1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá bước đầu kết quả áp dụng kỹ thuật mở và đóng bụng Hinh - Minh trong phẫu thuật phụ khoa ppt

5 740 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 192,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đánh giá bước đầu kết quả áp dụng Kỹ thuật mở và đóng bụng Hinh-minh trong phẫu thuật phụ khoa Nguyễn Đức Hinh 1 , Vũ Bá Quyết 2 1 Trường Đại học Y Hà Nội 2 Bệnh viện Phụ Sản Trung ươ

Trang 1

đánh giá bước đầu kết quả áp dụng Kỹ thuật mở và

đóng bụng Hinh-minh trong phẫu thuật phụ khoa

Nguyễn Đức Hinh 1

, Vũ Bá Quyết 2

1 Trường Đại học Y Hà Nội

2 Bệnh viện Phụ Sản Trung ương

Đó là một kỹ thuật mở bụng theo đường ngang cải tiến trên cơ sở của hai kỹ thuật

mở bụng: Pfannenstiel (1900) và Joel Cohen (1977) Kỹ thuật mở bụng này áp dụng cho cả phẫu thuật phụ khoa và phẫu thuật sản khoa (mổ lấy thai) Kỹ thuật mở bụng HINH-MINH đã tận dụng các ưu điểm và hạn chế các nhược điểm của cả hai kỹ thuật

mở bụng Pfannenstiel và Joel Cohen Đó là bảo đảm tính thẩm mỹ như kỹ thuật Pfannenstiel nhưng lại rút ngắn thời gian và hạn chế gây thương tổn các mạch máu và dây thần kinh như kỹ thuật Joel Cohen Đồng thời kỹ thuật mở bụng này lần đầu tiên

được vận dụng vào hoàn cảnh của Việt Nam với 49 bệnh nhân được mổ từ 6-2000 đến 12-2001 Thời gian phẫu thuật và phục hồiđã được rút ngắn, tỷ lệ sốt, nhiễm khuẩn, toác vết mổ thấp

I Đặt vấn đề

Cho đến nay ở Việt Nam và trên thế

giới có rất nhiều kỹ thuật mở và đóng

bụng được áp dụng trong phẫu thuật phụ

khoa Từ năm 1998, chúng tôi đã bắt đầu

áp dụng đường rạch Hinh-Minh vào phẫu

thuật phụ khoa Đường rạch Hinh-Minh là

một kỹ thuật mở và đóng bụng dựa trên

cơ sở cải biên từ hai đường rạch:

Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm sơ bộ

đánh giá thời gian mở bụng, thời gian

đóng bụng của đường rạch Hinh-Minh

trong phẫu thuật phụ khoa cùng với các

tai biến, biến chứng của đường rạch này

II Đối tượng và phương pháp

nghiên cứu

2.1 Tiêu chuẩn chọn đối tượng

nghiên cứu

Các bệnh nhân có chỉ định mổ vì các

bệnh lý phụ khoa như u xơ tử cung, u

nang buồng trứng, chửa ngoài tử cung

có bệnh hay không có bệnh lý toàn thân

2.2 Tiêu chuẩn loại trừ

Có sẹo mổ cũ ở ổ bụng kể cả sẹo

đường trắng giữa dưới rốn hay sẹo đường ngang trên vệ

2.3 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu mô tả tiến cứu theo dõi trước và sau mổ để đánh giá kết quả

- Cỡ mẫu của nghiên cứu: 49 đối tượng cho phẫu thuật phụ khoa

- Nhóm phẫu thuật viên bao gồm có 2 người được lựa chọn để thực hiện nghiên cứu kỹ thuật mở và đóng bụng này: TS Nguyễn Đức Hinh và ThS Vũ Bá Quyết

- Đề cương nghiên cứu đã được Hội

đồng nghiên cứu khoa học của Bệnh viện thông qua Tên của đường rạch là do Hội

đồng khoa học kỹ thuật của Bệnh viện Phụ Sản trung ương đề nghị đặt

- Các bệnh nhân tham gia nghiên cứu

được giải thích đầy đủ và đồng ý tham gia vào nghiên cứu

III Kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng

6-2000 đến tháng 12-2001 tại khoa phẫu

Trang 2

thuật Viện BVBMTSS nay được gọi là

Bệnh viện Phụ Sản Trung ương

3.1 Nội dung kỹ thuật mở và đóng

bụng HINH-MINH

Về nguyên tắc, kỹ thuật mở bụng

HINH-MINH là sự kết hợp của kỹ thuật

Pfannnenstiel3,4,5

(đề xuất năm 1900) (vị trí của đường rạch da ở thành bụng) với

(đề xuất năm 1977) (kỹ thuật mở bụng bằng phương pháp

dùng tay tách xé) ứng dụng vào hoàn

cảnh của Việt Nam Đó là kỹ thuật mở

bụng theo đường rạch ngang, biến thể từ

kỹ thuật mở bụng theo đường rạch

Pfannenstiel và đường rạch Joel Cohen

Cụ thể vị trí của đường rạch da thì theo kỹ

thuật Pfannenstiel Kỹ thuật mở cân và

phúc mạc tuân theo kỹ thuật Joel Cohen

Hình 1: Vị trí của đường rạch da

3.1.1 Mở bụng

Rạch da theo như kỹ thuật

Pfannenstiel Đường rạch là đường ngang

hơi cong lõm hướng lên trên Vị trí của

đường rạch ở phía trên bờ trên khớp mu

hai khoát ngón tay (2cm) (hình 1) Đường

rạch dừng ngay khi vừa đi qua lớp hạ bì

nghĩa là chỉ cắt đứt đúng lớp da

Tiếp theo rạch lớp mỡ dưới da đến tận

cân chỉ thực hiện ngay ở đường giữa với chiều dài tối thiểu (thường dài từ 2 đến 3cm) Chú ý đường rạch theo hướng chếch lên trên để sao cho điểm mở cân nằm cao hơn điểm mở da Dùng kéo cắt cân ngầm dưới lớp mỡ dưới da sang hai bên và cong lõm hướng lên trên Dùng các ngón tay tách hai cơ thẳng to rộng ra hai bên bằng cách phẫu thuật viên và trợ thủ viên thứ nhất kéo đối xứng đồng thời sang hai bên (hình 2) Dùng đầu ngón tay

mở phúc mạc lá thành ở cao gần phía rốn

và cũng xé rộng sang hai bên bằng tay của phẫu thuật viên và trợ thủ viên thứ nhất

Hình 2: Kỹ thuật tách xé cơ bằng tay

3.1.2 Đóng bụng

Đóng phúc mạc lá thành bằng mũi khâu vắt với chỉ tự tiêu catgut 2/0 Không khâu ráp hai cơ thẳng to lại với nhau Khâu lớp cân bằng mũi khâu vắt với chỉ tự tiêu chậm Vicryl số 0 hoặc số 1 (hình 3) Không khâu lớp mỡ dưới da nhưng phải kiểm tra cầm máu rất cẩn thận

Khâu da bằng kỹ thuật khâu luồn dưới

da với chỉ nylon hay bằng chỉ vicryl rapid 3/0 Không cần phải đặt ống dẫn lưu

Hình 3: Khâu phục hồi lớp cân thành bụng

Trang 3

3.2 Đặc điểm nhóm bệnh nhân

nghiên cứu

3.2.1 Tuổi của bệnh nhân trong nhóm

nghiên cứu

Tuổi trung bình: 40,9 tuổi ± 10,1 tuổi

Bệnh nhân nhỏ tuổi nhất: 12

Bệnh nhân lớn tuổi nhất: 60

3.2.2 Nghề nghiệp, chỗ ở

Nghề nghiệp n %

Trong số 49 bệnh nhân, có 28 người

có địa chỉ ở thành phố Hà Nội (chiếm

57,1%), 21 người ở các khu vực khác

(chiếm 42,9%)

3.2.3 Chỉ định mổ phụ khoa

Các loại phẫu thuật đã thực hiện:

- Cắt tử cung: 42 trường hợp (40

trường hợp cắt tử cung hoàn toàn, 2

trường hợp cắt tử cung bán phần)

- Bóc u nang, cắt u nang, cắt vòi trứng:

7 trường hợp

3.2.4 Cân nặng bệnh phẩm

Có 36 bệnh phẩm được cân sau khi

mổ Đó là các bệnh phẩm tử cung hay buồng trứng

Trung bình: 348,6 g ± 209,9 g Nhẹ nhất: 40g

Nặng nhất 900g

3.3 Thời gian phẫu thuật

3.3.1 Thời gian mở bụng (tính từ khi bắt đầu rạch da cho đến khi mở xong phúc mạc thành bụng)

Trung bình: 1 phút 43,3 giây ± 35, 4 giây

(103,3 giây ± 35, 4 giây) Thời gian nhanh nhất: 60 giây Thời gian lâu nhất: 195 giây

3.3.2 Thời gian đóng bụng (tính từ khi bắt đầu đóng phúc mạc lá thành cho đến khi khâu xong da)

Trung bình: 6 phút 37 giây ± 3 phút 23,9 giây

(397,0 giây ± 203,9 giây) Thời gian nhanh nhất: 120 giây Thời gian lâu nhất: 872 giây

3.3.3 Thời gian toàn bộ cuộc mổ

Trung bình: 38,2 phút giây ± 12,8 phút giây

Thời gian nhanh nhất: 14 phút Thời gian lâu nhất: 60 phút

3.4 Theo dõi sau phẫu thuật

Toàn bộ các bệnh nhân này đều được

sử dụng kháng sinh dự phòng tiêm tĩnh mạch trước khi bắt đầu rạch da 30 phút Kháng sinh được sử dụng là một trong

Trang 4

các loại sau: Zinacef, Unasyn,

Augmentin

3.4.1 Thời gian phục hồi trung tiện:

Trung bình: 28 giờ 42 phút ± 11 giờ 31

phút

Thời gian nhanh nhất: 10 giờ

Thời gian lâu nhất: 72 giờ

3.4.2 Thời gian nằm viện (tính từ khi

mổ cho đến khi được xuất viện, không

tính thời gian nằm viện trước khi mổ)

Trung bình: 6,22 ngày ± 0,55 ngày

Thời gian nhanh nhất: 5 ngày

Thời gian lâu nhất: 7 ngày

3.4.3 Các tai biến hay biến chứng sau

phẫu thuật

Không xảy ra một trường hợp nào phải

mổ lại vì chảy máu thành bụng, vì máu tụ

thành bụng

Chúng tôi không gặp một trường hợp

nào bị toác vết mổ thành bụng, bị nhiễm

khuẩn nặng ở vết mổ

Trong thời gian hậu phẫu có 2 trường

hợp (chiếm tỷ lệ 4,1%) bị sốt vừa phải,

C Hai bệnh nhân này được dùng kháng sinh

điều trị thêm 3 ngày

IV bàn luận

Nghiên cứu được tiến hành trên 49

bệnh nhân được phẫu thuật vì các lý do

phụ khoa như: u xơ tử cung, u nang

buồng trứng, chửa ngoài tử cung… Tuổi

trung bình của nhóm bệnh nhân này là

40,9 tuổi, bệnh nhân trẻ nhất là 12 tuổi và

bệnh nhân lớn tuổi nhất là 60 tuổi Chỉ

định phẫu thuật phổ biến nhất là u xơ tử

cung với 31 trường hợp chiếm tỷ lệ

63,3%

Nghiên cứu này cũng cho thấy các trường hợp cắt tử cung đã có những trường hợp u xơ tử cung khá to U xơ tử cung to nhất nặng 900 g Trọng lượng trung bình của các bệnh phẩm là 348,6 g

Điều đó muốn nói lên rằng đường rạch này có thể áp dụng cho cả trường hợp khối u khá to mà không thấy có trở ngại gì

đáng kể

Thời gian mở bụng trung bình cho 49 trường hợp nghiên cứu là 1 phút 43,3 giây Thời gian đóng bụng trung bình là 6 phút 37 giây

Sau khi phẫu thuật, hoạt động nhu

động của ruột trở lại trung bình sau 28 giờ

42 phút Trường hợp nhanh nhất là sau

10 giờ và trường hợp lâu nhất là sau 72 giờ

Chúng tôi đã không gặp một biến chứng nào đáng kể với kỹ thuật mở và

đóng bụng Hinh-Minh Tỷ lệ sốt sau mổ rất thấp, chỉ là 4,1%

V Kết luận

Đường rạch Hinh-Minh đã khắc phục tính thiếu thẩm mỹ của đường rạch Joel Cohen và sự mất thời gian của đường rạch Pfannenstiel Trong phẫu thuật phụ khoa đường rạch Hinh-Minh đã tỏ ra không có trở ngại gì mà trái lại còn có nhiều ưu điểm so với các đường rạch ngang trên vệ khác Thời gian mở bụng trung bình hết 1phút 43 giây Thời gian

đóng bụng trung bình hết 6 phút 37 giây Trong nghiên cứu này chúng tôi không gặp một biến chứng nào đáng kể, chỉ có

2 trường hợp sốt trong những ngày đầu sau mổ Phải nói rằng đây là một đường rạch nhanh, ít chảy máu và không quá khó về mặt kỹ thuật Với đường rạch này

đã bảo đảm tính thẩm mỹ cho bệnh nhân,

Trang 5

bảo đảm độ vững chắc của thành bụng

Một nhược điểm duy nhất của đường rạch

cũng như nhược điểm của mọi đường

rạch ngang khác là không thể mở rộng để

thao tác ở phía trên rốn của ổ bụng

Tài liệu tham khảo

1 Federici D., Lacelli B., Mugiasca

L., Agorossi A., Cipolla L., Conti M

Cesarean section using the Misgav

Ladach method Int J Obstet Gynecol

1997; 57: 273-79

2 Gordon JD Obstetrics-Gynecology

and Infertility Scrub Hill Press, Inc 1998 Lansac J., Body G., Magnin G La pratique chirurgicale en Gynécologie – Obstétrique Masson, 1998

3 Querleu D Techniques

chirurgicales en Gynécologie Masson

1995

4 Thompson JD., Rock JA Te

Linde’s operative gynecology 7th edition,

JB Lippincott company, 1992: 239-78

Summary

Performing Hinh-Minh incision in gynecological

operations

Hinh-Minh’s incision is a modified technic on base on Pfannestiel’s incision (1900) and Cohen’s incision (1977) It has the avantages of two old techniques for gynecological operations 49 patients underwent gynecological operations such as total and subtotal hysterectomy, cystectomy, ovariectomy (uterine fibroma, ovarian cyst, ectopic pregnancy ) according Hinh-Minh’s incision from 2000 June to 2001 December

in National Hospital for Obstetrics and Gynecology The Hinh-Minh’s incision reduces operation time, and time of recovery The rates of febrile morbidity, wound infection and wound dehiscence are not affected by this technique

Ngày đăng: 25/03/2014, 04:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Vị trí của đ−ờng rạch da - Đánh giá bước đầu kết quả áp dụng kỹ thuật mở và đóng bụng Hinh - Minh trong phẫu thuật phụ khoa ppt
Hình 1 Vị trí của đ−ờng rạch da (Trang 2)
Hình 2: Kỹ thuật tách xé cơ bằng tay  3.1.2 §ãng bông - Đánh giá bước đầu kết quả áp dụng kỹ thuật mở và đóng bụng Hinh - Minh trong phẫu thuật phụ khoa ppt
Hình 2 Kỹ thuật tách xé cơ bằng tay 3.1.2 §ãng bông (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w