Xác định giá trị của các phương pháp chẩn đoán nhiễm khuẩn tiết niệu trong bệnh viện Kiều Chí Thành 1 , Hoàng Ngọc Hiển 1 , Đinh Hữu Dung 2 1 Học viện quân , 2 Trường Đại học Y Hà Nội
Trang 1Xác định giá trị của các phương pháp chẩn đoán
nhiễm khuẩn tiết niệu trong bệnh viện
Kiều Chí Thành 1 , Hoàng Ngọc Hiển 1 ,
Đinh Hữu Dung 2
1
Học viện quân , 2 Trường Đại học Y Hà Nội
Nghiên cứu giá trị của các phương pháp chẩn đoán nhiễm khuẩn tiết niệu trên bệnh nhân bao gồm: nhuộm Gram, xét nghiệm bạch cầu niệu, phát hiện nitrit, Leucocyte esterase Kết quả cho thấy, độ nhạy, độ đặc hiệu của các phương pháp trên (trừ nitrit) tương đối phù hợp với phương pháp nuôi cấy nước tiểu Các phương pháp này có giá trị cao trong chẩn đoán NKTN
i Đặt vấn đề
Nhiễm khuẩn đường tiết niệu (gọi tắt là
nhiễm khuẩn tiết niệu- NKTN) là một bệnh
thường gặp trong lâm sàng Tỷ lệ NKTN chiếm
10-20% trong tổng số các bệnh nhiễm khuẩn
trong bệnh viện NKTN nếu không được phát
hiện sớm, điều trị kịp thời có thể sẽ gây ra
nhiều biến chứng nặng nề cho người bệnh
Việc chẩn đoán đúng, xác định chính xác căn
nguyên gây NKTN rất có ý nghĩa đối với dự
phòng và điều trị bệnh
ở Việt Nam, đã có một số công trình nghiên
cứu về NKTN về khía cạnh căn nguyên vi
khuẩn, tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn gây
NKTN Các cơ sở bệnh viện có đủ trang bị, kỹ
thuật để nuôi cấy định lượng nước tiểu thì việc
chẩn đoán NKTN đã đi vào thường qui Tuy
nhiên, hiện nay hầu hết các bệnh viện tuyến
tỉnh và tuyến huyện la bô vi sinh chưa được
trang bị nhiều nên vẫn phải tiến hành các
phương pháp chẩn đoán đơn giản, nhanh như
nhuộm Gram, tìm bạch cầu trong nước tiểu
Việc nghiên cứu giá trị các phương pháp chẩn
đoán còn chưa được nghiên cứu nhiều
Xuất phát từ những yêu cầu trên, chúng tôi
tiến hành đề tài nhằm mục tiêu:
+ Xác định tỷ lệ nhiễm khuẩn tiết niệu bằng các phương pháp khác nhau trên cùng một nhóm đối tượng
+ Xác định giá trị một số phương pháp chẩn
đoán nhiễm khuẩn tiết niệu ứng dụng vào điều kiện thực tế Việt Nam
ii Đối tượng vật liệu và phương pháp nghiên cứu
1 Đối tượng
- 643 bệnh nhân sỏi tiết niệu vào điều trị tại bệnh viện được xét nghiệm nước tiểu trong vòng 24 giờ sau khi vào viện
2 Phương pháp:
- Lấy mẫu nước tiểu bằng phương pháp lấy giữa dòng theo hướng dẫn kỹ thuật của WHO ( 1991)
+ Kỹ thuật nhuộm soi trực tiếp
Trước khi nuôi cấy, bệnh phẩm được tiến hành nhuộm soi trực tiếp và đánh giá kết quả theo hướng dẫn của WHO năm 1991 [6]
+ Kỹ thuật nuôi cấy định loại vi khuẩn
Các mẫu nước tiểu sau khi nhuộm Gram
đều được nuôi cấy theo phương pháp que nhúng định lượng của Hoeprich (1964) [1]
Trang 2+ Xác định nitrit và leucocyte esterase
Dùng băng giấy thấm LN-strip của hãng
Bio-Dynamic (Mỹ) Chất thử được tẩm trong
khoanh giấy để phát hiện hai thành phần: nitrit
và leucocyte esterase (LE), LE có ý nghĩa để
xác định sự có mặt của bạch cầu và nitrit trong
nước tiểu Miếng giấy này được nhúng vào
nước tiểu cần thử, sau 5 phút, nếu xuất hiện
màu hồng ở các vị trí tương ứng bạch cầu và nitrit chứng tỏ sự có mặt của bạch cầu và nitrit
Các trường hợp này thường có số lượng vi khuẩn trên 105/ ml nước tiểu.[2]
Các số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm EPI-INFO 6.04 (1994)
iii Kết quả
Bảng 1: Tỷ lệ NKTN của các phương pháp chẩn đoán khác nhau
Phương pháp
Trong các phương pháp chẩn đoán trên, phương pháp nuôi cấy được coi là tiêu chuẩn vàng có tỷ
lệ NKTN là 53,72% Phương pháp nhuộm Gram và phát hiện nitrit có tỷ lệ NKTN thấp (46.67% và
41.15%) Các phương pháp xác định bạch cầu có tỷ lệ dương tính cao hơn phương pháp nuôi cấy
Bảng 2: Sự phù hợp chẩn đoán giữa nhuộm Gram và nuôi cấy nước tiểu
Nuôi cấy Nhuộm Gram
Từ bảng 2 cho thấy, trên 480 bệnh nhân được chẩn đoán bằng 2 phương pháp xét nghiệm:
nhuộm Gram và nuôi cấy So với phương pháp nhuộm Gram độ nhạy 73,83%, độ đặc hiệu 99,55%
so với phương pháp nuôi cấy
Bảng 3: Sự phù hợp chẩn đoán NKTN giữa Xn bạch cầu bằng nhuộm soi và nuôi cấy nước tiểu
Nuôi cấy
XN BC niệu
Trang 3Âm tính 35 209 244
Kết quả bảng 3 cho thấy: so sánh phương pháp xét nghiệm bạch cầu bằng nhuộm soi và nuôi
cấy, độ nhạy tương đối cao 85,65%, độ đặc hiệu 78,20%, chứng tỏ có sự phù hợp tương đối giữa
chẩn đoán NKTN của 2 phương pháp
Bảng 4: Sự phù hợp chẩn đoán giữa xét nghiệm Leucocyte esterase và nuôi cấy nước tiểu
xác định nhiễm khuẩn tiết niệu
Nuôi cấy Leucocyte esterase
Cộng
Kết quả bảng 4 cho thấy: giữa xét nghiệm phát hiện Leucocyte esterase trong nước tiểu và nuôi
cấy để chẩn đoán NKTN do vi khuẩn nói chung, độ nhạy là 88,03%, độ đặc hiệu 72,90% Độ nhạy
và độ đặc hiệu thấp do nhiều vi khuẩn gây NKTN không sinh nitrit như các Staphylococcus và
Pseudomonas
Bảng 5: Sự phù hợp chẩn đoán giữa xét nghiệm nitrit và nuôi cấy nước tiểu xác định
nhiễm khuẩn tiết niệu
Nuôi cấy Nitrit
Cộng
Kết quả bảng 5 cho thấy: giữa xét nghiệm
phát hiện nitrit trong nước tiểu và nuôi cấy để
chẩn đoán NKTN do vi khuẩn nói chung, độ
nhạy là 46,24%, độ đặc hiệu 93,54% Độ nhạy
và độ đặc hiệu thấp do nhiều vi khuẩn gây
NKTN không sinh nitrit như các
Staphylococcus và Pseudomonas
iv Bàn luận
Tỷ lệ NKTN xác định được trên bệnh nhân
theo các phương pháp khác nhau thì có sự khác
chuẩn vàng để đánh giá giá trị của các phương pháp khác
+ Giá trị của kỹ thuật nhuộm Gram tìm bạch cầu và vi khuẩn
Qua 480 bệnh nhân được xét nghiệm nước tiểu bằng kỹ thuật nhuộm Gram, chúng tôi phát hiện được 224 trường hợp, tỷ lệ phát hiện được
là 46,66%, trong khi đó, tỷ lệ nuôi cấy là 53,72% Có 67 trường hợp kết quả nuôi cấy dương tính nhưng kết quả nhuộm Gram âm
Trang 4nhiễm cầu khuẩn Gram dương Nghiên cứu của
Whasington cho thấy khi làm đúng kỹ thuật
nhuộm soi, nếu có trên 1 VK/1 vi trường ở độ
phóng đại 1000X nước tiểu không ly tâm thì
kết luận 105VK/ml với độ nhạy là 64% và độ
đặc hiệu là 90% so với phương pháp nuôi cấy
[5] Phương pháp nhuộm Gram có ưu điểm là
đơn giản, dễ thực hiện, đánh giá được cả chỉ
tiêu bạch cầu niệu và vi khuẩn trên một tiêu
bản nhuộm nước tiểu không ly tâm
+ Giá trị của việc phát hiện nitrit và
Leucocyte esterase
Đối với NKTN nói chung, giá trị của test
nitrit không cao, với NKTN do vi khuẩn đường
ruột, phương pháp này rất có giá trị với độ nhạy
88- 95% và độ đặc hiệu 93% Tỷ lệ âm tính giả
xảy ra chủ yếu ở bệnh nhân NKTN với căn
nguyên vi khuẩn không sử dụng nitrat như
S.aureus, Enterococcus và bệnh nhân ăn kiêng
thịt Vì vậy nếu chỉ dùng đơn độc kít này sẽ bỏ
sót một số cầu khuẩn Gram dương gây NKTN
[3 ]
Pezzlo và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu
giá trị của 3 phương pháp là LN-strip,
Griess-test và nhuộm Gram Tác giả đã nuôi cấy xác
định ở 276 mẫu nước tiểu đã được xác định có
số lượng vi khuẩn trên 105/ml và song song thử
nghiệm với 3 phương pháp trên Kết quả cho
thấy LN-strip phát hiện được 96%, Griess-test
90% và nhuộm Gram 96% Với nồng độ vi
khuẩn thấp 103/ml, tỷ lệ phát hiện được của 3
phương pháp trên lần lượt là 91%, 89% và 93%
[4] Như vậy có thể khẳng định nhuộm Gram,
xét nghiệm bạch cầu, Leucocyte esterase test
là những phương pháp đơn giản nhưng rất có
giá trị trong chẩn đoán NKTN
v Kêt luận
- Tỷ lệ xác định NKTN của các phương
pháp chẩn đoán khác nhau là nhuộm Gram
46,67%, xét nghiệm bạch cầu 62,05%, nitrit
41,15%, LE 68,58% và nuôi cấy là 53,72% (trong đó nuôi cấy được coi là tiêu chuẩn vàng)
- Các phương pháp trên đều phù hợp chẩn
đoán tương đối cao so với phương pháp nuôi cấy Độ nhạy (Se), độ đặc hiệu (Sp) của các phương pháp nhuộm Gram là 73,82%, 99,55%; Xét nghiệm bạch cầu 85,65%, 78,20%; Leucocyte esterase 88,03%, 72,90%; Nitrit 46,24% , 93,54%
Tài liệu tham khảo
1 Hoeprich PP: Culture of urine; J Lab
& Clin- Med 56 –1960: 899-907
2 Jones C., Mac Pherson DW (1986):
Inability of chemstrip LN compare quantitative urine culture to predict significant bacteriuria;
J Clin Microbiol 23: 160 -162
3 Monte-Verde D., Nosanchuck JS
(1981): The sensitivity and specificity of nitrit
testing for bacteriuria; Lab Med 12:
755-757
4 Pezzlo MT., Wetkowski MA.,
Peterson EM et al (1985): Detection of
bacteriuria and pyuria within two minutes; J
Clin Microbiol 21: 578 –581
5 Washington JA., White CM.,
Caganiere M et al (1981): Detection of
significant bacteriuria by microscopic examination of urine; Lab - Med 12: 294 –
96
6 WHO (1991): Methods of urine
culture; Procedure manual on basic bacteriology 6 : 6 – 17
Summary
Trang 5Evaluation of several methods in diagnosis of urinary
tract infections in hospital Study of methods to define urinary tract infection in patients included Gram stain, leucocyte, leucocyte esterase, nitrit and culture of urine Result shown that all of methods (not include nitrit) correspond to urine culture method All the methods were validity enough to diagnose urinary tract infections