1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chiến lược phòng chống hành vi tự tử - Một trong những nguyên nhân chủ yếu của các trường hợp ngộ độc nặng (Strategies For Suicide Prevention - Suicide – One Of Main Causes Of Severe Intoxication) pptx

7 608 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 479,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chiến lược phòng chống hành vi tự tử Tự tử một trong những nguyên nhân chủ yếu của các trường hợp ngộ độc nặng Strategies for suicide prevention Suicide – one of main causes of severe i

Trang 1

Chiến lược phòng chống hành vi tự tử

Tự tử một trong những nguyên nhân chủ yếu của

các trường hợp ngộ độc nặng Strategies for suicide prevention Suicide – one of main causes of severe intoxication

Nguyễn Văn Tường, Trần Thị Thanh Hương

I Một số đặc điểm dịch tễ học

của tự tử

Hành vi tự tử là một bi kịch của gia đình và

của chính từng cá thể, nó gây ra những những

tổn thất nặng nề cho người thân và cộng đồng

xung quanh

Trên phạm vi toàn cầu, tỷ lệ tự tử vẫn đang tiếp tục tăng trong hơn 45 năm gần đây và số người chết do tự tử cũng tăng lên

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã thống kê tỷ

lệ và số người chết trong năm 2000 do tự tử ở những nước có tham gia vào hệ thống giám sát

tự tử trên toàn cầu Số liệu được trình bày trong bảng dưới đây:

Bảng 1: Những quốc gia đứng hàng đầu về số người chết do tự tử trong năm 2000

Quốc gia Số người do tự tử Tỷ lệ /100.000

dân

Xếp thứ hạng theo tỷ lệ chết /100.000 dân

Dựa trên số liệu của các nước trong hệ thống tổ chức giám sát tự tử, Tổ chức Y tế thế giới đã thiết lập được bản đồ về tỷ lệ tự tử trên thế giới

Trang 2

Bản đồ 1: Tỷ lệ tự tử trên 100.000 dân (đến tháng 3/2002)

Tỷ lệ tự tử theo giới ở các thời điểm 1950 – 1995 và dự báo năm 2020 được trình bày trong biểu

đồ dưới đây:

Biểu đồ 2: Tỷ lệ tự tử theo báo cáo của các nước, số liệu (1950-1995) và dự kiến (2020)

Số người chết do tự tử theo số liệu báo cáo năm 1995 là 900.000 người, dự báo năm 2020 là 1,53 triệu người Tỷ lệ tự tử của nam giới gấp 3 lần nữ giới

Trang 3

Phân bố tỷ lệ tự tử theo tuổi và giới (trên 100.000 dân) của năm 1995 đ−ợc WHO đ−a ra nh− sau:

Biểu đồ 3: Phân bố tỷ lệ tự tử theo nhóm tuổi và giới

Có sự thay đổi tỷ lệ tự tử theo lứa tuổi ở thời điểm 1950 so với thời điểm 1998 Số liệu cho thấy

tỷ lệ tự tử ở lứa tuổi trẻ 5 – 44 tuổi tăng

Biểu đồ 4: Thay đổi tỷ lệ tự tử theo nhóm tuổi giữa năm 1950 và 1998

Trang 4

II Các yếu tố nguy cơ dẫn đến tự

tử và các yếu tố bảo vệ chống

lại hành vi tự tử

1 Các yếu tố nguy cơ

Các yếu tố nguy cơ dẫn đến tự tử rất khác

nhau, thay đổi từ châu lục này đến châu lục

khác, từ nứơc này đến nước khác Nó tuỳ thuộc

vào đặc điểm văn hoá, kinh tế và chính trị của

mỗi nước

Phát hiện và kiểm soát các yếu tố nguy cơ là

một bước quan trọng trong phòng chống tự tử

Các nghiên cứu đã phân tích và tổng kết

thành 4 nhóm yếu tố nguy cơ dẫn đến hành vi tự

tử bao gồm:

Các rối loạn và tổn thương tâm thần

Các rối loạn về nhân cách

Các bệnh gây tổn thương thực thể

Các yếu tố văn hoá, xã hội và môi trường

* Mối liên quan giữa tự tử và các rối loạn

về tâm thần:

ở các nước phát triển và đang phát triển có

tới 80-100% các ca tử vong do tự tử đều có các

rối loạn về tâm thần Các rối loạn này có thể

phát hiện được nếu bệnh nhân được khám

chuyên khoa về tâm thần

Một số rối loạn tâm thần chủ yếu thường gặp

vẫn được phát hiện để ngăn chặn hành vi tự tử,

gồm:trầm cảm, nghiện rượu, tâm thần phân liệt

* Các rối loạn về nhân cách:

Các rối loạn về nhân cách có liên quan đến

tự tử, thường ở ranh giới giữa bình thường và bất

thường Một số tính cách cách bốc đồng và

hung dữ cũng có liên quan với tự tử Các biểu hiện lo âu, hốt hoảng, thiếu tự tin, có nhiều sự việc ám ảnh ép buộc đều có liên quan đến tự tử

* Các bệnh có tổn thương thực thể:

Nguy cơ tự tử tăng lên trong các đối tượng mắc bệnh mạn tính, các bệnh có tiên lượng xấu hoặc các tổn thương gây tàn tật

Thuộc nhóm yếu tố nguy cơ này chúng ta có thể kể ra rất nhiều như các rối loạn thần kinh, bệnh ung thư…

* Các yếu tố về x∙ hội và môi trường

Tự tử là một hành vi mang tính cá nhân nhưng nó xảy ra trong một bối cảnh xã hội đã

có sẵn và bị chi phối như vấn đề về nhân khẩu, giới, tuổi, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, nơi

ở, di cư, công bằng trong cuộc sống, sự sẵn có các phương tiện tự tử, có tiền sử doạ tự tử…

2 Các yếu tố bảo vệ

Bên cạnh các yếu tố nguy cơ dẫn đến tự tử thì còn có các yếu tố được gọi là các yếu tố bảo

vệ Các yếu tố này sẽ góp phần quan trọng vào việc chống lại hành vi tự tử

Các yếu tố bảo vệ bao gồm: mẫu gia đình, nhận thức và nhân cách, các yếu tố về văn hoá xã hội, các yếu tố về môi trường như chế độ dinh dưỡng, luyện tập, không hút thuốc… Mô hình về các yếu tố nguy cơ và các yếu tố bảo vệ trong quá trình dẫn đến hành vi tự tử đã

được Danuta Wasserman mô tả như sau:

Trang 5

III

Mong

chết

ý nghĩ tự

Nói về ý

Nói về ý định tự tử

Do

được cứu sống

Tự

Nhièu khi ý định tự

4 Các yêu tố môi trường

* Chế độ ăn uống hợp lý

* Chế độ ngủ thích hợp

* Luyện tập thể dục thể thao

* Không hút thuốc

Bệnh mạn tính

Mô hình về các yếu tố nguy cơ và bảo vệ trong quá trình dẫn đến hành vi tự tử của Danuta Wasserrma

Lạm dụng rượu,

ma tuý

Các bệnh tâm thần

3 Các yếu tố văn hoá,xã hột

* Thích nghi với các giá trị văn hoá

và truyền thống

* Có mối quan hệ tốt với bạn bè,

đồng nghiệp, hàng xóm

* Nhận sự hỗ trợ của mọi người

* Lựa chọn bạn bè thích hợp

* Tham gia các hoạt động xã hội

* ý thức được mục đích cuộc sống của bản thân

Tổn thương tới lòng

tự kiêu

Sự tái phát, trầm trọng của bệnh tật

Khủng hoảng do các sự kiện đặc biệt trong cuộc sống

Các yếu tố bảo vệ

Xu

hướng d

truyền

hoặc do

stress

Các yếu tố nguy

ơ

2 Quan hệ trong gia đình

* Có mối quan hệ tốt với những người trong gia

đình

* Nhận được sự hỗ trợ từ gia đình

* Giành sự quan tâm cho cha mẹ

Các vấn

đề về kinh tế

Ly dị, li thân, khủng hoảng trong các mối quan hệ

1 Kiểu nhận thức và tính cách

* ý thức được giá trị bản thân

* Tự tin vào bản thân và luôn cầu

tiến

* Tìm kiếm sự giúp đỡ khi gặp khó

khăn

* Tìm kiếm lời khuyên khi có

quyết định quan trọng

* Học hỏi kinh nghiệm của người

khác

* Có khả năng giao tiếp

Nghèo

đối, thất nghiệp, stress do xã hội

Bạo lực hoặc do khủng hoảng tâm lý

Có vấn

đề trong

các mối

quan hệ

Hành v

không

quan

sát

i

i

Hành v

có thể

quan

sát

Trang 6

IV Các phương thức tự tử

Các nghiên cứu cho thấy đối tượng có thể sử

dụng nhiều phương thức tự tử Việc nghiên cứu

phân tích các phương thức tự tử cũng sẽ giúp

cho chúng ta có những giải pháp can thiệp dự

phòng tự tử tốt hơn Có thể thống kê các

phương tiện chính được sử dụng để tự tử là:

a) Thuốc và hoá chất độc (thuốc ngủ, thuốc

trừ sâu, thuốc diệt chuột…)

b) Các loại hơi, khí độc (gas sử dụng trong

sinh hoạt)

c) Các dụng cụ có thể gây thương tích và

gây chết người (dao, súng, dây treo, các vật

sắc…)

d) Các phương thức tự tử khác

Trong số 4 nhóm nêu trên , nhóm a) và b) là

2 nhóm có thể gây ngộ độc nặng hoặc rất nặng,

thậm chí có thể gây tử vong rất nhanh chóng

Hai nhóm này đòi hỏi chúng ta phải có kiến

thức về chống độc, có phác đồ điều trị đúng và

tích cực cho mỗi nhóm ngộ độc mới có thể cứu

thoát được đối tượng

Sử dụng thuốc và hoá chất độc để tự tử là

phương thức phổ biến nhất đối với các đối

tượng tự tử ở Việt Nam, đặc biệt là sử dụng

thuốc ngủ, thuốc trừ sâu và thuốc diệt chuột

Nếu chúng ta phòng chống tự tử đạt hiệu quả

tốt thì sẽ hạn chế được rất nhiều các trường hợp

ngộ độc do thuốc, hoá chất độc và hơi khí độc

Đây cũng chính là mối liên quan chặt chẽ giữa

chiến lược phòng chống hành vi tự tử và chiến

lược phòng chống độc

V Chiến lược phòng chống hành

vi tự tử

Mục tiêu là làm giảm tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử

vong do hành vi tự tử, liên kết các quốc gia và

cộng đồng cùng hành động vì cuộc sống hạnh

phúc của con người

Để thực hiện được mục tiêu của chiến lược

phòng chống hành vi tự tử chúng ta cần thực

hiện những giải pháp can thiệp có hiệu quả mà

Tổ chức y tế thế giới khuyến cáo các quốc gia tham gia trong một chương trình nghiên cứu can thiệp đa quốc gia về hành vi tự tử (SUPRE-MISS)

Nội dung của chương trình gồm:

Nghiên cứu can thiệp: đánh giá các phương pháp điều trị

Điều tra cộng đồng: nhận biết các ý tưởng

và hành vi tự sát ở mức cộng đồng Yếu tổ bẩm sinh về sinh học (gen): nhận ra các yếu tố sinh học,đặc biệt là phân tích DNA Những can thiệp có hiệu quả cho việc phòng chống hành vi tự sát

Điều trị tâm thần (ví dụ: trầm cảm, lạm dụng rượu, tâm thần phân liệt)

Kiểm soát độc chất (ví dụ: thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc y tế)

Kiểm soát gas (gas dùng cho xe hơi, gas sinh hoạt)

Kiểm soát súng Báo cáo qua các phương tiện truyền thông

có thể

Các hoạt động của chương trình Giám sát tỷ lệ tử vong do tự sát

Hỗ trợ kỹ thuật cho các quốc gia Các hội thảo quốc gia và trong khu vực

Đề ra các hướng dẫn chung Tăng ý thức và sự nhận biết các yếu tố nguy cơ

Nghiên cứu can thiệp đa quốc gia (SUPRE-MISS)

Đây cũng là các hoạt động đang được thực hiện ở những quốc gia tham gia vào hệ thống giám sát tự tử

Các hoạt động quốc gia cho phòng chống hành vi tự sát

Tăng sự nhận thức về hành vi tự sát

Trang 7

Hỗ trợ và điều trị quẩn thể có nguy cơ (tuổi

vị thành niên, người già, những bệnh nhân trầm

cảm)

Giảm ý nghĩa có giá trị của việc tự sát

Hỗ trợ cho việc giám sát hành vi tự sát (các

nhóm tự giúp đỡ)

Đào tạo nhân viên chăm sóc sức khoẻ ban

đầu (các nhân viên xã hội và chăm sóc y tế,

cảnh sát )

Một số nguồn tài liệu giúp cho việc phòng

chống hành vi tự sát

Tài liệu cho bác sỹ đa khoa

Tài liệu cho những người làm nghề truyền

thông

Tài liệu cho giáo viên và các nhân viên ở

trường học

Tài liệu cho nhân viên chăm sóc sức khoẻ

ban đầu

Tài liệu cho nhân viên trong các nhà tù

Làm thế nào để bắt đầu thiết lập nhóm

những người sống sót

VI Kết luận

Chiến lược phòng chống hành vi tự tử có

mối liên quan chặt chẽ với việc phòng chống

ngộ độc, đồng thời nó cũng liên quan đến lĩnh

vực sức khoẻ tâm thần

Phòng chống hành vi tự tử có hiệu quả

chính là đã chăm sóc cho những đối tượng có

những rối loạn về tâm thần, rối loạn về nhân

cách giúp họ vượt qua những rối loạn này để trở về cuộc sống bình thường, tạo dựng một cuộc sống gia đình và một cộng đồng lành mạnh, hạnh phúc

Trong quá trình hội nhập toàn cầu tham gia vào hệ thống giám sát hành vi tự tử của Tổ chức y tế thế giới là cần thiết Việc này đòi hỏi

sự tham gia của nhiều chuyên ngành như chống

độc, hồi sức cấp cứu, tâm thần và các ngành khoa học y học khác, đồng thời nó cũng đòi hỏi

sự tham gia của các cộng đồng dân của toàn xã hội

Tài liệu tham khảo

1 Danuta Wasserman (2001), Suicide – An unnecessary death, Martin Dunitz 7, 20

2 WHO (2000), Fact and Figure, 1-10

3 WHO (2000), Preventing suicide: a resource for teachers and other school staff

4 WHO (2000), Preventing suicide: a resource for prison officers

5 WHO (2000), Preventing suicide: how to start a survivous group

6 WHO (2000), Preventing suicide: a resource for general physicians

WHO (2000), Preventing suicide: a resource for media professionals.

Ngày đăng: 25/03/2014, 04:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Những quốc gia đứng hàng đầu về số người chết do tự tử  trong năm 2000 - Chiến lược phòng chống hành vi tự tử - Một trong những nguyên nhân chủ yếu của các trường hợp ngộ độc nặng (Strategies For Suicide Prevention - Suicide – One Of Main Causes Of Severe Intoxication) pptx
Bảng 1 Những quốc gia đứng hàng đầu về số người chết do tự tử trong năm 2000 (Trang 1)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w