Tác dụng của biện pháp đa can thiệp đối với kiến thức và thực hành của nhân viên bán thuốc tại các nhà thuốc tư ở Hà Nội Nguyễn Thị Kim Chúc Đại học Y Hà Nội Nghiên cứu này đánh giá
Trang 1Tác dụng của biện pháp đa can thiệp đối với
kiến thức và thực hành của nhân viên bán thuốc
tại các nhà thuốc tư ở Hà Nội
Nguyễn Thị Kim Chúc
Đại học Y Hà Nội
Nghiên cứu này đánh giá tác dụng của biện pháp đa can thiệp đối với kiến thức và thực hành của nhân viên bán thuốc tại các nhà thuốc tư ở Hà Nội 68 nhà thuốc tư đã được chọn để nghiên cứu Bốn tình huống được lựa chọn để đo lường kiến thức và thực hành của nhân viên bán thuốc là
Xử lý bệnh nhân nam mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD); trẻ em dưới 5 tuổi nhiễm khuẩn hô hấp trên (NKHHT); khách hàng mua prednisolon không đơn và khách hàng mua cefalecin không đơn với liều thấp Ba biện pháp can thiệp được thực hiện là thúc đẩy thực hiện qui chế, cung cấp kiến thức và giáo dục đồng nghiệp Kiến thức của nhân viên bán hàng được đo lường bằng cách phỏng vấn trực tiếp Thực hành của nhân viên bán hàng được đo lường bằng phương pháp đóng vai khách hàng Kết quả là cả kiến thức và thực hành của nhân viên bán thuốc đều
được nâng cao Đối với bệnh LTQĐTD, số người được phỏng vấn trả lời là sẽ khuyên bệnh nhân dùng bao cao su tăng lên, số lượt khách hàng được khuyên đi khám bệnh và số trường hợp được
điều trị đúng tăng lên Đối với NKHHT, số người được phỏng vấn trả lời là sẽ hỏi về triệu chứng sốt tăng lên và số người nói sẽ bán kháng sinh lại giảm đi Trên thực tế, số trường hợp bán kháng sinh cho bệnh nhân NKHHT giảm và số lần hỏi về tình trạng thở của bệnh nhân tăng lên Đối với tình huống khách hàng yêu cầu bán prednisolon và cefalecin không có đơn, số người trả lời là sẽ không bán vài viên cefalecin tăng lên và thực tế các nhân viên bán thuốc cũng giảm việc bán hai loại thuốc này đồng thời số lần hỏi về đơn thuốc lại tăng lên
I Đặt vấn đề
Thuốc là một trong những yếu tố quan trọng
trong phòng và chữa bệnh chăm sóc sức khoẻ
Chi phí về thuốc chiếm tỷ trọng rất cao trong
tổng chi phí cho chăm sóc sức khoẻ, đặc biệt
đối với các nước đang phát triển ở Việt Nam,
chi phí về thuốc chiếm 90% tổng chi phí hộ gia
đình cho sức khoẻ [4] Thuốc kháng sinh đã
làm thay đổi cơ bản việc cứu chữa những bệnh
nhiễm trùng và có vai trò quan trọng trong việc
làm giảm tỷ lệ tỷ vong Kể từ khi phát hiện ra
kháng sinh, doanh số về kháng sinh trên toàn
cầu ngày càng tăng Chỉ tính riêng năm 1997,
con số này đã lên tới 17 tỷ Đôla Mỹ [5] Tuy
nhiên viêc sử dụng thuốc nói chung và sử dụng
kháng sinh nói riêng còn rất nhiều điều bất hợp
lý Ước tính khoảng 50% số kháng sinh sử
dụng ở các nước phát triển là bất hợp lý và tỷ lệ
này còn cao hơn đối với các nước đang phát triển [6] Sử dụng kháng sinh không hợp lý là một trong các lý do dẫn đến kháng kháng sinh Việt Nam cũng giống như nhiều nước đang phát triển trên thế giới, với việc cải tổ ngành y
tế, nhà thuốc tư đã phát triển mạnh mẽ, trở thành điểm lựa chọn đầu tiên của người dân khi
đau ốm [4] Người bán thuốc nhiều khi làm cả việc không được phép đó là kê đơn cho người bệnh Tuy nhiên do tính chất thương mại của nhà thuốc tư, nhiều nghiên cứu ở Việt Nam cũng như trên thế giới chỉ ra rằng việc “kê đơn” tại các nhà thuốc tư nhiều khi không hợp lý, dẫn dến lãng phí nguồn lực, thậm chí nguy hại
Hệ thống nhà thuốc tư ở Hà Nội đã phát triển nhanh chóng, từ hơn hai trăm nhà thuốc tư năm 1989, đến năm 2002 đã lên đến 1727, chiếm 22% tổng số nhà thuốc tư trong toàn
Trang 2quốc [2], cung ứng khoảng 72% tổng số thuốc
bán lẻ ở Hà Nội [1] Theo một nghiên cứu của
Nguyễn Thị Kim Chúc và Goran Tomson năm
1995, 99% số người đến mua thuốc ở các nhà
thuốc tư là không có đơn [7] như vậy việc sử
dụng thuốc của người bệnh phụ thuộc rất nhiều
vào kiến thức, trình độ của người bán thuốc Vì
vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đa can
thiệp nhằm đánh giá sự thay đổi về kiến thức và
thực hành của nhân viên bán thuốc trước và sau
can thiệp bằng phương pháp phỏng vấn trực
tiếp và đóng vai khác hàng
II Đối tượng và phương pháp
nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nhân viên bán thuốc
thuộc 68 nhà thuốc đã được chọn
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp
có đối chứng ngẫu nhiên (hình 1)
Chọn mẫu và cỡ mẫu: Lựa chọn ngẫu nhiên
từ 789 nhà thuốc tư thuộc nội thành Hà Nội 34 cặp (68) nhà thuốc tư Trong quá trình nghiên cứu một số nhà thuốc đóng cửa, nhà thuốc cùng cặp cũng bị loại khỏi mẫu, còn lại 30 cặp (60) nhà thuốc
Tình huống lựa chọn để tiến hành can thiệp: (1) Xử lý tình huống trẻ dưới 5 tuổi nhiễm khuẩn hô hấp cấp (NKHHC) (2) Xử lý bệnh nhân nam mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD) (3) Xử lý tình huống khách hàng yêu cầu bán cefalecin không có đơn và (4) Xử lý tình huống bệnh nhân yêu cầu bán prednisolon không có đơn Bốn tình huống này
đều hay gặp phải ở các điểm bán thuốc, đòi hỏi nhân viên bán thuốc phải có đủ trình độ và đạo
đức nghề nghiệp để xử lý thích hợp
Hình 1: Thiết kế nghiên cứu tổng thể, thời gian thực hiện các hoạt động can thiệp và đánh
giá kiến thức, thực hành của nhân viên bán thuốc
Nhóm can thiệp ĐVKH PV QC ĐVKH KT ĐVKH GD ĐVKH PV Thời điểm tháng 1-3 4 8-10 11-14 15-17 18-21 22-24 25-28 29
ĐVKH: Đóng vai khách hàng
PV: Phỏng vấn người bán thuốc
QC: Can thiệp thúc đẩy thực hiện qui chế
KT: Can thiệp cung cấp kiến thức
GD: Can thiệp giáo dục đồng nghiệp
Thời điểm: Tính theo số thứ tự của tháng
trong quá trình nghiên cứu
Kỹ thuật thu thập thông tin: Để đo lường
kiến thức của nhân viên bán hàng về 4 tình
huống đã lựa chọn, phương pháp phỏng vấn
bằng bộ câu hỏi bán cấu trúc đã được thực
hiện Bốn nghiên cứu viên thuộc Trung tâm xã
hội học y tế đã thực hiện phỏng vấn tất cả nhân
viên bán thuốc có mặt tại nhà thuốc khi nghiên
cứu viên đến (ở lần phỏng vấn đầu tiên có 10
nhà thuốc có hai nhân viên bán thuốc) Phỏng
vấn được thực hiện 2 lần trước và sau thực hiện
các can thiệp Để đo lường thực hành của nhân
viên bán thuốc, phương pháp đóng vai khách hàng đã được thực hiện Bốn nhóm khách hàng, mỗi nhóm 5 người đã được tập huấn kỹ lưỡng
về việc trình bầy 1 trong 4 tình huống đã được lựa chọn khi đến nhà thuốc Các “khách hàng” mua tất cả các loại thuốc mà nhân viên bán thuốc đã yêu cầu họ sau đó điền các thông tin thu được trong quá trình mua bán cũng như chủng loại thuốc, số lượng từng loại thuốc vào mẫu qui định Tổng số có 4 lần đóng vai khách hàng được thực hiện, trước can thiệp và sau mỗi lần can thiệp
Các biện pháp can thiệp: Ba biện pháp can thiệp đã được thực hiện theo thứ tự: (1) Can thiệp thúc đẩy thực hiện qui chế do cán bộ thanh tra của Sở Y tế Hà Nội tiến hành Hai cán
bộ thanh tra đến mỗi nhà thuốc trong nhóm can thiệp 2 lần, cách nhau 1 tháng Ngoài các nội dung thanh tra thường qui, các cán bộ thanh tra giải thích kỹ về qui chế kê đơn và bán thuốc
Trang 3theo đơn Trong quá trình làm việc với các nhà
thuốc can thiệp, các cán bộ thanh tra cũng tập
trung giải thích cho các nhân viên bán thuốc
các thuốc dùng cho bệnh lây truyền qua đường
tình dục (BLTQĐTD), cefalecin, và
prednisolon là những thuốc cần phải bán theo
đơn.(2) Can thiệp cung cấp kiến thức: Nghiên
cứu viên đến từng nhà thuốc thuộc nhóm can
thiệp, giải thích cách Xử lý các tình huống đã
lựa chọn đồng thời để lại tài liệu in về cách xử
lý các trường hợp đó (3) Can thiệp giáo dục
đồng nghiệp: Các nhà thuốc trong nhóm can
thiệp chia thành 5 nhóm Các nhóm họp mỗi
tháng 1 lần, trong 3 tháng liền Trong mỗi cuộc
họp, các thành viên đưa các trường hợp liên
quan đến 4 tình huống nêu trên mà họ đã gặp
trong tháng trước đó Cả nhóm cùng thảo luận
việc Xử lý của các nhân viên đối với các tình
huống đó đã hợp lý hay chưa
Xử lý số liệu: Số liệu được xử lý bằng phần
mềm SPSS Số liệu về thực hành (đóng vai
khách hàng) của 60 nhà thuốc Số liệu về kiến
thức (phỏng vấn) của 44 nhà thuốc
III Kết quả
1 Trình độ chuyên môn của nhân viên bán thuốc tại các nhà thuốc tư ở Hà Nội (Kết quả từ lần phỏng vấn đầu tiên)
Bảng 1: Trình độ chuyên môn của các nhân viên bán thuốc tại các nhà thuốc tư ở
Hà Nội
Trình độ chuyên môn Số người Tỷ lệ % Dược sĩ cao cấp,
trung cấp
35 50
Không có chuyên môn
về y tế
Trong số 70 nhân viên bán thuốc được phỏng vấn, đại đa số là có trình độ chuyên môn dược, một số có trình độ chuyên môn y Số người không có trình độ chuyên về y tế là rất thấp (bảng 1)
2 Tác dụng của các biện pháp can thiệp lên kiến thức của nhân viên bán thuốc:
Bảng 2: Tác dụng của các biện pháp can thiệp đối với kiến thức của nhân viên bán thuốc
tại các nhà thuốc tư ở Hà Nội
Trước can thiệp Sau can thiệp Tình huống/chỉ số
Can thiệp (n=22)
Chứng (n=22)
Can thiệp (n=22)
Chứng (n=22)
P
- Hỏi xem BN có khó thở không? 50% 55% 73% 39% 0.1
NKHHC
- Hỏi về hoạt động tình dục 39% 18% 66% 43% 0.8
- Hỏi về sức khoẻ bạn tình 5% 9% 34% 9% 0.03
- Khuyên BN dùng bao cao su 27% 14% 61% 0% 0.01 BLTQĐTD
Yêu cầu bán
cefalecin
Yêu cầu bán
prednisolone
Trang 4Sau khi thực hiện các biện pháp can thiệp,
kiến thức của nhân viên bán thuốc đều được
nâng cao đối với ba trong bốn tình huống so
với trước can thiệp và so với nhóm chứng(bảng
2) Đối với tình huống xử lý NKHHC ở trẻ nhỏ
dưới 5 tuổi: số người nói sẽ bán kháng sinh cho
tình hống này giảm đi (p=0.02) và số người nói
sẽ bán thuốc đông y cho tình huống này tăng
lên (p=0.03) Đối với tình huống Xử lý
BLTQĐTD, số người được hỏi nói là sẽ hỏi về
sức khoẻ của bệnh nhân tăng lên (p=0.03) và khuyên bệnh nhân dùng bao cao su khi quan hệ tình dục tăng lên (p=0.01) Với tình huống khách hàng yêu cầu bán cefalecin không đơn,
số người nói rằng sẽ bán thuốc theo yêu cầu của khách hàng giảm đi (p=0.02) trong khi đó thì số người nói sẽ bán prednisolone giảm không có ý nghĩa thống kê so với trước can thiệp và so với nhóm chứng
3 Tác dụng của các biện pháp can thiệp lên thực hành của nhân viên bán thuốc:
Bảng 3: Tác dụng của các biện pháp can thiệp đối với thực hành của nhân viên bán thuốc
tại các nhà thuốc tư
Trước can thiệp Sau can thiệp Tình huống/chỉ số
Can thiệp (n= 157)
Chứng (n= 140)
Can thiệp (n=146)
Chứng (n=150)
P
- Hỏi xem BN có khó thở không?
11% 10% 30% 7% 0.01 Nhiễm khuẩn
hô hấp cấp
- Hỏi về sức khoẻ bạn tình 24% 9% 37% 9% 0.3
- Khuyên BN dùng bao cao
su
Bệnh lây
truyền qua
đường tình dục - Điều trị đúng phác đồ 3% 4% 30% 19% 0.01 Yêu cầu bán
cefalecin
Yêu cầu bán
prednisolone
Sau khi thực hiện các can thiệp, hầu hết các
chỉ số quan trọng của 4 tình huống đều được
cải thiện (p<0.05) Khác với việc đánh giá tác
dụng của các biện pháp can thiệp lên kiến thức
của nhân viên bán thuốc, đơn vị phân tích là
người đượcphỏng vấn, trong trường hợp này,
nhà thuốc được coi là đơn vị phân tích Kết quả
tóm tắt tác dụng của các biện pháp can thiệp
được ghi trong bảng 3
IV Bàn luận
Kết quả của điều tra cơ bản cho thấy kiến
thức của nhân viên bán thuốc ở các nhà thuốc
tư Hà Nội chưa tốt Cụ thể là, chỉ có khoảng
50% số người được phỏng vấn trả lời là họ sẽ hỏi xem bệnh nhân có khó thở không trước khi bán thuốc Số người trả lời là sẽ bán kháng sinh cho trường hợp NKHHC dưới 20% Số người sẽ hỏi về tình trạng sức khoẻ bạn tình của bệnh nhân rất thấp (dưới 10%) Không có trường hợp nào người được phỏng vấn đưa ra được phác đồ
điều trị BLTQĐTD đúng với phác đồ điều trị hiện hành của Bộ Y tế Tỷ lệ “tuân thủ” yêu cầu bán cefalecin và predinsolone của khách hàng khá cao, từ 47-68% (bảng 2) Thực hành của các nhà thuốc lại còn tồi tệ hơn Khoảng 10% số khách hàng mua thuốc cho bệnh nhi NKHHC được hỏi về tình trạng thở của trẻ, hơn
Trang 540% số khách hàng được các nhà thuốc bán
kháng sinh để điều trị NKHHC Đối với
BLTQĐTD, chỉ có 1% được khuyên là nên
dùng bao cao su trong quan hệ tình dục Tỷ lệ
bán cefalecin và prednisolon theo yêu cầu của
khách hàng rất cao, từ 73 đến 95% (bảng 3)
Kết quả này cũng tương tự như kết quả của một
nghiên cứu về nhà thuốc tư năm 1995, khi 95%
các trường hợp mua thuốc tại nhà thuốc tư là do
khách hàng tự quyết định loại thuốc cũng như
số lượng thuốc cần mua [7] Có hai điều đáng
nói ở đây Một là trong khi tỷ lệ tự điều trị
bằng cách đến các điểm bán thuốc rất cao [4]
thì kiến thức và thực hành của các nhà thuốc tư
đều không đáp ứng được việc tư vấn sử dụng
thuốc cho khách hàng Mặc dù hầu hết nhân
viên bán thuốc đều có trình độ về y học (bảng
1) Hai là giữa kiến thức và thực hành có
khoảng cách khá xa (bảng 2, 3) Nhiều khi
người bán thuốc hiểu được là nên xử lý các tình
huống thế nào nhưng lại không thực hành đúng
như điều họ hiểu Quan tâm về doanh số, lợi
nhuận đôi khi làm người ta quên đi đạo đức
chuyên môn Điều này cần phải đuợc nhấn
mạnh hơn nữa, ngay trong các chương trình
đào tạo
Kết quả nghiên cứu cho thấy là các can
thiệp đã có tác dụng làm thay đổi theo chiều
hướng tốt, cả kiến thức và thực hành của nhân
viên bán thuốc tại các nhà thuốc tư (bảng 2,3)
Tuy nhiên, thiết kế nghiên cứu không cho phép
đánh giá tác dụng riêng biệt của từng hình thức
can thiệp, mà trên thực tế lại khó có thể áp
dụng đồng thời nhiều can thiệp đối với 1 đối
tượng
Sự khác biệt có ý nghĩa giữa trước và sau
can thiệp, giữa nhóm chứng và nhóm can thiệp
đã nói lên chất lượng phục vụ của nhà thuốc tư
được nâng cao khi có tác động của can thiệp,
điều này cho thấy nếu những nhà quản lý quan
tâm đến vấn đề nâng cao chất lượng phục vụ
của các nhà thuốc tư thì vẫn có thể làm được
Hiện tại nhà thuốc tư đang phục vụ đông đảo
bệnh nhân nên nếu chất lượng phục vụ ở đây
được cải thiện thì rất có ích cho sức khoẻ nhân dân và giảm bớt lãng phí cho toàn xã hội do sử dụng thuốc không hợp lý Đối với bệnh NTHHC ở trẻ em là bệnh rất hay gặp ở Việt Nam, sử dụng kháng sinh trong trường hợp này thường là không cần thiết, vừa gây lãng phí vừa tạo điều kiện thuận lợi cho việc kháng kháng sinh Đối với BLTQĐTD, khi nhân viên bán thuốc có trình độ tư vấn cho bệnh nhân về việc dùng thuốc cũng như sử dụng bao cao su sẽ có lợi không chỉ cho bệnh nhân đó mà có lợi chung cho xã hội, khi BLTQĐTD bao gồm cả HIV/AIDs sẽ giảm nguy cơ lây lan [9]
Tỷ lệ bệnh nhân mắc BLTQĐTD được cung cấp thuốc đúng với phác đồ điều trị ở các nhà thuốc tư trước can thiệp rất thấp (3%) Tỷ lệ này cũng tương tự như ở một số nghiên cứu của các nước đang phát triển: Peru: 1,5% [8], Nepal: 0,8% [10] Việc khuyên bệnh nhân dùng bao cao su, sau can thiệp có tăng lên nhưng chỉ khác nhau có ý nghĩa giữa nhóm chứng và nhóm thử về mặt kiến thức (p = 0,01) chứ về thực hành thì sự khác biệt giữa hai nhóm là không có ý nghĩa thống kê
Tỷ lệ bán kháng sinh cho bệnh nhân NKHHC ở nhóm can thiệp giảm đi một cách có nghĩa sau can thiệp, so với nhóm chứng, nói lên tác dụng của các biện pháp can thiệp Tuy nhiên vẫn còn đến 30% số trường hợp bán kháng sinh cho tình huống này
Sau khi can thiệp, ở nhóm can thiệp, số lần bán steroid giảm đi một phần tư và số lần bán cefalecin giảm đi gần một nửa Như vậy, mặc
dù với cả hai tình huống đều có chuyển biến tốt nhưng số lần bán steroid giảm đi nhiều so với
số lần bán cefalecine Điều này có thể giải thích là nhân viên bán thuốc, dù có tiếp thu kiến thức của những biện pháp can thiệp vẫn bị
áp lực tài chính chi phối Khi không bán vài viên prednisolone, người ta chỉ bị giảm doanh thu khoảng 1000 đ, nhưng không bán vài viên cefalecin thì số doanh thu bị giảm tăng gấp vài lần
Trang 6V Kết luận
Mặc dầu nhân viên bán thuốc ở các nhà
thuốc tư ở Hà Nội hầu hết đều có chuyên môn
về dược học (hay y học) nhưng chất lượng phục
vụ của các nhà thuốc tư ở Hà Nội chưa được
tốt Khả năng tư vấn của nhân viên bán thuốc
thấp, chủ yếu chỉ bán hàng theo yêu cầu của
khách hàng
Sau khi tiến hành can thiệp, kiến thức của
nhân viên bán thuốc được cải thiện, tập trung
vào mảng điều trị nhiều hơn là tư vấn (bảng 2)
Thực hành của nhân viên bán thuốc cũng được
thiện sau khi các can thiệp được thực hiện
(bảng 3) Tương tự như cải thiện về kiến thức,
cải thiện về thực hành cũng tập trung vào mảng
điều trị nhiều hơn là tư vấn Tỷ lệ bán cefalecin
và prednisolone không đơn giảm rõ rệt Tỷ lệ
điều trị BNTQĐTD ở nhóm can thiệp cũng tăng
cao (bảng 3)
VI Kiến nghị
Chất lựợng phục vụ của các nhà thuốc tư có
thể được cải thiện thông qua việc thực hiện
phối hợp các biện pháp can thiệp Kết quả này
gợi ý có thể phát triển các hình thức can thiệp
đối với người cung ứng dịch vụ y tế khác, ví dụ
như bác sĩ tư Nghiên cứu này mới đề cập đến
nâng cao chất lượng phục vụ của các nhà thuốc
tư mà chưa quan tâm đến nâng cao chất lượng
của hệ thống cung ứng thuốc của nhà nước
Những can thiệp tiếp theo cần quan tâm đến cả
khu vực công Mặc dù sau can thiệp, chất lượng
phục vụ của các nhà thuốc tư có tăng lên nhưng
vẫn còn những tồn tại không đáng có, như
kháng sinh vẫn được bán cho 1/3 số bệnh nhân
NKHHC hay việc tư vấn dùng bao cao su cho
bệnh nhân mắc BLTQĐTD vẫn chưa được quan
tâm đúng mức, mặc dù nhân viên bán thuốc
hiểu được là nên làm việc đó Đồng thời với
việc tác động vào người cung ứng, cũng cần có
những can thiệp tác động vào phía người sử
dụng, để cộng đồng hiểu được cần tuân thủ
những yêu cầu nhất định trong việc sử dụng
thuốc
Tài liệu tham khảo
1 Nguyễn Thanh Bình, Phạm Tiếp Nhà thuốc tư: Hiện trạng và xu thế phát triển trong tương lai Báo cáo tại hội thảo “Vai trò của hệ thống tư nhân trong chăm sóc sức khoẻ ở Việt Nam” do UNICEF và Bộ Y tế tổ chức, Hà Nội
2002
2 Bộ Y tế Tổng kết 7 năm hành nghề y tế tư nhân
3 Lê Hùng Lâm, Lê Tiến, Nguyễn Thị Kim Chúc và CS Nghiên cứu về sử dụng thuốc an toàn hợp lý ở Việt Nam Bộ Y tế năm 1997
4 Tổng cục thống kê Điều tra mức sống dân cư Việt Nam 1997-1998 Nhà xuất bản thống kê Hà Nội, 2000
5 Carbon C, Bax RP Regulating the use of antibiotics in the community BMJ 1998; 317:663-665
6 Chetley A Problem Drugs Health Action International Zed Books London New Jersey
1996
7 Chuc NT, Tomson G ”Doi moi” and private pharmacies: a case study on dispensing and financing issues in Hanoi, Vietnam European Journal of Clinical Pharmacology 1999; 55:325-332
8 Garcia PJ, Gotuzzo E, Hughes JP, Holmes KK Syndromic management of STDs
in pharmacies: Evaluation and randomised intervention trial Sex Transm Infect 1998; 74 Suppl 1:S153-S158
9 Gilson L, Mkanje R, Grosskurth H, Mosha F, Picard J, Gavyole A, et al Cost-effectiveness of improved treatment services for sexually transmitted diseases in preventing HIV-1 infection in Mwanza Region, Tanzania Lancet 1997; 350:1805-1809
10 Tuladhar SM, Mills S, Acharya S, Pradhan M, Pollock J, Dallabetta G The role of pharmacists in HIV/STD prevention: evaluation
of an STD syndromic management intervention
in Nepal AIDS 1998; 12 Suppl 2: S81-87
Trang 7Abstract
Effects of multi intervention on knowledge
and pracrmacy staff in Hanoi
The study assesses effect of an intervention package on knowledge and practice of pharmacy staff in Hanoi 68 private pharmacies participated The four-tracer conditions in the intervention study were for STD, the management of urethral discharge in an adult man, for ARI, the management of acute upper respiratory tract infection in a child under 5 years of age, the request without a prescription of low dose of cefalexin and for prednisolone Three interventions were applied sequentially: regulatory enforcement, education and peer influence A Simulated Client Method was conducted to assess practice; interviews with a questionnaire were used to assess knowledge The intervention package resulted in improved knowledge and practice of pharmacy staff in the intervention pharmacies For STD, more drug sellers stated that they would advise to use
a condom In practice, advice to go to the doctor and dispensing the correct syndromic treatment increased For ARI, more pharmacy staff stated that they would ask questions regarding fever, fewer would give antibiotics In practice, antibiotic dispensing decreased and questions regarding breathing increased For antibiotic and steroid requests, more said that they would not sell a few capsules of cefalexin In practice, the dispensing of steroids and cefalexin decreased and prescription requests increased for prednisolone and cefalexin