng khả năng vànguồn lực của doanh nghiệp xây dựng và đánh giá các phương án hoạt động nhằmthực hiện các mục tiêu sản xuất kinh doanh đã đăt ra cho năm kế hoạch
Khái niệm về kế hoạch kinh doanh
Trong nền kinh tế quốc dân có thể phân biệt hai loại kế hoạch đó là kế hoạchkinh tế xã hội của chính phủ và kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Kế hoạch sản xuất kinh doanh là dự định chiến lược về hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp trong một thời gian nhất định Kế hoạch này do doanh nghiệpvạch ra trên định hướng của kế hoạch kinh tế xã hội của chính phủ dựa trên nguồnlực và thị trường của doanh nghiệp Kế hoạch sản xuất kinh doanh phải đạt đượcmục tiêu và đảm bảo nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ xã hội vừa đảm bảo được lợinhuận tối đa để tái sản xuất kinh doanh mở rộng thị trường Bất kỳ một doanhnghiệp nào khi mới thành lập cũng phải vạch cho mình một kế hoạch kinh doanh cụthể với những chiến lược mục tiêu rõ ràng để thực hiện việc kinh doanh có hiệu quả,kết quả đó phải phù hợp với nguồn lực của mình Đối với doanh nghiệp nào đã xâydựng được chiến lược kinh doanh thì kế hoạch kinh doanh nhằm cụ thể hóa các mụctiêu chiến lược cho một thời kỳ kinh doanh
2- Các bộ phận cấu thành kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp
Kế hoach kinh doanh bao gồm ba bộ phận cơ bản: kế hoạch hóa mục tiêu, kếhoạch nguồn lực và cách đạt được mục tiêu, kế hoạch hóa chính sách xã hội và phânphối các kết quả đạt được
Kế hoạch mục tiêu của doanh nghiệp là việc doanh nghiệp đề ra các kết quả
kinh doanh cần phấn đấu để đạt được trong thời gian kế hoạch
Các chỉ tiêu của kế hoạch mục tiêu là các kết quả kinh doanh của doanh nghiệpnhư: tổng sản lượng, tổng doanh thu,lợi nhuận, các khoản nộp ngân sách nhà nước(đối với doanh nghiệp nhà nước)
Trang 6Yêu cầu của chỉ tiêu nói trên được căn cứ vào mối quan hệ tác động giữa chúng,xuất phát từ tình hình thực tế năm trước, tháng trước, xuất phát từ nhu cầu của thịtrường qua kết quả nghiên cứu thị trường, từ kế hoạch của nhà nước(đối với cácdoanh nghiệp nhà nước).
Quá trình xây dựng mục tiêu chính là tính toán và phân tích chỉ số tuyệt đốitương đối của từng chỉ tiêu tổng quát và các bộ phận cấu thành chỉ tiêu (như tổngdoanh thu, doanh thu sản phẩm,doanh thu từ các dịch vụ…) đồng thời phân tích các
tỷ trọng của bộ phận cấu thành nhằm rút ra các giải pháp chính xác, đúng đắn nhằmnâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Xác định tỷ suất lợinhuận theo doanh thu, chi phí… Nhằm so sánh hiệu quả sản xuất kinh doanh củađơn vị qua các năm
Kế hoạch các nguồn lực và cách để đạt được mục tiêu (chủ trương, biện
pháp)
Để đạt được các mục tiêu đề ra doanh nghiệp cần phải có nguồn lực (con người,vốn, công nghệ, đất đai…) để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh Nguồn lựcnày không phải lúc nào doanh nghiệp cũng có sẵn mà phải huy động, chính vì vậy
mà ngay từ khi triển khai thực hiện kế hoạch doanh nghiệp cần phải có chính sáchtừng bước huy động các nguồn lực với chất lượng cần thiết cho việc thực hiện cácmục tiêu đã đề ra
Bộ phận kế hoạch nguồn lực là kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản, kế hoạch trangthiết bị công nghệ cơ sở vật chất phục vụ sản xuất và quản lý, kế hoạch nguồn vốn,
kế hoạch phát triển nguồn nhân lực (kế hoạch đào tạo, kế hoạch lao động tiềnlương) Bên cạnh đó là việc hệ thống hóa chính sách marketing, chính sách tiêu thụsản phẩm, chính sách phát triển các dịch vụ trong và sau khi bán hàng…nhằm đẩynhanh tốc độ hoàn thiện kế hoạch
Giữa kế hoạch mục tiêu và kế hoạch nguồn nhân lực cho sự phát triển có mỗiquan hệ phụ thuộc với nhau Kế hoạch mục tiêu là cơ sở cho kế hoạc nguồn nhânlực ngược lại kế hoạch nguồn nhân lực là điều kiện để có thể đạt được kế hoạchmục tiêu Nếu nguồn lực không cho phép thì các chỉ số của kế hoạch mục tiêu bắt
Trang 7buộc cần phải giảm bớt đi, ngược lại nếu nguồn lực huy động được vượt quá sự cầnthiết để hoàn thành kế hoạch và thể dẫn đến sự lãng phí nguồn lực, đặc biệt là yếu tốcon người.
Xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch trong kế hoạch nguồn nhân lực là việc xác địnhcác thông số kỹ thuật, kinh tế hoặc các thông số về nguồn nhân lực cần đạt đượctrong thời gian tới, với tiến độ kịp thời có lợi nhất cho việc thực hiện kế hoạch mụctiêu Kế hoạch đầu tư cần có sự chi tiêu cụ thể tránh sự chồng chéo, chậm trễ haylãng phí
Kế hoạch các chính sách xã hội và phân phối các kết quả kinh doanh là việc
hoàn thành các nghĩa vụ đối với nhà nước (đối với các doanh nghiệp nhà nước) việcthực hiện các hoạt động mang tính chất tích cực nâng cao phúc lợi cho người laođộng chủ yếu là các chính sách an toàn lao động, khen thưởng, trợ cấp, giúp đỡngười lao động khi gặp khó khăn…các chính sách này được thực hiện bằng cáchtrích lập các quỹ cho người lao động, các quỹ này được lấy từ lợi nhuận mà doanhnghiệp kiếm được
Yêu cầu của kế hoạch phân phối kết quả kinh doanh là phải xử lý thỏa đáng cácmối quan hệ giữa nhà nước doanh nghiệp và người lao động Trong nội bộ doanhnghiệp khi phân bổ vào các quỹ cũng cần có sự tương xứng thích đáng với vai trò
và tầm quan trọng trong mỗi quý Việc xử lý thỏa đáng các mỗi quan hệ bên trongbên ngoài doanh nghiệp có tác động rất lớn đối với sự phát triển của doanh nghiệp
3- Các loại kế hoạch kinh doanh trong doanh nghiệp và mối quan hệ giữa các kế hoạch kinh doanh đó
Trong các hoạt động thực tế, hệ thống kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp
trong nền kinh tế thị trường rất đa dạng và phong phú có thể phân loại theo nhiềutiêu thức khác nhau
3.1- căn cứ vào tiêu thức thời gian
Kế hoạch chiến lược (thường gọi là chiến lược) nhằm xác định các lĩnh vực mà
công ty sẽ tham gia, đa dạng hóa hoặc cải thiện hoạt động trên các lĩnh vực hiện tại,xác định các mục tiêu các giải pháp dài hạn cho các vấn đề như đầu tư nghiên cứu
Trang 8phát triển, con người…
Kế hoạch trung hạn: thường 2,3 năm nhằm phác thảo chương trình trung hạn để
thực hiện kế hoạch dài hạn, tức là để đảm bảo tính khả thi của lĩnh vực mục tiêu,chính sách và giải pháp được hoạch định trong chiến lược đã chọn
Chương trình kế hoạch hàng năm : tùy theo cách tiếp cận của kế hoạch chiến
lược và kế hoạch trung hạn cách cụ thể hóa các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh hàngnăm có thể được xác định theo chương trình hoặc kế họach năm Cho dù kế hoạchnăm được xác định như thế nào thì bản chất của nó vẫn là sự cụ thể hóa nhiệm vụsản xuất kinh doanh căn cứ vào định hướng mục tiêu chiến lược và kế hoạch trunghạn, căn cứ vào kết quả điều chỉnh nghiên cứu các căn cứ để có được kế hoạch phùhợp với điều kiện kế hoạch năm
Kế hoạch tác nghiệp và dự án: để triển khai các mục tiêu hoạt động sản xuất
kinh doanh các công ty cần hoạch định kế hoạch tác nghiệp và các phương án Các
kế hoạch tác nghiệp ( có thể theo sản phẩm, theo lĩnh vực, theo bộ phận sản xuấthoặc tiến độ thời gian) Gắn liền với việc triển khai các phương án kế hoạch là các
dự án về cải tạo hiện đại hóa dây chuyền công nghệ, đào tạo nghiên cứu pháttriển…gắn liền với việc thực thi các chương trình hoặc các chương trình đồng bộ cómục tiêu
3.2- Căn cứ vào mối quan hệ giữa các hoạt động kế hoạch hóa phạm vi doanh nghiệp có:
Bộ phận kế hoạch mục tiêu: đây là bộ phận kế hoạch quan trọng nhất của doanh
nghiệp có nhiệm vụ hoạch định các mục tiêu về sản xuất, thị trường, quy mô và cơcấu các hoạt động sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó, bộ phận kế hoạch mục tiêucũng xác định các mục tiêu tài chính cư bản nhằm xác định hiệu quả hoạt động sảnxuất kinh doanh gắn liền với từng phương án được hoạch định
Các kế hoạch điều kiện hỗ trợ về vốn, vật tư, nhân lực, tiền lương… xác định
chính sách, giải pháp, phương hướng huy động khai thác các khả năng nguồn lựcnhằm thực hiện có hiệu quả các phương án kế hoạch mục tiêu và gắn kiền với kếhoạch mục tiêu Việc xác định các kế hoạch này nhằm đảm bảo tính đồng thời
Trang 9trong mục tiêu, giải pháp và các điều kiện thực hiện các kế hoạch quản lý Độ dàithừi gian và yêu càu của các kế hoạch mục tiêu sẽ quyết định các vấn đề tương laicủa các kế hoạch điều kiện Cuối cùng việc xây dựng và thực hiện các kế hoạchđiều kiện là nhằm đảm bảo và nâng cao tính khả thi của các phương án và cácchương trình kế hoạch của doanh nghiệp.
Về mặt logic kế hoạch kinh doanh là kế hoạch mở đầu của một quá trình hoạtđộng sản xuất kinh doanh có một vai trò hết sức quan trọng vì nó lập ra mục tiêu lập
ra phương hướng để doanh nghiệp đi đến mục tiêu Để tiến hành hoạt động sản xuấtkinh doanh doanh nghiệp cần phải tiến hành thực hiện đồng bộ các kế hoạch tổnghợp kinh doanh – kỹ thuật – tài chính – xã hội, giữa các kế hoạch bộ phận có mỗiquan hệ khăng khít với nhau trong đó kế hoạch kinh doanh đóng vai trò quan trọng
là kế hoạch trung tâm của các kế hoạch khác
Kế hoạch kinh doanh là cơ sở để tính toán để xây dựng các chỉ tiêu của kế hoạchkhác như kế hoạch tài chính, kế hoạch chi phí, kế hoạch sử dụng lao động kế hoạchtiền lương, kế hoạch khách hàng…
Kế hoạch kinh doanh là căn cứ để tính các chỉ tiêu về hoạt động kinh doanh nhưdoanh thu, lợi nhuận, năng suất lao động…
4- Vai trò của kế hoạch kinh doanh trong hoạt động kinh doanh cảu doanh nghiệp
Trong phạm vi doanh nghiệp kế hoạch là chức năng đầu tiên và quan trọng trongquản lý doanh nghiệp Theo Hanry Foyol: “ doanh nghiệp chỉ thu được kết quả khi
nó hướng dẫn bởi một chương trình hoạt động một kế hoạch nhất định nhằm xácđịnh rõ: sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Với nguồn tài chínhnào?”
Trước kia trong cơ chế bao cấp các chỉ tiêu kế hoạch được cơ quan cấp trên giaoxuống theo nhiệm vụ của từng ngành do đó không sát với thực tế của doanh nghiệptrong quá trình thực hiện phải có sự điều chỉnh mới có thể thực hiện được, làm chovai trò của kế hoạch bị lu mờ trong quản lý doanh nghiệp Từ khi nền kinh tế có sựchuyển đổi sang “cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã
Trang 10hội chủ nghĩa” ( đại hội đảng toàn quốc lần thứ VI – năm 1986) mới thực sự tạo ramôi trường cho kế hoạch hoạt động, nghĩa là kế hoạch phải xuất phát từ nghiên cứuthị trường, khả năng thực tế của doanh nghiệp và điều kiện pháp luật cho phép.Xuất phát từ cơ sở này kế hoạch thực sự trở thành công cụ quản lý quan trọng nhằmxác định nhiệm vụ và mối quan hệ giữa các bộ phận và các cá nhân trong quá trìnhthực hiện các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh Cụ thể vai trò của kế hoạch được thểhiện qua các mặt sau:
Thứ nhất, trong lĩnh vực kinh doanh kế hoạch tạo ra thế chủ động ( tức là tạo ramột sự định hướng) chủ động khai thác mọi nguồn lực: vốn, vật tư, máy móc thiết
bị, lao động hiện có chủ động trong việc mua sắm hàng hóa, đổi mới công nghệ, chủđộng trong việc liên doanh liên kết với các doanh nghiệp khác, chủ động trongnghiên cứu tìm kiếm mở rộng thị trường tiêu thụ, thị trường nguyên vật liệu đầuvào
Thứ hai, kế hoạch là công cụ đắc lực trong việc nỗ lực của các thành viên trongdoanh nghiệp sẽ biết “con thuyền” đến đích đã định Nếu thiếu kế hoạch doanhnghiệp sẽ như con thuyền mất tay lái không có định hướng nên cứ đi lòng vòng Thứ ba, kế hoạch có thể giảm được sự chồng chéo và những hoạt động lãng phí
Kế hoạch không chỉ đơn thuần là các mục tiêu là những hướng đi của doanh nghiệp
mà nó còn thể hiện các cách để đạt được mục tiêu đó Kế hoạch chỉ ra trách nhiệm
và nghĩa vụ của từng cá nhân, từng bộ phận trong việc thực hiện mục tiêu kinhdoanh do vậy hiện tượng chồng chéo lãng phí được giảm đến mức thấp nhất gópphần đem lại hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp
Thứ tư, kế hoạch có thể làm giảm tính bất ổn định cho doanh nghiệp Trong quátrình xây dựng kế hoạch các nhà hoạch định buộc phải nhìn về phía trước dự đoánnhững thay đổi của nội bộ doanh nghiệp cũng như của môi trường kinh doanh cânnhắc những ảnh hưởng của chúng và đưa ra những ứng phó kịp thời
Thứ năm, kế hoạch thiết lập nên những tiêu chuẩn tạo điều kiện cho công táckiểm tra kiểm soát trong doanh nghiệp Nếu một doanh nghiệp không biết rõ cáiđích mà mình hướng tới là gì và đạt được bằng cách nào thì đương nhiên không thể
Trang 11xác đinh được liệu nó đã thực hiện được mục tiêu hay chưa và cũng không cónhững biện pháp điều chỉnh kịp thời khi có những biến cố xẩy ra Vì vậy không có
kế hoạch thì không có kiểm tra
Tóm lại, chức năng kế hoạch là chức năng đầu tiên là xuất phát điểm của mọiquá trình quản lý trong doanh nghiệp Thực tế đã chứng minh trong cơ chế thịtrường doanh nghiệp mà không có kế hoạch hoặc chất lượng kế hoạch không cao thìhiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ thấp Việc vạch ra các kế hoạch có hiệu quả là chìakhóa vàng đem lại sự thành công cho doanh nghiệp
5- Ý nghĩa của việc xây dựng và thực hiện kế hoạch kinh doanh ở doanh nghiệp
Kinh doanh là quá trình đầu tư công sức tiền của vào một lĩnh vực nhất định đểtìm kiếm lợi nhuận Một doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại và phát triển được khi nótiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả Lợi nhuận là vấn đề sống còn của doanhnghiệp nó quyết định việc mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp, muốn kinh doanh tốt thì phải làm tốt công tác lập kế hoạch kinh doanh thựchiện tốt kế hoạch đó có như vậy doanh nghiệp mới hoàn thành tốt các chỉ tiêu vàđánh giá được năng lực của mình
Kế hoạch kinh doanh có ý nghĩa rất to lớn đối với các doanh nghiệp:
- Đảm bảo cho doanh nghiệp đối phó được với những biến động của thịtrường
- Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
- Là công cụ chủ yếu để quản lý mọi mặt của hoạt động sản xuất kinh doanh
là đòn bẩy quan trọng để khai thác mọi khả năng tiềm tàng nhằm mục tiêu sử dụngmột cách hợp lý nhất toàn bộ giá trị tài sản của doanh nghiệp để phát triển sản xuấtnâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, hiệu quả kinh tế xã hội và cảithiện từng bước đời sống của người lao động
- Kế hoạch kinh doanh có ý nghĩa quan trọng góp phần làm cho quá trìnhkinh doanh diễn ra liên tục có hiệu quả
- Lập kế hoạch giúp cho doanh nghiệp tổ chức tốt hoạt động thị trường và
Trang 12chiếm lĩnh thị phần trên thị trường bằng việc sử dụng các chiến lược khác nhau nhưchiến lược chi phí thấp,chiến lược khác biệt hóa… tổ chức tốt công tác nghiên cứuthị trường tìm hiểu các nhu cầu của khách hàng từ đó tạo ra ưu thế cạnh tranh, mởrộng các thị trường mới Thông qua kế hoạch kinh doanh kích thích các nhà lãnhđạo công ty suy nghĩ đến triển vọng phát triển của công ty trong tương lai.
Tóm lại, kế hoạch kinh doanh có ý nghĩa quan trọng nó ảnh hưởng đến thànhcông hay thất bại của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh Lập kếhoạch kinh doanh mới có khả năng nắm bắt được nhu cầu của thị trường và chủđộng đối phó với những diễn biến phức tạp của môi trường kinh doanh, nắm bắtđược nhu cầu của khách hàng từ đó có thể đưa ra được những kế hoạch chi tiết cụthể tao tiền đề cho doanh nghiệp phát triển
II- NỘI DUNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG KẾ HOẠCH SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1- Nội dung của kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp
Từ trước tới nay bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển đềukhông thể thiếu công tác kế hoạch, kế hoạch giúp cho doanh nghiệp xác định đúngđắn, đưa ra những chính sách biện pháp thích hợp để đạt được mục tiêu đề ra Côngtác kế hoạch hóa giống như chiếc cầu bắc từ hiện tại đến tương lai, nó vạch ra conđường phát triển của doanh nghiệp làm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Kếhoạch là hoạt động chủ yếu của con người theo mục tiêu đã định trước Trên cơ sở
đó những nhà lãnh đạo sẽ đề ra các chính sách và biện pháp để thực hiện mục tiêu
Trang 13cơ sở của mọi kế hoạch bộ phận của mọi lĩnh vực chức năng khác nhau của doanhnghiệp Chỉ có thể xác định được cơ cấu sản phẩm nào sẽ sản xuất, nếu xác địnhđược sẽ bán sản phẩm với cơ cấu và số lượng cụ thể bao nhiêu Như vậy việc xácđịnh kế hoạch sản xuất phải dựa trên cơ sở là kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, tiếp đó kếhoạch tiêu thụ sản phẩm lại quy định kế hoạch chuẩn bị các yếu tố sản xuất (kếhoạch tạo nguồn) Xét trên góc độ là phương tiện của hàng các hoạt động sản xuấtkinh doanh thì kế hoạch tài chính phụ thuộc vào kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, kếhoạch sản xuất sản phẩm, kế hoạch tạo nguồn và kế hoạch kho tàng.
1.2- Kế hoạch chương trình và quá trình sản xuất
1.2.1- Kế hoạch chương trình sản xuất
Nhờ kế hoạch chương trình sản xuất người ta xác định xem chủng loại sản phẩmnào và số lượng sản phẩm là bao nhiêu cần phải được sản xuất trên một thời kỳ xácđịnh Khi lập kế hoạch tức là tìm kiếm và xác định một chương trình sản xuất tối ưudựa trên cơ sở số liệu dự toán hoạch số liệu của kế hoạch tiêu thụ (chẳng hạn nhưsản lượng cao nhất có thể tiêu thụ, giá cả), lĩnh vực kho tàng (chẳng hạn như lượnghàng tồn kho), lĩnh vực sản xuất( chẳng hạn như năng lực về tư liệu lao động và vềlao động có thể sử dụng, đòi hỏi về năng lực sản xuất của mỗi đơn vị sản phẩm…)
và lĩnh vực mua sắm ( chẳng hạn như lượng nguyên liệu có thể sử dụng) Người taphải phân biệt kế hoạch hóa dài hạn, trung hạn và ngắn hạn Nhờ kế hoạch hóa dàihạn và trung hạn mà các vấn đề về cơ cấu của chương trình sản xuất và tiêu thụ sảnphẩm kể cả sự phát triển sản phẩm mới cũng như phương pháp sản xuất sẽ đượcquyết định Với các quyết định đó mối quan hệ giữa kế hoạch hóa sản xuất và tiêuthụ dài và trung hạn cũng như kế hoạch hóa tài chính và đầu tư luôn được lặp lại
Kế hoạch chương trình sản xuất và quá trình sản xuất có ưu thế ở các doanhnghiệp sản xuất nhóm sản phẩm đã tiêu chuẩn hóa Thông thường kế hoạch chươngtrình sản xuất phải xuất phát từ tư liệu lao động và sức lao động hiện có của doanhnghiệp, nếu trong trường hợp phải xuất phát từ chương trình tiêu thụ thì số lượngsản xuất các loại sản phẩm được chuẩn hóa từ sản lượng sản phẩm tiêu thụ đã được
kế hoạch hóa Khi xác định thời gian và số lượng sản xuất và tiêu thụ đối với sản
Trang 14xuất hàng loạt có thể đề cập đến các trường hợp sau:
1 Sản lượng sản phẩm tiêu thụ hàng tháng không đổi: có thể đưa sản lượng sảnphẩm tiêu thụ vào chương trình sản xuất Cả hai chương trình đều giốngnhau về lượng sự dự trữ là không cần thiết
2 Sản lượng sản phẩm tiêu thụ đổi theo mùa : xẩy ra do tính chất mùa vụ haytập quán tiêu dùng chẳng hạn như sự lặp đị lặp lại của các dịp lễ và do đó sựmua sắm của các loại hàng truyền thống trong năm thay đổi
3 Không chỉ ở khâu tiêu thụ mà ngay cả ở khâu mua sắm cũng phải phù hợpvới sự thay đổi mùa vụ Với các doanh nghiệp sản xuất theo tính chất mùa vụhầu như không loại bỏ được sản xuất theo kiểu lặp lại, vì vậy kế hoạch hóachương trình sản xuất được xây dựng ở các doanh nghiệp này trên cơ sở kếhoạch tiêu thụ và thời hạn mua sắm
4 Những thay đổi của chương trình sản xuất có thể xẩy ra do thay đổi cơ cấu,các phân tích thị trường phải xác đinh được xu thế tăng của cầu từ đó dẫn đến
sự mở rộng hay thu hẹp chương trình tiêu thụ và do đó mở rộng hay thu hẹpchương trình sản xuất Nhiệm vụ của kế hoạch hóa chương trình sản xuất làlàm phù hợp theo cách thức từng bậc sản lượng sản xuất theo kế hoạch với sựthay đổi tiêu thụ dự tính (nguyên tắc thang bậc)
5 Những thay đổi hoàn cảnh kinh tế đò hỏi sự thích ứng của kế hoạch hóachương trình khi so sánh các trường hợp thay đổi theo mùa vụ thì những thayđổi hoàn cảnh kinh tế có thể không được chú ý đến ở kế hoạch chương trình,không phải do dự trữ hay không có các biện pháp khác mà vì chu trình kinh
tế bao gồm một trùm một thời kỳ dài không vận động theo quy luật như tínhmùa vụ Khi thay đổi hoàn cảnh kinh tế trong khuôn khổ kế hoạch hóachương trình sản xuất người ta phải xóa bổ những thích ứng về sản lượng cólợi cho các quá trình thời gian
1 2.2- Kế hoạch quá trình sản xuất
Bên cạnh kế hoạch chương trình sản xuất các doanh nghiệp còn phải thực hiện
kế hoạch quá trình sản xuất Kế hoạch quá trình sản xuất phải xuất phát từ thực tế
Trang 15tư liệu lao động và sức lao động Những vấn đề đặt ra và giải quyết ở kế hoạchchương trình sản xuất là lựa chọn nhiều loại máy móc, lựa chọn giữa việc tự sảnxuất hay mua ngoài lựa chọn loại sản xuất tối ưu cũng như lựa chọn thứ tự chế biến
và điều kiện thuận lợi nhất ….ở các trường hợp không bắt buộc xác định trước sảnlượng mọi quyết định đưa ra đều phải theo quyết định tối thiểu hóa chi phí sản xuấtkinh doanh
Kế hoạch phương pháp sản xuất
Khi các loại máy móc và nơi làm việc khác nhau thực hiện quá trình lao động rấtgiống nhau ở các điều kiện sản xuất khác nhau và với chi phí kinh doanh khác nhau
sẽ đặt ra vấn đề lựa chọn loại máy móc hoặc nơi làm việc Ngược lại nếu nhiều sảnphẩm có thể được sản xuất trên cùng một loại thiết bị kỹ thuật sẽ xuất hiện vấn đềsắp xếp thứ tự loạt sản xuất theo thời gian vấn đề sản xuất theo loạt
Nếu dựa vào thị trường doanh nghiệp cung cấp nhiều loại sản phẩm nào màchúng được sản xuất tuần tự trên cùng một thiết bị sẽ phải trả lời câu hỏi việc sảnxuất một cách tuần tự toàn bộ mỗi loạt trong một khoảng thời gian nhất định haysản xuất trước hết tuần tự từng phần của sản lượng kế hoạch cho từng loạt rồi quaylại từ đầu là có hiệu quả hơn
Việc xác đinh sản lượng tối ưu của loạt mopt được tiến hành như sau:
Giả sử một doanh nghiệp và ở một thời kỳ nào đó sẽ tiêu thụ được M đơn vị sảnphẩm (cầu) và mỗi lượng sản phẩm m được sản xuất liên tục theo loạt thì n đượchình thành cho thời kỳ đó là :
Trang 16ở kho giảm bậc nhất tới 0 đơn vị trong thời kỳ kế hoạch n lần và trong thời kỳ kếhoạch n lần và lượng cao nhất m từ đó lượng sản phẩm lưu kho và tiền trả lãi toàn
bộ thời kỳ VCK ( với loạt chi phí VC1 cho mỗi thời kỳ và sản lượng m) có giá trị là :
VC K = VC 1 m/2 (3)
Chi phí này tăng bậc nhất với sự tăng của sản lượng của loạt
Chi phí kinh doanh ảnh hưởng đến quá trình của thời kỳ xem xét là:
Để thực hiện được các kế hoạch trên thì công ty phải chuẩn bị đầy đủ các nguồn
lực để tiến hành hoạt động sản xuất như vốn, con người, con nghệ, đất đai…Khitiến hành điều tra thị trường và lập được các kế hoạch tiêu thụ kế hoạch sản xuất thìcông ty phải lập kế hoạch các nguồn lực đây là yếu tố cơ bản nhất là những yêu cầucần thiết nhất để bắt đầu sản xuất kinh doanh Một khi công ty đã có dự định sảnxuất sản phẩm gì thì phải nhập vào các nguồn nguyên liệu, phụ liệu cần thiết phục
vụ cho quá trình sản xuất Trước đó công ty phải tìm kiếm mặt bằng để sản xuất và
là nơi để đặt địa điểm của công ty, chỗ đặt làm mặt bằng phải phù hợp thuận tiệngiao thông, thuân tiện để xử lý các chất thải sản xuất Để làm được điều này doanhnghiệp có thể đi thuê mặt bằng hoặc sử dụng mặt bằng của chính mình ( nếu doanhnghiệp tư nhân có mặt bằng sẵn ) Khi đã hoàn tất công việc này lúc đó doanhnghiệp mới tính đến việc mua dây chuyền công nghệ phục vụ cho sản xuất mà hầu
Trang 17hết ở nước ta các công ty sản xuất phải nhập khẩu dây chuyền công nghệ từ cácnước tiên tiến như Nhật Bản, Đức, Ytalia… tất cả những điều này buộc công ty phảixây dựng kế hoạch nguồn lực Kế hoạch nguồn lực là kế hoạch xây dựng cơ bản là
kế hoạch nguồn nhân lực, kế hoạch công nghệ, kế hoạch tài chính phục vụ cho quátrình sản xuất kinh doanh của công ty Khi các cơ sở vật chất kỹ thuật đã chuẩn bịxong thì một công việc rất quan trọng và quyết định đến quá trình sản xuất đó lànguồn nhân lực về con người, công việc tuyển chọn những người lao động phải có
kế hoạch cụ thể và nó là một phần trong kế hoạch nguồn lực của doanh nghiệp Bất
kỳ doanh nghiệp sản xuất hay doanh nghiệp thương mại đều phải có kế hoạch tuyểndụng và đào tạo nguồn nhân lực cho mình, con người là yếu tố cơ bản quyết địnhđến việc thành công hay thất bại của doanh nghiệp.Một nguồn lực không thể thiếucho bất kỳ một doanh nghiệp nào đó là nguồn lực tài chính hay còn gọi là vốn kinhdoanh, đây là bộ phận nguồn lực quan trọng nhất trong kế hoạch nguồn lực vì cóvốn mới có thể tiến hành được các hoạt động thuê mặt bằng, mua công nghệ, tuyểnnhân công và mua các nguyên liệu đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất kinhdoanh Ví dụ một công ty sản xuất hàng may mặc thì kế hoạch nguồn lực của họbao gồm nhà xưởng sản xuất, dây chuyền may, Nguồn vốn kinh doanh, Nguồn laođộngvà các nguồn lực khác
Tóm lại, kế hoạch nguồn lực là một kế hoạch quan trọng rất cần thiếtvà khôngthể thiếu trong kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp muốn tiếnhành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình thì phải xây dựng kế hoạch kinhdoanh hoàn chỉnh trong đó kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, kế hoạch sản xuất và kếhoạch nguồn lực là ba kế hoạch quan trong nhất trong kế hoạch kinh doanh buộcdoanh nghiệp phải xây dựng
Bên cạnh các kế hoạch trên thì việc xây dựng kế hoạch vận chuyển, bất kỳ một
doanh nghiệp nào cũng phải có kế hoạch vận chuyển vận chuyển hàng hóa dodoanh nghiệp mình sản xuất ra hay vận chuyển nguyên vật liệu đầu vào Vàdoanh nghiệp phải tính toán xem kế hoạch vận chuyển như thế nào là có lợi
Trang 18nhất cho doanh nghiệp của mình.khi đã xây dựng đầy đủ các kế hoạch trên thìdoanh nghiệp đã có thể bắt tay vào việc đưa bản kế hoạch kinh doanh này vàothực tiễn
2- Phương pháp xây dựng các kế hoạch và tính toán các chỉ tiêu kế hoạch 2.1- Giới thiệu chung về phương pháp lập kế hoạch
Xác định mục tiêu kinh doanh: trước hết phải xác định mục tiêu tổng quát của
hoạt động kinh doanh toàn doanh nghiệp trong thời kỳ dài hạn đó là các địnhhướng, các mục tiêu chiến lược, trong ngắn hạn đó là các mục tiêu về tốc độ tăngtrưởng sản lượng, lợi nhuận sau đó xác định cho mục tiêu cấp dưới Dù ở cấp độnào mục tiêu cũng phải đáp ứng các vấn đề : cái đích cần đạt đến, thứ tự ưu tiên,thời gian cần thiết để tiến hành, thời gian kết thúc…mục tiêu tổng quát chỉ rõphương hướng của kế hoạch và là căn cứ để xác định mục tiêu bộ phận Mục tiêu bộphận chính sẽ kiểm soát mục tiêu bộ phận phụ và cứ như thế cho đến mục tiêu bộphận thấp nhất
Soát xét vấn đề căn cứ: đây là bước quan trọng trong quá trình lập kế hoạch đó là
việc hình thành, mở rộng và đạt được sự thống nhất để sử dụng các tiền đề cấp thiếtcho việc lập kế hoạch Các tiền đề cấp thiết đó liên quan trực tiếp đến kết quả phântích về môi trường, điều kiện kinh doanh và nội bộ doanh nghiệp và các dự báoquan trọng có liên quan tới : thị trường, cơ cấu và sản lượng sản phẩm, các triểnkhai kỹ thuật công nghệ, chính sách tài chính, môi trường chính trị pháp luật, xãhội…Trên thực tế một nguyên tắc cơ bản trong xây dựng kế hoạch cá nhân được gianhiệm vụ xây dựng kế hoạch càng hiểu biết sâu trong việc sử dụng các tiền đề hợp
lý thì việc xây dựng sẽ càng được phối hợp chặt chẽ hơn
Trang 19Sơ đồ phương pháp xây dựng kế hoạch
Hoạch định phương án kinh doanh :các mục tiêu thường được thực hiện bằng
các con đường khác nhau, ứng với mỗi con đường có thể xác định một phương ánkinh doanh hợp lý Tuy nhiên yêu cầu cơ bản của bước này không phải là tìm ramọi phương án mà là lựa chọn một phương án tốt nhất có triển vọng nhất
Đánh giá các phương án dựa vào mục tiêu cần đạt được: sau khi tìm được
phương án và phân tích được điểm mạnh điểm yếu của chúng là việc định hướngcác phương án dưới ánh sáng tiền đề căn cứ vào mục tiêu từ đó đánh giá so sánh cácphương án với nhau Vì có vô số các biến số và ràng buộc cần xem xét nên việcđánh giá trở nên rất khó khăn
Lựa chon phương án kinh doanh: sau khi so sánh các phương án với nhau ta
chọn ra phương án tối ưu nhất đối với doanh nghiệp, đây là thời điểm phương ánđược chấp nhận Trên thực tế doanh nghiệp có thể lựa chọn cho mình một phương
án tối ưu và một phương án dự phòng
Lượng hóa phương án thông
qua
Trang 20Xây dựng phương án kế hoạch hỗ trợ: các kế hoạch hỗ trợ được xác định
trên cơ sở phương án đã xác định trong dài hạn đó là việc xác định các chính sách,biện pháp, chiến lược dài hạn Còn trong ngắn hạn là việc xác định các kế hoạchđiều kiện về vốn, lao động, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu…nhằm thực hiện cóhiệu quả phương án kinh doanh, lượng hóa phương án thông qua việc lập ngân quỹ
Kế hoạch sau khi đã được xây dựng xong và công bố phải được lượng hóa bằngtiền Ngân quỹ chung cho doanh nghiệp biểu thị toàn bộ thu nhập và chi phí với lợinhuận hoặc số dư tổng hợp Nếu thực hiện tốt nhân quỹ sẽ là phương tiện tốt nhất
để kết hợp các bộ phận khác nhau và tiêu chuẩn quan trọng để đo lường sự thăngtiến của kế hoạch
2.2- Các phương pháp xây dựng kế hoạch kinh doanh
Phương pháp cân đối:được thực hiện qua các bước:
Bước 1: xác định nhu cầu về các yếu tố kinh doanh để thực hiện các mục tiêukinh doanh dự kiến
Bước 2: xác định khả năng bao gồm khả năng đã có và chắc chắn sẽ có củadoanh nghiệp về các yếu tố kinh doanh
Bước3: cân đối giữa nhu cầu và khả năng về các yếu tố kinh doanh Cân đốiđược thực hiện là cân đối động và được thực hiện liên hoàn tức là tiến hành cân đốiliên tục nhau để tiến hành bổ sung điều chỉnh phương án cho phù hợp với thay đổicủa môi trường Trong đó thực hiện cân đối từng yếu tố trước khi tiến hành cân đốitổng hợp
Phương pháp phân tích nhân tố tác động:
Khi xây dựng kế hoạch kinh doanh các nhà hoạch định kế hoạch sẽ xem xét cácyếu tố sau:
- Các yếu tố như : tổng sản phẩm xã hội, mức cung tiền
- Sự phát triển về dân số và nhóm lứa tuổi
- Các yếu tố chính trị pháp luật như luật cạnh tranh, luật bảo vệ môitrường
- Sự biến động của thị trường và thái độ của khách hàng
Trang 21- Sự thay đổi cấu trúc ngành nghề
- Các đặc điểm về nguồn lực của doanh nghiệp: phần thị trường, chu
kỳ sống của sản phẩm, chất lượng lao động, doanh thu…
Phương pháp lợi thế vượt trội: phương pháp này gợi mở cho cá nhà hoạch định
kế hoạch xem xét lợi thế vượt trội của doanh nghiệp từ đó lập kế hoạch để mang lạihiệu quả cho doanh nghiệp,
Phương pháp chu kỳ sống của sản phẩm:
Mỗi sản phẩm khi xuất hiện trên thị trường đều có tính chất thời điểm và thờiđoạn đến thời gian nào đó nó sẽ bị thị trường từ chối Người hoạch định kế hoạchkinh doanh sẽ quyết đinh chỉ sản xuất và kinh doanh mặt hàng nào do đó việc phântích chu kỳ sống của sản phẩm là một phương pháp kế hoạch quan trọng
Các giai đoạn Thâm nhập Tăng trưởng Chín muồi Suy thoáiĐối thủ cạnh
Sự co giãn
giá cả
Bảng chu kỳ sống của sản phẩm
Phương pháp đường cong kinh nghiệm
Phương pháp này dựa vào kết quả nghiên cứu của nhóm tư vấn Boston thực chất
là việc phân tích các đối thủ cạnh tranh của vùng, ngành nghề trên cơ sở mối quan
hệ của việc giảm chi phí trên mọi đơn vị sản phẩm với việc tăng sản lượng sảnphẩm Theo kết quả nghiên cứu nếu sản lượng tăng gấp đôi thì chi phí có thể hạ từ
Trang 2220% đến 30% ( không kể lạm phát).
Phương pháp mô hình PISM
Đây là phương pháp áp dụng rộng rãi ở hoa kỳ thực chất là việc phát hiện sự traođổi các kết quả có tính chất chiến lược để từ đó xác định kế hoạch kinh doanh
P:profine(lợi nhuận), I: impact (tác động), S: strategy (chiến lược), M: market(thịtrường)
Khi hoạch định kế hoạch họ phải phân tích 6 vấn đề sau:
- Sự hấp dẫn của thị trường: mức tăng thị trường tỷ lệ xuất khẩu…
- Tình hình cạnh tranh: tính thị phần tương đối của doanh nghiệp dùng
để phân tích cho từng loại sản phẩm
Phần thị trường tuyệt đối của doanh nghiệp
- Sử dụng ngân sách của doanh nghiệp: quy mô của doanh nghiệp, mức
độ phân tán của doanh nghiệp
- Phân tích sự thay đổi của các yếu tố :phần thị trường liên kết giá cả,chất lượng sản phẩm và sự thay đổi số lượng
Tổng doanh thu Lợi nhuận lợi nhuận
ROI = ——————— * ————— *100 = —————— * 100 Tổng vốn kinh doanh tổng doanh thu tổng vốn kinh doanh
3- Điều kiện thực hiện chỉ tiêu kế hoạch
Kế hoạch được lập có tiến độ và cân đối nhưng đó mới chỉ là khả năng, vấn đề làphải biến khả năng đó thành hiện thực Điều kiện để biến khả năng này thành hiệnthực hay điều kiện để thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch là:
Doanh nghiệp phải ký kết được các hợp đồng, doanh nghiệp phải có kho tàng
Trang 23bến bãi để chứa đựng hàng hóa trong thời gian cần thiết và chế độ bảo quản phùhợp doanh nghiệp phải giao hàng đúng hạn theo đơn đặt hàng đúng mẫu mã chấtlượng để việc thực hiện có hiệu quả Người quản lý phải đôn đốc kiểm tra giải quyếtnhững mất cân đối những phát sinh khi thực hiện kế hoạch, phải theo dõi sát sao kịpthời tình hình thực hiện kế hoạch, phải sơ kết tình hình thực hiện kế hoạch đồngthời phổ biến những kinh nghiệm hay sửa chữa những khuyết điểm Hơn nữa chỉtiêu nào đề ra không có tính khả thi phải điều chỉnh đồng thời bổ sung vào kế hoạchnhững khả năng mới có thể đưa vào kinh doanh.
4- Lập kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp
4.1 căn cứ lập kế hoạch kinh doanh
Để kế hoạch kinh doanh đúng đắn và thực tế doanh nghiệp cần phải dựa vàonhững tiêu thức nhất định có liên quan đến toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp Đó là việc xác định các căn cứ sau:
- Căn cứ vào các dự báo khả năng phát triển của doanh nghiệp kỳ kếhoạch về thị trường và khách hàng
- Căn cứ vào chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, vào thị trườngmục tiêu
- Căn cứ vào kết quả điều tra nắm bắt nhu cầu khách hàng, phát triển thịtrường, khả năng biến động
- Căn cứ vào các đơn đặt hàng hợp đồng mua bán hàng hóa đã được kýkết với khách hàng Đây là văn bản có tính pháp quy cần phải tuân thủmột cách nghiêm ngặt để đảm bảo thực hiện mục tiêu nhiệm vụ và uytín của doanh nghiệp với khách hàng và bạn hàng
- Đối thủ cạnh tranh cũng là yếu tố quan trọng để xây dựng kế hoạchcủa doanh nghiệp, doanh nghiệp phải thường xuyên so sánh sản phẩm,giá cả với các đối thủ để dành thế chủ động kinh doanh
- Các căn cứ khác cũng được tính khi xây dựng kế hoạch kinh doanh:
dự kiến về chi phí sản xuất, khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, khảnăng thu hút khách hàng mới…
Trang 244.2- Trình tự lập kế hoạch kinh doanh
Kế hoạch kinh doanh do phòng kế hoạch của các doanh nghiệp lập dưới sự chỉđạo của giám đốc phụ trách kinh doanh Kế hoạch kinh doanh được lập theo cácbước sau:
Bước 1: trước khi kết thúc kỳ báo cáo chuẩn bị lập kế hoạch cho kỳ sau Trongbước này cần chuẩn bị tài liệu cần thiết cho lập kế hoạch
- Tổ chức thu thập, nghiên cứu đánh giá và lựa chọn các tài liệu đángtin cậy
- Phân tích tài liệu, dự báo và lựa chọn các hướng dự báo có căn cứkhoa học nhất
- Phân tích môi trường kinh doanh và khả năng phát triển của đối thủcạnh tranh thời kỳ kế hoạch
Bước 2: lập kế hoạch
- Trực tiếp tính toán các chỉ tiêu
- Cân đối các mặt hàng sản xuất từ chi tiết đến tổng hợp
- Phát hiện và dự kiến các biện pháp khắc phực mất cân đối
Bước 3: trình duyệt quyết định kế hoạch chính thức
Kế hoạch kinh doanh lập ra phải được trình và bảo vệ trước hội đồng ban lãnhđạo doanh nghiệp hoặc hội đồng quản trị sau khi đã bổ sung thống nhất kế hoạchđược thông qua Kế hoạch được chính thức bắt đầu từ khi ban lãnh đạo doanhnghiệp nhất trí và giao bằng văn bản cho các bộ phận các phòng ban thực hiện
5- Tổ chức thực hiện và đánh giá thực hiện kế hoạch
Công tác kế hoạch kinh doanh ở các doanh nghiệp là toàn bộ các kế hoạch diễn
ra hằng ngày về lập và tổ chức các kế hoạch kinh doanh nhằm đáp ứng mọi yêu cầucủa kế hoạch, của thị trường với chi phí thấp nhất đảm bảo kinh doanh phải có lợinhuận
Công tác bao gồm:
Nghiên cứu và nắm bắt nhu cầu của thị trường về các loại hàng hóa dịch vụ
Trang 25Việc nắm bắt nhu cầu cụ thể của thị trường để từng bước sản xuất hàng hóa dịch
vụ đạp ứng nhu cầu, thị hiếu của khách hàng
Tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh
Kế hoạch lập ra cần phải đi vào thực tiến vì vậy đây là khâu quan trọng để đưa
kế hoạch vào thực hiện
- Kết thúc các hợp đồng
- Phân công nhiệm vụ cho cán bộ thực hiện
- Đôn đốc kiểm tra giải quyết những khúc mắc, khó khăn phát sinh khithực hiện
- Phải theo dõi sát sao tình hình thực hiện kế hoạch, sơ kết phổ biếnkinh nghiệm và sửa chữa những sai sót
- Điều chỉnh kế hoạch phù hợp hơn với biến động mới
III- CÁC NHÂN TỐ CƠ BẢN ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH KINH DOANH
Kế hoạch kinh doanh thường được kiểm nghiệm bằng thực tế đó là quá trình
triển khai và thực hiện kế hoạch Qúa trình này có thể thực hiện tốt và đạt đượchoặc vượt qua kế hoạch đặt ra, nhưng cũng có thể kế hoạch đặt ra không thực hiệnđược so với kế hoạch đề ra Nếu kế hoạch đặt ra sát với thực tế của doanh nghiệp thìtrong quá trình thực hiện kế hoạch kinh doanh có nhiều nhân tố tác động làm thayđổi các chỉ tiêu nhân tố này có thể là trong nội bộ doanh nghiệp hoặc do môi trườngkinh doanh
1- nhân tố chủ quan
Tiềm lực tài chính của doanh nghiệp là yếu tố quan trọng phản ánh sức mạnh củadoanh nghiệp căn cứ vào nguồn vốn mà doanh nghiệp xây dựng kế hoạch kinhdoanh phù hợp cùng với khả năng quản lý phân phối nguồn vốn có hiệu quả để thựchiện kế hoạch kinh doanh đó
Tiềm năng con người của doanh nghiệp: sự hoàn hảo của cấu trúc tổ chức,
tính hiệu quả của hệ thống quản lý và công nghệ quản lý tác động trực tiếp đến việc
Trang 26xây dựng một kế hoạch kinh doanh hoàn thiện Chủ thể thực hiện các kế hoạch kinhdoanh chính là đội ngũ cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp vì vậy cần phải có
sự kết hợp giữa các phòng ban như phòng kế hoạch kinh doanh, phòng xuất nhậpkhẩu…Mỗi phòng ban mỗi cá nhân phụ trách một nhiệm vụ khác nhau nhưng cùnghướng tới đích cuối cùng là đạt được mục tiêu của công ty đề ra trong kế hoạch Kếhoạch kinh doanh sẽ không thành công nếu mỗi quan hệ nay lỏng lẻo không có sựthống nhất, đoàn kết cùng hướng tới mục tiêu của công ty
Trong quá trình thực hiện yêu cầu đội ngũ cán bộ công nhân viên phải linh hoạtmềm dẻo kịp thời ứng phó những thay đổi mà bản kế hoạch không dự tính được vìvậy nhân tố con người ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công hay thất bại của bản kếhoạch kinh doanh
2- Nhân tố khách quan
Môi trường kinh doanh mà mỗi chủ thể tồn tại trong đó đều chịu sự chi phối vàảnh hưởng mạnh mẽ nếu công ty biết nắm bắt môi trường kinh doanh của mình sẽchắc chắn hơn trong việc đảm bảo các mục tiêu đã đề ra trong chiến lược kinhdoanh Nhưng môi trường kinh doanh luôn biến động việc nắm bắt được nó là rấtkhó khăn và phức tạp đòi hỏi phải thường xuyên liên tục
Các yếu tố của môi trường kinh doanh ảnh hưởng tới doanh nghiệp:
Chính trị và pháp luật: một doanh nghiệp thành công trong kinh doanh thì doanh
nghiệp đó phải hoạt động trọng một môi trường chính trị ổn định có các chính sách
ưu đãi khuyến khích kinh doanh của nhà nước, chiến lược phát triển kinh tế xã hộicủa chính phủ phù hợp và sự điều tiết can thiệp của chính phủ vào đời sống kinh tế
có lợi cho các doanh nghiệp và đảm bảo cho họ có điều kiện tốt nhất để hoạt độngsản xuất kinh doanh
Các yếu tố kinh tế: bao gồm thị hiếu của người tiêu dùng các yếu tố tác động đến
sức mua của kế hoạch: sự tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, lạm phát,thất nghiệp, các chính sách tài chính, tiền tệ tín dụng, sự phát triển ngoại thương
Kỹ thuật công nghệ: cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân, khả năng
ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chiến lược phát triển kỹ thuật
Trang 27công nghệ của nền kinh tế.
Yếu tố văn hóa xã hội: dân số và xu hướng vận động, sự di chuyển của dân cư,
thu nhập và phân bố thu nhập của các hộ gia đình, việc làm và đặc điểm sinh lý, vănhóa của mỗi dân tộc
Môi trường tự nhiên và cơ sở hạ tầng: nguyên liệu, năng lượng, mức độ ô
nhiễm, hệ thống giao thông Ngoài ra còn có các yếu tố khách quan khác ở cấp độ vi
mô như nhà cung cấp khách hàng, đối thủ cạnh tranh, trung gian thương mại vàcông chúng cũng tác động đến việc xây dựng và thực hiện kế hoạch kinh doanh củadoanh nghiệp
Tóm lại, trong quá trính xây dựng và thực hiện kế hoạch kinh doanh, doanhnghiệp luôn phải đối đầu với các nhân tố gây tác động tích cực cũng như tiêu cựcđến kết quả, điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn nghiên cứu, phân tích và xácđịnh được các nhân tố ảnh hưởng từ đó có thể biến nhưng ảnh hưởng tiêu cực trởthành những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những tác động xấu của nó
IV- KẾ HOẠCH KINH DOANH TRONG NGÀNH MAY MẶC
1- Đặc điểm của ngành may mặc
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh để có thể thực hiện tốt các mục tiêu đã đề ratheo kế hoạch, cơ sở phân tích so sánh đánh giá tình hính thực hiện kế hoạch một trongnhững vấn đề quan trọng là doanh nghiệp phải nắm rõ được ngành nghề mà mình kinhdoanh từ đó doanh nghiệp sẽ có đầy đủ các cơ sở để phân tích các nhân tố ảnh hưởngđến quá trình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình Ngành dệt may là mộttrong những kinh tế mũi nhọn của Việt Nam, nó có các đặc điểm sau:
- Là một ngành sử dụng nhiều lao động nhất là lao động nữ mà khôngphải có trình độ tay nghề quá cao Mà đặc điểm của lao động của cácnước đang phát triển là lao động phổ thông chưa qua đào tạo nên đây
là ngành góp phần mang lại công ăn việc làm cho người lao động,giúp nhà nước giải quyết vấn đề thất nghiệp
- Là ngành kinh doanh theo mùa vụ mỗi một mùa khác nhau trong nămthì mặt hàng khác nhau mẫu mốt sản phẩm khác nhau Ví dụ như mùa
Trang 28đông thì sản phẩm quần áo phải là những loại dày và ấm, và là ngànhphục vụ nhu cầu thiết yếu của con người
- Là ngành ít gây ô nhiễm môi trường vì nó đơn thuần chỉ sử dụng laođộng chân tay của con người để sản xuất ra các loại quần áo không sửdụng các loại độc tố gây hại cho con người nên ít gây ra ô nhiễm môitrường
- Là ngành sử dụng điện và nước vừa phải
- Là ngành cần vốn đầu tư không nhiều và thu hồi vốn nhanh
2- Nội dung kế hoạch kinh doanh của ngành dệt may
Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp luôn muốn tối đa hóa lợi nhuận củamình muốn vậy doanh nghiệp phải xây dựng cho mình một kế hoạch kinh doanhphù hợp với các mục tiêu rõ ràng cụ thể và có phương thức thực hiện kế hoạch hữuhiệu nhằm đạt được mục tiêu đã định cũng như có các biện pháp xử lý điều chỉnh kếhoạch kinh doanh phù hợp với những biến đổi không ngừng của môi trường kinhdoanh phù hợp với khả năng nguồn lực vốn hạn chế của mình
Doanh nghiệp dệt may là một đơn vị kinh doanh trong lĩnh vực may mặc sảnxuất ra các loại quần áo phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của con người Cũng nhưcác doanh nghiệp khác để thực hiện tốt các mục tiêu nhiệm vụ của mình, doanhnghiệp dệt may phải có một kế hoạch kinh doanh phù hợp kiểm tra giám sát vàđiều chỉnh kịp thời kế hoạch đó Kế hoạch kinh doanh của ngành dệt may có một
số nội dung sau:
2.1- Kế hoạch khách hàng
Trong nền kinh tế thị trường khách hàng là đối tượng được các doanh nghiệpđưa lên hàng đấu là “ thượng đế” của các doanh nghiệp vì sản phẩm mà doanhnghiệp sản xuất ra phải thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, khách hàng thỏa mãn thìdoanh nghiệp kinh doanh mới có hiệu quả Mà khách hàng của ngành dệt may baogồm nhiều tầng lớp khác nhau: người già, trẻ em, phụ nữ, thanh niên, trung lưu,thượng lưu….vì con người ai cũng có nhu cầu ăn mặc đây là nhu cầu thiết yếu hàngngày và ngày càng trở nên cấp thiết hơn khi nền kinh tế phát triển Vì vậy khi xây
Trang 29dựng kế hoạch kinh doanh các doanh nghiệp dệt may phải nghiên cứu xem xét nhucầu thị hiếu của người tiêu dùng như thế nào tầng lớp nào thì cần Loại hàng nào từ
đó vạch ra cho doanh nghiệp mình một kế hoạch để tiến hành sản xuất đáp ứngđược nhu cầu của khách hàng và phù hợp với tiềm lực của doanh nghiệp mình Mỗi một doanh nghiệp thì sản xuất kinh doanh các mặt hàng khác nhau và tậptrung vào một số nhóm khách hàng nhất định phù hợp với khả năng đáp ứng củadoanh nghiệp mình Tức là doanh nghiệp phải chỉ ra được nhóm khách hàng mụctiêu, nhóm khách hàng tiềm năng Trong trường hợp doanh nghiệp có thể đáp ứngđược nhu cầu cuả khách hàng thì cần phải có biện pháp thực hiện và đáp ứng cácnhu cầu đó, ngoài ra doanh nghiệp cần phải có các chính sách marketing, quảngcáo, tiếp thị để thu hút hách hàng tiềm năng
Với mục tiêu phục vụ tốt nhất cho nhu cầu và thị hiếu của khách hàng kết hợpvới tiềm năng của doanh nghiệp kế hoạch khách hàng phải chỉ ra được nhóm kháchhàng cần đáp ứng trong thời gian tới và phương hướng để thu hút các nhóm kháchhàng mới trong tương lai
2.2 Kế hoạch sử dụng năng lực sản xuất
Để phục vụ nhu cầu của khách hàng doanh nghiệp phải có kế hoạch cân đối sửdụng năng lực sản xuất trong thời kỳ kế hoạch Năng lực sản xuất là kết quả sảnxuất kinh doanh tối đa mà doanh nghiệp có thể đạt được trong thời gian hoạt độngsản xuất kinh doanh nhất định phù hợp với điều kiện và nhiệm vụ sản xuất kinhdoanh của mình
Kế hoạch năng lực sản xuất phải chỉ ra được khả năng sử dụng năng lực sản xuấtcủa doanh nghiệp, các biện pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụngnăng lực sản xuất, kế hoạch khai thác, liên kết, sử dụng năng lực sản xuất nhằm tạo
đủ năng lực đáp ứng nhu cầu của khách hàng theo kế hoạch khách hàng Ngoài ra
kế hoạch khách hàng Ngoài ra kê hoạch cũng phải xây dựng được phương án tối
ưu trong việc đầu tư mới cũng như khai thác tối đa năng lực sản xuất của doanhnghiệp Khả năng sử dụng năng lực sản xuất của doanh nghiệp càng cao thì mức độchủ động trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng càng lớn, tăng tính cạnh tranh
Trang 30của doanh nghiệp và sẽ giúp doanh nghiệp giữ ổn định được nhóm khách hàng hữuhiệu, tiếp cận được nhóm khách hàng trong tương lai.
Năng lực sản xuất của doanh nghiệp là một phạm trù khách quan bao gồm cácyếu tố:
- Yếu tố sản xuất
Trong quá trình lao động sản xuất con người ngày càng tích lũy được nhiều kinhnghiệm sản xuất cải tiến công cụ và chế tạo ra công cụ sản xuất ngày càng tinh xảothúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển đó là mặt chất của lao động, thể hiện trình độchuyên môn trí thức khả năng sự hoàn hảo về khả năng khéo léo trong việc lựa chọncông nghệ và tư liệu sản xuất trong quả trình sản xuất kinh doanh đây chính là yếu
tố tạo nên năng lực sản xuất của doanh nghiệp
Doanh nghiệp bao gồm nhiều thành viên khác nhau thực hiện các công việc khácnhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để quá trình này đạthiệu quả cao thì doanh nghiệp phải bố trí hợp lý đội ngũ cán bộ công nhân viên củamình và có biện pháp khuyến khích phát huy tối đa khả năng của mỗi thành viêntrong công việc của họ Kế hoạch sử dụng năng lực sản xuất phải chỉ ra được cơ cấu
bố trí nhân lực trong hoạt động sản xuất kinh doanh kỳ kế hoạch phù hợp với việcthực hiện các công việc đáp ứng nhu cầu kế hoạch
- Yếu tố vật chất kỹ thuật của sản xuất
Trong quá trình sản xuất kinh doanh ngoài sức lao động cơ bản còn có máy mócthiết bị kỹ thuật phục vụ cho sản xuất Ngày nay khoa học ngày càng tiến bộ máymóc thiết bị dây chuyền công nghệ ngày càng tinh vi nó không chỉ giải phóng sứclao động mà còn tăng năng suất lao động và chất lượng của sản phẩm tốt hơn Vìvậy các doanh nghiệp cần đầu tư dây chuyền công nghệ và khai thác tối đa côngsuất của nó phục vụ cho quá trình sản xuất
CHƯƠNG II TÌNH HÌNH XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH
Trang 31CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SƠN CHINH
I- QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SƠN CHINH
1 - GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY
Công ty cổ phần Sơn Chinh là một doanh nghiệp hữu hạn với 100% vốn của
tư nhân, được thành lập trên cơ sở máy móc thiết bị và các nguồn lực sẵn có củaBan Giám Đốc công ty Sau một thời gian chuản bị ban giám đốc đã quyết địnhtrình đề án thành lập công ty TNHH Sơn Chinh lên Uỷ Ban Nhân Dân thànhphố Hà Nội và được Uỷ Ban Nhân Dân thành phố Hà Nôị cấp giấy phép thànhlập công ty TNHH Sơn Chinh theo quyết định số 003865 cấp ngày 14/1/1996 vàgiáy phép đăng ký thành lập công ty TNHH Sơn Chinh số 047852 ngày24/4/1996
Ngay từ khi mới thành lập công ty chỉ có 30 máy với 50 công nhân đến naycông ty đã có 1003 máy và 15 dây chuyền sản xuất với đội ngũ cán bộ côngnhân lành nghề, lúc đầu công ty có trụ sở tại phường Giáp Bát quận Hoàng Mai
Hà Nội do hai nhà đầu tư quản lý Về sau do yêu cầu của việc sản xuất kinhdoanh được mở rộng buộc công ty phải dời địa điểm đi nơi khác đó là ThônĐông Trì Xã Tứ Hiệp Huyện Thanh Trì Hà Nội và hoạt động cho đến ngày nay.Công ty bao gồm một phân xưởng may và một phân xưởng bao bì, ngày24/4/1996 công ty chính thức đi vào hoạt động
Với số vốn điều lệ ban đầu là 600.000.000 đồng công ty ngày càng phát triểnsản xuất kinh doanh ngày càng được mở rộng, cùng với sự phát triển mạnh mẽcủa nền kinh tế thi trường Việt Nam, ngày 27/5/2008 công ty TNHH Sơn Chinhchính thức được chuyển đổi thành công ty cổ phần Sơn Chinh theo đăng ký kinhdoanh số 0103024860
Với khẩu hiệu lấy chữ tín làm hàng đầu công ty ngày càng nhận được nhiềuđơn hàng do vậy việc mở rộng sản xuất kinh doanh là tất yếu
Tháng 3/2006 công ty đã thành lập thêm một chi nhánh may 2 tại Thanh Hóa
Trang 32hiện đã đi vào sản xuất với 5 chuyền may và 200 lao động.
Tháng 3/2007 công ty lại thành lập thêm một chi nhánh may tại Đan Phượng– Hà Tây và đã đi vào sản xuất với 6 chuyền may và 210 lao động
Đi lên chỉ từ một xưởng may nhỏ công ty TNHH Sơn Chinh nay là công ty cổphần Sơn Chinh đã có 900 lao động và có ba cơ sở may, một xưởng sản xuấtbao bì thùng carton xuất khẩu :
Nhà máy 1 : Đông Trì- Tứ Hiệp- Thanh Trì- Hà nội và cũng là nơi mà trụ sởchính của công ty đóng
Nhà máy 2: số 2 Trần Hưng Đạo – Hàm Rồng – Thanh Hóa
Nhà máy 3 : điểm công nghiệp Đan Phượng –Cầu Gáo – Hà Nội
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các doanhnghiệp tư nhân, sự hội nhập toàn cầu hóa, quốc tế hóa ngành dệt may Việt Nam
đã khẳng điịnh được thương hiệu của mình trên thi trường thế giới Công ty cổphần Sơn Chinh đã và đang khẳng định được vị thế và taọ dựng được uy tín củamình với bạn hàng, khách hàng trong và ngoài nước
Do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và sự khó khăn mà ngành dệt mayđang gặp phải cán bộ công nhân viên của công ty đang nỗ lực không ngừng để đưacông ty từng bước thoát ra khỏi tình trạng khó khăn như hiện nay và vững bước đilên khẳng định được vị thế của mình trên thị trường trong và ngoài nước
2 – CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
SƠN CHINH
2.1 – Chức năng, nhiệm vụ
Công ty cổ phần Sơn Chinh có nhiệm vụ tổ chức sản xuất và gia công các loại
quần áo theo kế hoạch hợp đồng gia công cho các đối tượng là người lớn và trẻ
em và mục đích cuối cùng là xuất khẩu ra thị trường thế giới Tháng 5/1998công ty có sự thay đổ về ban giám đốc, khi thành mới thành lập do hai nhà đầu
tư quản lý nhưng đến nay công ty chính thức được chuyển giao cho một nhà chủđầu tư đó là Bà : Lê Thị Bích Trân quản lý Lúc này công ty có nhiệm vụ mới làchuyên may hàng xuất khẩu chủ yếu là các loại quần áo và sản xuất bao bì chủ
Trang 33yếu là thùng carton nhằm phục vụ việc xuất khẩu hàng hóa của doanh nghiệpmình và cung cấp cho các doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu khác Với nhiệm vụđặt ra là sản xuất hàng dệt may xuất khẩu đòi hỏi công ty phải có dây chuyềncông nghệ hoàn thiện và đội ngũ công nhân lành nghề mới đáp ứng được cácyều cầu khắt khe của các nước nhập khẩu,vì vậy nhiệm vụ của công ty đặt ra lúcnày là tuyển chọn các công nhân may có tay nghề và đào tạo đội ngũ công nhânnày có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng Kể từkhi thành lập công ty đã có những bước tiến vượt bậc, giá trị tổng sản lượngtăng lên rất nhiều lần, chất lượng ngày càng được nâng cao, về cơ bản công ty
đã đi vào hoạt động ổn định và từng bước phát triển Để có được thành quả nhưvậy thì mọi thành viên trong công ty đã đoàn kêt nỗ lực hết mình
Vào những năm đầu của thế kỷ XXI thị trường xuất khẩu ngày càng được mởrộng như EU, Hoa Kỳ và các nước Châu Á cho ngành dệt may nước ta Cũngtrong thời kỳ này luật đầu tư nước ngoài được xúc tiến và đẩy mạnh, ban lãnhđạo công ty đã mạnh dạn tiếp cận với các đối tác, các thương, gia các nướcnhư : Trung Quốc, Hàn Quốc, Hồng Kông thực hiện việc gia công ngay từ vảicho các khách hàng nước ngoài Công ty TNHH Sơn Chinh được các đối tácđánh giá cao về chất lượng sản phẩm sản xuất ra và ngày càng nhận được nhiềuhợp đồng gia công, đây là một bước tiến để công ty tiếp tục lớn mạnh khôngngừng và vượt qua mọi khó khăn và thách thức như hiện nay
2.2 – Đặc điểm tổ chức sản xuất và quy trình công nghệ
a- Đặc điểm tổ chức sản xuất
công ty cổ phần Sơn Chinh là một công ty sản xuất các sản phẩm hàng maymặc làm theo mẫu mã và yêu cầu của khách hàng Vì sản xuất theo quy mô vừanên công ty đã bố trí sản xuất theo phân xưởng sản xuất cho phù hợp với loạihình và tổ chức sản xuất Trong mỗi một phân xưởng sản xuất được tổ chứcthành các tổ sản xuất mỗi tổ có chức năng và nhiệm vụ riêng được sắp xếp theomột trình tự hợp lý, mỗi một công nhân thực hiện một hoặc một số bước côngviệc nhất định, các phân xưởng sản xuất theo kế hoạch đặt ra hàng tháng của
Trang 34công ty Sản phẩm chủ yếu của công ty là sản xuất gia công hàng may mặc quần áo
và thùng carton với tỷ trọng xuất khẩu là chủ yếu chiếm 90-95% ngoài ra công tycòn nhận sản xuất theo đơn đặt hàng của các đơn vị khác trong và ngoài nước
b- Đặc điểm về quy trình công nghệ
Là một doanh nghiệp sản xuất theo các đơn đặt hàng là chủ yếu, công ty cổphần Sơn Chinh có một dây chuyền công nghệ khép kín từ khâu triển khai mẫucho đến khi sản phẩm được hoàn thành, nhập kho, đóng gói và xuất đi
Quy trình sản xuất này có thể chia làm các bước sau:
Bước 1, Ban giám đốc công ty căn cứ vào đơn đặt hàng từ hợp đồng sản xuất
nhận được sau đó giao cho phòng kế hoạch và quản đốc để giao kế hoạch chotừng tổ sản xuất
Bước 2, Tổ cắt may nhận vật kiệu từ kho tiến hành cắt theo đúng mã hàng đã
nhận đặt sản xuất
Bước 3, Tổ trưởng tổ may nhận bộ mẫu cứng, tổ kho nhận bán thành phẩm từ
tổ cắt may, nhận phụ liệu may đồng thời tiến hành phân chuyền theo “thiết kếdây chuyền”
Bước 4, Thực hiện dây chuyền may, là chi tiết trong trường hợp các chi tiết
phải thay đổi mẫu một công nhân đầu tuyến mang các chi tiết cần phải thay đổivào kho để đổi
Bước 6, Hoàn thành sản phẩm cuối chuyền : quá trình này được tiến hành
ngay trên bàn cuối chuyền của tổ sản xuất do các nhân viên phòng kỹ thuật côngnghệ KCS thực hiện bắt các lỗi được đánh dấu bằng băng dính
Bước 7, Giặt là thành phẩm: Sau khi thành phẩm được thu hóa, tổ trưởng sản
xuất giao cho tổ giao nhận chuyển đi giặt rồi chuyển về bộ phận là, sản phẩmsau khi là phải đảm bảo không bị bỏng cháy vải
Bước 8, Kiểm tra chất lượng sản phẩm cuối cùng : Do cán bộ KCS đảm nhận
các sản phẩm đạt chất lượng được giao cho bên đóng thùng, các sản phẩmkhông đạt chất lượng giao cho các tổ có liên quan để sửa lỗi
Trang 35Bước 9, Gấp gói :sản phẩm được đóng gói ngay ngắn theo đúng mẫu, theo đúng
kính cỡ của sản phẩm
Bước 10, thực hiện đóng gói cồng khi sản phẩm được bên đối tác kiểm nghiệm
thẩm định là sản phẩm đã đạt được yêu cầu
Quá trình này được thể hiện qua sơ đồ may dưới đây:
2.3 – Tình hình thị trường tiêu thụ của công ty
Trải qua một quá trình hoạt động và phát triển cùng với những nỗ lực khôngbiết mệt mỏi để nâng cao chất lượng về mọi mặt: mẫu mã, chất lượng sản phẩm,
… các vấn đề thanh toán cũng được công ty hết sức chú trọng, do đó công ty đãnâng cao được uy tín của mình trên thị trường, tạo niềm tin với khách hàng, vìvậy thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty ngày càng mở rộng như: Đức, Mỹ,Trung Quốc, Pháp, Anh, Hàn Quốc, Đan Mạch…
2.4 – Cơ cấu tổ chức và bộ máy hiện nay của công ty
Để một công ty có thể hoạt động được tốt thì cần phải có bộ máy tổ chức
quản lý chặt chẽ và có hiệu quả Bên cạnh bộ máy quản lý và các phòng ban,công ty còn bao gồm ngành cắt, phân xưởng may và một phân xưởng bao bì
Để đảm thực hiện các đơn đặt hàng theo đúng yêu cầu mẫu mã, chất lượngcác bộ phận trong doanh nghiệp có mỗi quan hệ chặt chẽ với nhau thông quaviệc phân công công việc và mỗi bộ phận phải chịu trách nhiện cho phần côngviệc của mình
Giám đốc : theo dõi chỉ đạo quá trình sản xuất
Pháo giám đốc : theo dõi, điều hành, chỉ đạo tiến độ sản xuất của các tổ, bámsát kế hoạch sản xuất công ty chia sẻ mọi công việc cùng giám đốc
Tổ trưởng : bao quát điều hành chung trên chuyền và chịu trách nhiệm trướcquản đốc về tiến độ và năng suất của tổ mình
Tổ phó : giao nhận hàng, ra quyền điều hành cùng tổ trưởng
Nhân viên kỹ thuật công nghệ may: kiểm tra chất lượng sản phẩm cuối cùngsau khi gấp gói
Công nhân : là người trực tiếp sản xuất ra sản phẩm và kiểm tra lại sản phẩm
Trang 36sau khi hoàn thành để chuyền đi cho bộ phận sau.
Hiện nay công ty có bốn dây chuyền sản xuất trong đó có ba xí nghiệp may
và một xí nghiệp sản xuất bao bì Để thấy rõ mỗi quan hệ giữa các bộ phậntrong quá trình sản xuất sản phẩm ớ các xưởng ta có sơ đồ tổ chức hoạt độngsản xuất kinh doanh và sơ đồ tổ chức công ty như sau:
Sơ đồ tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 38Sơ đồ quy trình công nghệ may
Kiểm tra chất lượng sản phẩm
Kiểm nghiệm, xuất kho
Bao gói đính mác sản phẩm
Trang 39Tại công ty, bộ máy quản lý được tổ chức theo cơ cấu chức năng, mỗi người lãnhđạo cùng một lúc có thể đảm nhận nhiều chức năng Hiện nay bộ máy quản lý củacông ty bao gồm giám đốc và các phòng ban chức năng của các bộ phận như sau: Giám đốc :là người có quyền lãnh đạo cao nhất, chịu trách nhiệm quản lý điềuhành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn công ty.
Phó giám đốc : phụ trách kinh tế giúp giám đốc và thay mặt giám đốc điều hànhmột số lĩnh vực chịu trách nhiệm hướng dẫn kiểm tra một số nghiệp vụ kinh tế vàlàm các thủ tục xuất nhập khẩu
Quản đốc :chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
Trưởng phòng kinh tế : chịu trách nhiệm giám sát các hoạt động sản xuất vàchương trình nghiên cứu để tìm ra các sản phẩm mẫu mã mới
Phòng kinh doanh : thực hiện việc tiếp thị quảng các, chào hàng chuẩn bị đầy đủnguyên vật liệu cho các hợp đồng bán FOB đồng thời theo dõi hoạt động đó Ngoài
ra phòng kinh doanh còn kiêm luôn hoạt động xuất nhập khẩu và mảng kinh doanhnội địa
Văn phòng tổng hợp : quản lý công tác hành chính, văn thư lưu trữ, đón tiếpkhách hội họp, hội nghị
Phòng bảo vệ : thực hiện nhiệm vụ bảo vệ tài sản của công ty
Phòng y tế : theo dõi sức khỏe, khám và chữa bệnh cho công nhân viên trongcông ty
Phòng cơ điện :tổ chức sửa chữa quản lý, bảo quản, bảo dưỡng máy móc thiết bị
hệ thống điện công ty cho quá trình sản xuất liên tục
Tổ chức công đoàn :chăm lo đời sống công nhân giải quyết mọi thắc mắc củacông nhân, bảo vệ quyền lợi cho người lao động
Mỗi một phòng ban có nhiệm vụ cụ thể và riêng biệt tuy nhiên chúng có mỗiquan hệ mật thiết với nhau tạo thành một khối vững mạnh không thể tách rời giúpcho công ty có thể hoạt động một cách trôi chảy
Với bộ máy tổ chức quản lý trên đã giúp công ty đạt được nhiều thành tựu lớntrong tất cả mọi hoạt động Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn hoạt động sản xuất
Trang 40kinh doanh của mình đạt hiệu quả tốt thì trước hết phải xây dựng cho mình một bộmáy quản lý tốt Công ty cổ phần Sơn Chinh là một doanh nghiệp tương đối lớn với
số lượng công nhân là 900 người thì việc quản lý tốt đòi hỏi ban lãnh đạo công typhải có kế hoạch sắp xếp chu đáo và công ty đã làm được điều đó Công ty có mộtđội ngũ lãnh đạo giỏi và một loạt công nhân làm việc chăm chỉ có tay nghề cao đãđưa công ty ngày một phát triển, có uy tín với các bạn hàng trong và ngoài nước và
mở rộng được thị trường xuất khẩu không chỉ ở Châu Á mà còn sang cả Châu Âu Trong nhiều năm qua, ban lãnh đạo công ty đã cố gắng tạo lập nên một môitrường làm việc, làm thỏa mãn nhu cầu tốt nhất của cán bộ công nhân viên nhằmđem lại hiệu quả tôt nhất cho công ty, ví dụ như chế độ ưu đãi lương, thưởng hợp lý
sẽ tạo ra nguồn lực thúc đẩy làm việc có năng suất chất lượng hiệu quả cao nhất Cán bộ công nhân viên trong công ty có việc làm ổn định, cố điều kiện học tậpnâng cao trình độ nghiệp vụ của mình Ngoài ra, công ty còn luôn chú ý tạo ra bầukhông khí trong lành cảnh quan trong từng khu vực, đảm bảo điều kiện làm việc tốtnhất Hơn nữa là công ty may mặc nên số lượng công nhân nữ chiếm đa số nêncông ty luôn có chính sách ưu đãi cho công nhân như chế độ nghỉ sinh, chăm sócsức khỏe cho người lao động …vì vậy đã giúp cho người lao đông tập trung vàocông việc của mình hơn từ đó năng suất cũng được tăng lên đáng kể
Công ty đã có một đội ngũ nhân viên có năng lực và đội ngũ công nhân lànhnghề, công ty đã từng bước hoàn thiện bộ máy quản lý, coi trọng đoàn kết nội bộ,tạo ra sức mạnh tổng hợp, có quy hoạch, có sự kế thừa và liên tục đổi mới