1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kết quả bước đầu nghiên cứu định tính về hành vi dọa tự tử tại huyện Sóc Sơn - Hà Nội pot

3 582 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 255,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHƯƠNG PHáP CHUYểN GEN MớI TĂNG TRIểN VọNG Sử DụNG ARNi TRONG LIệU PHáP ĐIềU TRị GEN Tạ Thành Văn Bộ môn Hóa-Hóa sinh- Trường Đại học Y Hà Nội Ngày nay các nhà khoa học đã hiểu những n

Trang 1

PHƯƠNG PHáP CHUYểN GEN MớI TĂNG TRIểN VọNG Sử

DụNG ARNi TRONG LIệU PHáP ĐIềU TRị GEN

Tạ Thành Văn

Bộ môn Hóa-Hóa sinh- Trường Đại học Y Hà Nội Ngày nay các nhà khoa học đã hiểu những nguyên tắc cơ bản của ARNi và các công

ty dược phẩm trên thế giới hiện đang nghiên cứu để tăng cường khả năng ứng dụng công nghệ này in vivo Vấn đề then chốt nhất để có thể để tiến tới áp dụng phương pháp điều trị này trên lâm sàng phải có kỹ thuật chuyển tải ARNi vào trong tế bào một cách hiệu quả, kết hợp với các phương pháp sàng lọc nhanh, chính xác Đồng thời việc nghiên cứu tạo ra những phân tủ ARNi có khả năng bất hoạt gen đặc hiệu và hiệu quả cũng là một vấn đề hết sức quan trọng (1) Các nhà khoa học trên thế giới đã nhận ra tiềm năng to lớn của việc sử dụng ARNi trong liệu pháp điều trị gen Một số công ty dược phẩm đã công bố kết quả các công trình nghiên cứu mà họ đang tiến hành trong hội nghị về ARNi toàn Châu Âu tại London vào tháng 10 năm 2004

1 Phương pháp chuyển gen bằng

kỹ thuật hóa học mới

Hãng Ambion có kế hoạch đưa ra sản

phẩm là siPORTer-96, một thiết bị tạo

điện trường (electroporation) cho phép

các nhà nghiên cứu đưa ARNi vào trong

các dòng tế bào mà khó được thực hiện

bởi các phương pháp khác như các tế bào

gốc hay các tế bào nổi (không bám vào

đáy của các phương tiện nuôi cấy) Các

phương pháp chuyển gen bằng phương

pháp hóa học (sử dụng các hóa chất có

bản chất là lipid) được sử dụng thường

xuyên đối với các dòng tế bào trưởng

thành nhưng lại không hiệu quả đối với

các dòng tế bào gốc (2) Thiết bị tạo điện

trường tạo ra các xung điện để tạo ra các

lỗ siêu nhỏ ở màng tế bào, qua đó các

phần tử có thể dễ dàng xâm nhập vào

trong tế bào Các lỗ siêu nhỏ này sau đó

được đóng lại nhờ những xung điện trong

những điều kiện đặc biệt để cho phép các

tế bào hồi phục và tiếp tục phát triển Ưu

điểm của phương pháp này là quá trình

đưa gen từ ngoài vào độc lập với chu trình

phân chia của tế bào và tác dụng của

ARNi trên quá trình thể hiện gen của tế

bào được phát hiện sớm chỉ trong khoảng một vài giờ sau khi ARNi được đưa từ ngoài vào Để tăng cường tỷ lệ sống của

tế bào sau khi chuyển gen nhờ tác dụng của điện trường, công ty đã nghiên cứu

và sản xuất dung dịch đệm cho kỹ thuật chuyển gen này Dung dịch đệm này có

độ dẫn điện thấp và có thành phần giống như bào tương Chính vì vậy mà các lỗ siêu nhỏ sau khi được tạo ra, được hàn gắn lại nhanh chóng Dung dịch đệm này cho phép thu hồi lại 65-95% tế bào sống sau khi được chuyển gen và tỷ lệ bất hoạt gen đạt tới 75-99%

Nghiên cứu tìm ra phương pháp chuyển siARN mới, có hiệu quả cao là hướng nghiên cứu được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm nhằm mục

đích bất hoạt một gen đích bấy kỳ nào đó trong tế bào Song song với hướng nghiên cứu này, việc cần thiết là phải chế tạo ra ARNi đặc hiệu với gen đích và có tác dụng kéo dài Đồng thời cũng cần thiết phải nghiên cứu tác dụng phụ do ARNi gây ra khi nó được chuyển đến cơ quan đích Một trong những tác dụng phụ

được các nhà khoa học chú ý nhiều là

Trang 2

ARNi tạo ra sự đáp ứng của interferon và

hậu quả là dẫn đến chết tế bào Khắc

phục tình trạng này, các nhà khoa học đã

chế tạo ra các dẫn xuất ARNi để hạn chế

tác dụng kích thích sự đáp ứng của

interferon nhưng lại làm tăng cường và

kéo dài tác dụng bất hoạt gen

2 Tăng cường tác dụng của ARNI

Công ty Invitrogen đã nghiên cứu tăng

cường tiềm năng áp dụng của ARNi và đã

cho ra đời sản phẩm là Block-iTTM

transfection control kit (hình 1) cho phép

tối ưu hóa các điều kiện đưa ARNi vào

trong tế bào đồng thời cũng cho phép

nguời sử dụng theo dõi hiệu quả và sự

khác biệt giữa các lần thí nghiệm

Lipfect-amineTM

2000 trong kit này cho phép tăng

cường hiệu quả của việc chuyển gen còn

Block-iT Fluorescent oligonucleotide

mang tín hiệu huỳnh quang mạnh cho

phép phát hiện được các tế bào đã được

chuyển gen Cho đến nay, đây là một kit

cho phép chúng ta kiểm tra hiệu quả của

việc chuyển gen một cách dễ dàng và

đơn giản nhất với hiệu suất chuyển gen

đạt tới 90-95% Kỹ thuật hiện tại đã cho

phép có thể thực hiện 10 ngàn thí nghiệm

chuyển gen chỉ trong vòng một ngày và

quy trình chuyển gen đang được phát

triển theo hướng tự động hóa Đồng thời

sự ra đời của phức hợp ARNi “tàng hình”, sản phẩm của sự biến đổi cấu trúc và đặc tính hóa học của các dẫn xuất ARNi trước

đó đã cho phép bất hoạt các gen đích một cách hiệu quả, bền và hạn chế được các tác dụng phụ Các nhà khoa học về liệu pháp điều trị gen cho rằng sản phẩm này hứa hẹn một triển vọng ứng dụng

điều trị lớn của ARNi trong trên lâm sàng Các chuyên gia thiết kế Block-iT ARNi xác định những vùng gen đặc hiệu nhất trên gen đích để thiết kế các phân tử ARNi “tàng hình” có chiều dài khoảng 25 nucleotide bằng phần mềm phân tích ARNi Cho đến nay, trong thư viện ARNi (ARNi library) đã có trên 10 ngàn siARN

đặc hiệu với trên 5 ngàn gen đích khác nhau Nghiên cứu sản xuất ra ARNi đặc hiệu với các gen đích trải dài trên cả genome của tế bào là đích mà các nhà khoa học đang hướng đến Các chuyên gia này cũng nghiên cứu phát triển các kỹ thuật đánh giá hiệu quả tác dụng của ARNi khi nó được đưa vào trong tế bào

Đây là hướng nghiên cứu đang được chú

ý nhằm đánh giá hiệu quả tác dụng của các thuốc để góp phần tăng cường khả năng tác dụng của thuốc cũ và nghiên cứu ứng dụng điều trị các thuốc mới

Hình 1: Mô hình cơ chế bất hoạt gen của hệ thống BLOCK-iT ARNi sau khi được chuyển

vào trong tế bào (sản phẩm của hãng Invitrogen)

Trang 3

3 Triển vọng ứng dụng trong điều

trị

Nhiều công ty dược phẩm hàng đầu

trên thế giới đang đầu tư nghiên cứu ứng

dụng liệu pháp điều trị gen trên lâm sàng

trong đó việc sử dụng ARNi được coi là

một trong các hướng ưu tiên Một số vấn

đề then chốt trong quá trình này cần phải

được làm sáng tỏ: i) Thiết kế tạo ra ARNi

đặc hiệu với gen đích; ii) Nghiên cứu đặc

tính dược động học và vận chuyển ARNi;

iii) Phương pháp đánh giá hiệu quả tác

dụng của ARNi ở thực nghiệm in vivo, khi

ARNi được tiêm vào trong cơ thể động vật

(môi trường trong cơ thể hoàn toàn khác

với môi trường nuôi cấy tế bào với rất

nhiều các nuclease trong huyết thanh của

động vật), ARNi sẽ bị thủy phân nhanh

chóng trước khi nó được đưa đến cơ quan

đích Chính vì vậy, mục tiêu mà các nhà

khoa học đang hướng đến là nghiên cứu

tạo ra các chế phẩm ARNi bền vững

nhằm cải thiện các đặc tính dược động

học bằng cách biến đổi cấu trúc hóa học

của các đơn vị nucleotide Từ nguyên tắc

này, một số chế phẩm ARNi mới đã được

tạo ra Trong đó phải kể đến SiARN-027

của công ty SiARN Therapeutics, USA,

một sản phẩm có khả năng bất hoạt gen

của yếu tố phát triển tế bào nội mạc góp

phần điều trị một số bệnh liên quan đến

quá trình thoái hóa ở tuổi già (macular)

SiARN-027 có thể được tiêm trực tiếp vào mắt và tránh được phá hủy bởi các nuclease Công ty này cũng đã tạo ra

được một số các dạng biến đổi của ARNi khác hiện đã được thử nghiệm thành công trên mô hình động vật và đang tiến tới thử nghiệm lâm sàng Trong số này phải kể đến anti-HCV siARN, các ARNi bất hoạt gen của các yếu tố phát triển khối u, quá trình thoái hóa thần kinh (Huntington, Parkinson, Alzheimer và Spinocerebellar ataxia 1) Cần phải nhấn mạnh rằng, sở dĩ có sự thành công trong lĩnh vực này là do sự kết hợp giữa hai yếu tố: công nghệ adenoviral siARN và các kỹ thuật Y sinh học Trong đó các công nghệ

và kỹ thuật đều nhằm hướng đến việc giải quyết các vấn đề do Y học lâm sàng đặt

ra là tạo ra thuốc để điều trị bệnh

Tài liệu tham khảo

1 Phan Thị Phi Phi Tắt (ức chế) gen

thông qua các phân tử ARN nhỏ Tạp chí

nghiên cứu y học 22, 89-93, (2003)

2 Tạ Thành Văn Hệ thống chuyển tải

gen và ứng dụng trong liệu pháp điều trị

gen Tạp chí nghiên cứu y học 24,

107-110, (2003)

3 Nina Flanagan Enhancing ARNi’s

potential Genetic engineering news 24

(17), 1-24, (2004)

Ngày đăng: 25/03/2014, 04:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Mô hình cơ chế bất hoạt gen của hệ thống BLOCK-iT ARNi sau khi đ−ợc chuyển - Kết quả bước đầu nghiên cứu định tính về hành vi dọa tự tử tại huyện Sóc Sơn - Hà Nội pot
Hình 1 Mô hình cơ chế bất hoạt gen của hệ thống BLOCK-iT ARNi sau khi đ−ợc chuyển (Trang 2)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm