1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nồng độ Hóc Môn "Insulin - Like Growth Factor - I / IGF - I" huyết thanh ở trẻ em Việt Nam - lứa tuổi tiền học đường pot

6 572 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 255,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nồng độ hóc môn “Insulin-like Growth Factor-I /IGF-I” huyết thanh ở trẻ em việt nam - lứa tuổi tiền học đường Nguyễn Xuân Ninh Khoa Vi chất dinh dưỡng - Viện Dinh Dưỡng Nghiên cứu đượ

Trang 1

Nồng độ hóc môn “Insulin-like Growth Factor-I /IGF-I” huyết thanh ở trẻ em việt nam - lứa tuổi tiền học đường

Nguyễn Xuân Ninh

Khoa Vi chất dinh dưỡng - Viện Dinh Dưỡng

Nghiên cứu được tiến hành trên 642 trẻ em lứa tuổi tiền học đường, nhằm xác định trị số qui chiếu của IGF-I huyết thanh, một hóc môn tăng trưởng quan trọng của cơ thể, và một số yếu tố liên quan Kết quả cho thấy rằng: 1)-Nồng độ IGF-I ở trẻ em (0-<60 tháng tuổi) tăng dần theo mỗi nhóm tuổi, IGF-I ở trẻ nữ cao hơn trẻ nam cùng lứa tuổi 2)- Nồng độ IGF-I giảm thấp có ý nghĩa ở những trẻ bị suy dinh dưỡng (SDD) ở cả 3 thể: cân nặng/tuổi (40,7± 22,3ng/mL), chiều cao/tuổi (39,5 ± 21,3ng/mL) và cân nặng/chiều cao (35,7± 22,2ng/mL) so với 46-48ng/mL ở trẻ không SDD 3)-Trị

số IGF-I ở những trẻ khỏe mạnh (có cân nặng, chiều cao bình thường so với quần thể tham khảo NCHS), có thể sử dụng như trị số qui chiếu tham khảo cho chẩn đoán, theo dõi và điều trị một số vấn đề rối loạn tăng trưởng ở trẻ em 4)- Cần có những đánh giá nồng độ IGF-I trên những bệnh nhân bị bệnh khổng lồ (acromegaly), với những dấu hiệu lâm sàng điển hình để có thể thiết lập giá trị ranh giới (cut-off) giữa bình thường và bệnh lý trong chuẩn đoán lâm sàng

I Đặt vấn đề

IGF-I, một hóc môn tăng trưởng quan trọng

được phát hiện và chứng minh tác dụng trong

hơn thập kỷ qua, là hóc môn trung gian chủ

yếu của GH (Growth Hormone) trong vai trò

kích thích tăng trưởng ở người và động vật sau

khi sinh [1, 8] Gan là cơ quan tổng hợp 80%

lượng IGF-I của cơ thể, dưới sự điều hoà của

hóc môn GH; ngoài ra một phần IGF-I còn

được tổng hợp tại các mô của cơ thể Trong

trường hợp bình thường, nồng độ IGF-I và GH

huyết thanh có liên quan chặt chẽ, tuyến tính

Trong bệnh lý to cực (acromegaly), GH và

IGF-I đều tăng cao hơn giới hạn bình thường, chúng

đều giảm thấp khi bệnh nhân được điều trị [9]

IGF-I cũng có những cơ chế tác dụng độc

lập với GH: tiêm trực tiếp IGF-I cho người và

động vật có tác dụng tăng đồng hoá, kích thích

phát triển cơ, xương mà không cần hóc môn

GH; trẻ bị SDD (có cân nặng, chiều cao thấp)

có nồng độ hóc môn GH bình thường hoặc cao

hơn mức bình thường, trong khi nồng độ IGF-I

ở mức thấp, cho thấy tác dụng của hóc môn

GH bị kháng lại ở trẻ suy dinh dưỡng Tương tự,

ở động vật thiếu kẽm tốc độ phát triển chiều

dài, cân nặng đều giảm thấp, kết hợp với giảm nồng độ IGF-I huyết thanh Những kết quả này cho thấy cơ chế điều hoà tăng trưởng của các chất dinh dưỡng thông qua hóc môn IGF-I; IGF-I có thời gian bán huỷ tương đối ngắn (vài giờ) Vì vậy, IGF-I cũng được coi là một trong những chỉ số nhạy đánh giá tình trạng dinh dưỡng [3,5,6,7]

Kỹ thuật phân tích IGF-I mới được thiết lập trong vài năm gần đây, cùng với tiến bộ của việc xác định được cấu trúc và tổng hợp nhân tạo phân tử IGF-I Cũng giống như các chỉ tiêu

đánh giá khác, việc thiết lập một trị số trung bình tương ứng cho một nhóm đối tượng, tìm hiểu ảnh hưởng của một số yếu tố liên quan là cần thiết trong việc ứng dụng vào chẩn đoán, theo dõi bệnh Mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi là:

1 Xác định nồng độ IGF-I ở trẻ em tuổi tiền học đường,

2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan: tuổi, giới, tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em nông thôn

Trang 2

II Đối tượng và phương pháp

nghiên cứu

1 Đối tượng:

Trẻ em trước tuổi đi học (0-<60 tháng tuổi) ở

2 vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng

sông Mê kông được chọn vào nghiên cứu

Tiêu chuẩn chọn lựa: trẻ trong độ tuổi trên,

không mắc các bệnh dị tật bẩm sinh, không

mắc các bệnh nhiễm trùng cấp tính, mãn tính

2 Cỡ mẫu:

Xây dựng chỉ số qui chiếu trung bình: ước

tính 30trẻ/nhóm tuổi dựa vào sự chênh lệch

nồng độ IGF-I giữa 2 nhóm có thể phát hiện

=10ng/ml; SD=15 ng/mL; α=0.05; β=0.01; thêm

15% hệ số an toàn, số trẻ lý thuyết cho mỗi

nhóm là 36-40 trẻ

Với 5 nhóm trẻ (0-<12, 12-<24, 24-<36,

36-<48, 48-<60 tháng tuổi), số trẻ khoẻ mạnh sẽ

được điều tra là 40 trẻ/nhóm x 5 nhóm = 200

trẻ

Để chọn đủ 200 trẻ không bị SDD về chiều

cao, cân nặng, cần phải điều tra trên 600 trẻ ở

cộng đồng (ước tính 30-40% trẻ có cân nặng,

chiều cao không SDD)

3 Phương pháp thu thập mẫu:

3.1 Tình trạng dinh dưỡng (TTDD):

Chọn ngẫu nhiên 12 xã đại diện (6 xã/1

vùng ĐB), mỗi xã 50 trẻ (10 trẻ/nhóm tuổi) để

điều tra Số trẻ /xã được chọn như sau: lập

danh sách toàn bộ số trẻ <5 tuổi/xã, chia cho

50 để tìm hệ số k, sau đó chọn ngẫu trẻ trên

danh sách cho đủ 50 trẻ

Cân nặng, chiều cao được đo bằng phương

pháp chuẩn với độ chính xác 0.1 kg và 0.1 cm

Ngày sinh của trẻ dựa vào sổ tiêm chủng của

trạm y tế

TTDD được tính theo các chỉ số Z score về

cân nặng/tuổi, cao/tuổi, nặng/ cao, dựa theo

quần thể tham khảo NCHS

3.2 Chỉ số IGF-I huyết thanh:

Khoảng 1.5mL máu tĩnh mạch được thu

thập vào thời gian 8h-11h, máu được giữ trong

hộp lạnh, kín ánh sáng và được ly tâm tách

huyết thanh vào buổi chiều (14h-16h) Huyết thanh được cất giữ ở nhiệt độ âm 300C cho đến khi phân tích IGF-I

IGF-I được xác định bằng phương pháp miễn dịch hoá phát quang, tại Labo Dinh dưỡng & Tiểu đường (ĐH Tổng hợp Louvain- Vương quốc Bỉ)

3.3 Xử lý thống kê: Các kết quả được tính

theo gía trị trung bình, độ lệch chuẩn; những giá trị phân bố không chuẩn được logarit hoá trước khi so sánh Tương quan giữa các biến số liên tục được tính bằng tương quan tuyến tính

Sử dụng các phần mềm SPSS10.05 và Epi-infor 6.04; P<0.05 được coi là khác nhau có ý nghĩa

3.5 Thời gian: tại thực địa (tháng

2-3/2001); phân tích tại Labo (tháng 7-8/2001)

4 Đạo đức nghiên cứu:

Đề cương nghiên cứu được hội đồng Y đức Viện Dinh dưỡng thông qua, với sự nhất trí của

địa phương và bố mẹ của các cháu Các dụng

cụ lấy máu và xét nghiệm được đảm bảo vô trùng; kỹ thuật lấy máu do các y tá chuyên khoa nhi thực hiện

III Kết quả

642 trẻ, thuộc 12 xã của 2 vùng sinh thái (ĐB sông Hồng và ĐB sông Mê kông) được chọn đánh giá TTDD và lấy máu xét nghiệm Nhóm 0-12 tháng tuổi có số trẻ ít hơn các nhóm khác do nhiều bố mẹ không đồng ý cho lấy máu xét nghiệm Các kết quả được trình bày theo tuổi, giới, TTDD

1 Nồng độ IGF-I theo tuổi:

Bảng 1 cho thấy, nồng độ IGF-I có xu hướng tăng dần theo nhóm tuổi, thấp nhất ở nhóm 0-12 tháng, cao nhất ở nhóm 48-<60 tháng Có sự khác biệt có ý nghĩa (P<0.01) về giá trị trung bình IGF-I giữa nhóm trẻ 0-< 24 tháng tuổi với nhóm 24-<60 tháng

Trang 3

Bảng 1: Nồng độ IGF-I theo nhóm tuổi

Nhóm tuổi Số trẻ Mean ± SD CI 95% mean 0-<12 tháng 69 29,8 ± 17,4 (25,6-34,0)a

12-<24 tháng 152 35,2± 18,4 (32,3-38,1)a

24-<36 tháng 147 44,9± 24,5 (40,9-49,0)b

36-<48 tháng 146 51,7± 23,7 (47,8-55,5)b,c

48-<60 tháng 128 57,7± 28,9 (52,7-62,7)c,d

P<0.0001 giữa các nhóm (ANOVA test)

Khác biệt giữa các nhóm với P<0.01 khi các

chữ (a, b, c, d, e) khác nhau

Hình 1: Tương quan giữa tuổi và nồng độ

IGF-I

Phương trình Y = 24,41 + 0,64X; trong đó:

Y = IGF-I (ng/mL); X = tuổi (tháng) (n= 642; R 2 =0,1477; P< 0.001)

Hình 1 cũng cho thấy có một mối tương quan tuyến tính, thuận chiều, chặt chẽ (P<0.001), giữa tuổi và nồng độ IGF-I ở quần thể trẻ em điều tra Dựa vào phương trình này

có thể ước tính nồng độ IGF-I khi biết tháng tuổi của trẻ

AGE

160

140

120

100

80

60

40

20

0

-20

Bảng 2: Nồng độ IGF-I theo tuổi và giới

Nhóm tuổi Giới Số trẻ Mean ± SD CI 95% mean p (t test)

Nam 30 28.6 ± 18.4 21.7-35.5 0-<12 tháng

Nữ 39 30.6± 16.7 25 2-36.0

0.6386

Nam 72 33.5± 18.7 29.1-37.9 12-<24 tháng

Nữ 80 36.8± 18.2 32.7-40.9

0.2723

Nam 85 42.0± 24.4 36.7-47.2 24-<36 tháng

Nữ 62 48.9± 24.3 42.7-55.1

0.0920

Nam 76 45.5± 18.7 40.8-49.4 36-<48 tháng

Nữ 70 59.5± 25.4 53.4-65.6

0.0002

Nam 64 52.1± 22.7 46.4-57.8 48-<60 tháng

Nữ 64 64.5± 25.3 58.2-70.8

0.0042

Nam 327 41.6± 23.9 39.0-44.2 0-<60 tháng

Nữ 315 48.7± 25.9 45.8-51.6

0.0003

Trang 4

2 Nồng độ IGF-I theo giới:

Bảng 1 cho thấy nồng độ IGF-I ở trẻ nữ có

xu hướng cao hơn trẻ nam, sự khác biệt càng

rõ khi trẻ càng lớn Từ sau 36 tháng, nồng độ

IGF-I của trẻ nữ cao hơn của trẻ nam một cách

có ý nghĩa Với cùng độ tuổi, IGF-I của nữ cao

hơn của nam 10-12 ng/mL khi trẻ từ 36 tháng

tuổi, và từ 4-6ng/mL cho trẻ <36 tháng tuổi

Khi so sánh tổng thể về nồng độ IGF-I giữa

nam và nữ (từ 0-<60 tháng tuổi), có một sự

khác biệt với P=0.0003 Hình 2 cho thấy xu

hướng tách xa dần giữa nồng độ IGF-I của trẻ nam và trẻ nữ, sự khác biệt có ý nghĩa bắt đầu

ở độ tuổi 36 –48 tháng tuổi Khi phân tích bằng tương quan đa biến (IGF-I với tuổi và giới), kết quả cho thấy cả tuổi và giới đều có hệ số tương quan có ý nghĩa (P<0.01), tuyến tính với nồng

độ IGF-I

Hình 2: Nồng độ IGF-I ở trẻ nam và trẻ nữ

0 10 20 30 40 50 60 70

0-12th

12-24th

24-36th

36-48th

48-60th thá

3 Nồng độ IGF-I và tình trạng dinh dưỡng

Bảng 3: Nồng độ IGF-I (ng/mL) theo các chỉ số dinh dưỡng

Thể suy dinh dưỡng Tình trạng dinh dưỡng

Cân/tuổi Cao/tuổi Cân/cao IGF-I/trẻ không SDD 48,0 ± 26,5 [387] 47,9 ± 26,6 [421] 45,9 ± 25,2 [592] IGF-I/ trẻ SDD 40,7 ± 22,3 [255] 39,5 ± 21,3 [221] 35,7 ± 22,2 [50]

P (t- test) 0,0003 <0,0001 0,0057

Số liệu được biểu thị bằng X ±SD; số mẫu được đặt trong []

Bảng 3 cho thấy nồng độ IGF-I ở trẻ SDD (cho cả 3 thể: thiếu cân, thiếu cao, thiếu cả cân và cao), đều thấp hơn có ý nghĩa so với trẻ không bị SDD

4 Trị số qui chiếu IGF-I cho trẻ không bị SDD:

Bảng 4 trình bày nồng độ IGF-I ở những trẻ không bị SDD tính theo nhóm tuổi, nam và nữ Số trẻ/ nhóm/giới đều đạt so với tính toán ban đầu (30 trẻ/nhóm), trừ nhóm 0-12 tháng chỉ có 26 trẻ nam

Trang 5

Bảng 4: Nồng độ IGF-I (ng/mL) ở trẻ không bị SDD, theo tuổi, giới

Nhóm tuổi Giới Số trẻ Mean ± SD CI,95%mean 0-<12 tháng Nam 26 29,4±19,3 21,6-37,2

Nữ 31 31,1±17,2 24,7-37,4

12-<24 tháng Nam 35 35,2±18,7 28,8-41,6

Nữ 41 39,7±17,4 34,2-45,2

24-<36 tháng Nam 43 42,6±24,6 36,8-48,4

Nữ 39 50,2±24,5 44,6-55,8

36-<48 tháng Nam 41 49,7±17,4 44,2-55,2

Nữ 38 65,1±25,5 56,7-73,5

48-<60 tháng Nam 36 62,1±30,1 51,9-72,3

Nữ 36 70,9±27,9 61,5-80,3

IV Bàn luận

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi được thực

hiện lần đầu tiên nhằm đánh giá nồng độ IGF-I,

và một số yếu tố liên quan, ở em Việt Nam lứa

tuổi tiền học đường Mẫu đã được chọn với số

lượng đại diện thống kê cho mỗi nhóm tuổi (12

tháng/nhóm) Kỹ thuật phân tích được thực hiện

bằng phương pháp hiện đại, hoàn toàn tự

động, tại labo đạt tiêu chuẩn quốc tế và đã có

nhiều bài báo được xuất bản trên các tạp chí

quốc tế trong lĩnh vực này [3,4,5], nên kết quả

đưa ra đảm bảo tính khoa học

Kết quả chỉ ra rằng nồng độ IGF-I tăng dần

theo tuổi, trong một độ tuổi nồng độ IGF-I của

trẻ nữ có xu hướng cao hơn trẻ nam, sự khác

biệt càng rõ rệt khi tuổi càng lớn Khi so sánh

với nghiên cứu của Juul et al 1994 [2], thực

hiện tại Copenhagen (Hà Lan) trên cùng nhóm

tuổi, cũng cho thấy nồng độ IGF-I ở trẻ nữ cao

hơn ở trẻ nam, và tăng dần theo nhóm tuổi; tuy

nhiên nồng độ tuyệt đối IGF-I lại cao hơn (ví

dụ, 0-12 tháng: 76 (26-153) ng/mL, 48-60

tháng: 126 (40-260) ng/mL) so với trong nghiên

cứu của chúng tôi Sự khác biệt có thể là do

tình trạng dinh dưỡng của trẻ, và yếu tố di

truyền khác nhau giữa 2 nghiên cứu Sự khác

biệt về nồng độ IGF-I giữa hai giới cũng đã

được quan sát thấy, chúng có liên quan với hóc

môn giới tính, đặc biệt là giai đoạn tiền dậy thì

[2]

Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy trẻ SDD có nồng độ IGF-I thấp hơn trẻ bình thường Kết quả này phù hợp với một số nghiên cứu khác [6,7,8] trên thế giới, cũng như một nghiên cứu trước đây ở trẻ em Việt Nam bị SDD [4], rằng nồng độ IGF-I hạ thấp có ý nghĩa ở trẻ bị SDD so với trẻ bình thường Về cơ chế của mối liên quan này đã được chứng minh như sau: thiếu dinh dưỡng do thiếu năng lượng, protein, hoặc thiếu kẽm đều dẫn đến giảm quá trình sinh tổng hợp IGF-I từ gan, giảm nồng độ IGF-I lưu thông trong máu, dẫn tới làm chậm các quá trình đồng hoá, chậm biệt hoá xương và phát triển chiều cao, cân nặng [4,5,8]

Như vậy, một trị số qui chiếu bình thường IGF-I phải tương ứng cho lứa tuổi, cho trẻ nam

và cho trẻ nữ, loại trừ hoặc hiệu chỉnh trẻ bị SDD Số liệu của bảng 4 về IGF-I sau khi đã loại trừ những trẻ SDD cho thấy, nồng độ IGF-I

có xu hướng cao hơn so với số liệu của bảng 2, vẫn tăng dần theo tuổi, trẻ nữ cao hơn trẻ nam Tuy nhiên để trả lời câu hỏi với nồng độ nào (ngưỡng, cut-off) được coi là thấp hoặc cao bệnh lý thì cần phải phối hợp với các nhà lâm sàng, tiến hành trên những nhóm bệnh nhân khác nhau Việc áp dụng các số liệu của nước ngoài có thể gây sai số do yếu tố giống nòi, di truyền, hoặc tình trạng dinh dưỡng khác nhau gây nên

Trang 6

V KếT LUậN

1 Nồng độ IGF-I ở trẻ em nông thôn Việt

Nam, lứa tuổi tiền học đường (0-<60 tháng

tuổi), tăng dần theo mỗi nhóm tuổi, IGF-I ở trẻ

nữ cao hơn trẻ nam cùng lứa tuổi

2 Nồng độ IGF-I giảm thấp có ý nghĩa ở trẻ

bị SDD ở cả 3 thể: cân nặng/tuổi (40,7±

22,3ng/mL), chiều cao/tuổi (39,5±21,3ng/mL)

và cân nặng/chiều cao (35,7± 22,2ng/mL) so

với trẻ bình thường là 46-48ng/mL

3 Trị số IGF-I ở những trẻ khỏe mạnh

(bảng 4), theo nhóm tuổi, giới (có cân nặng,

chiều cao bình thường so với quần thể tham

khảo NCHS), có thể sử dụng như trị số qui

chiếu để chẩn đoán, theo dõi điều trị một số

vấn đề rối loạn tăng trưởng ở trẻ em

Tài liệu tham khảo

1 Cassio A, Cappelli M, Cacciari E, et al

1986 Somatomedin –C levels related to

gestational age, birth weighr and day of life

Eur J Pediatr 145: 187-189

2 Juul A, Bang P, Hertel NT et al (1994)

Serum insulin-like growth factor-I in 1030

healthly children aldolescent, and adults:

relation to age, sex, stage of puberty, testicular

size, and body mass index J Clin Endocrinol

Metab 78: 744-752

3 Ninh NX, Maiter D, Lause P, Chrzanowska

B, Underwood LE, Ketelslegers JM, Thissen JP

(1998) Continuous administration of growth

hormone (GH) does not prevent the decrease of

IGF-I gene expressionin zinc-deprived rats

despite normalization of liver GH binding

Growth Horm & IGF Res 8: 465-472

4 Ninh NX, Thissen JP, Collette et al 1996 Zinc supplementation increases growth and circulating insulin-like growth factor –I (IGF-I) in Vietnamese growth-retarded children Am J Clin Nutr 63: 514-519

5 Ninh NX, Thissen JP, Maiter D, Adam E, Mulumba N and Ketelslegers JM (1995) Reduced liver insulin-like growth factor-I gene expression in young zinc-deprived rats is associated with a decrease in liver growth hormone (GH) receptors and serum GH-binding protein J Endocrinol 144: 449-456

6 Oster MH, Levin N, Fielder PJ, et al 1996 Developmental difference in the IGF-I system response to severe and chronic calorie malnutriton Am J Physiol 270 (Endocrinol Metab 33): E646-E653

7 Robinson H & Picou D (1997) A comparison of fasting plasma insulin and growth hormone concentration in marasmic, kwashiokor, marasmic-kwashiokor and underweight children Pediat Res 11: 637-640

8 Rudman D, Mofftitt SD, Fernhoff PM et al (1981) The relation between growth velocity and serum somatomedin C concentration J Clin Endocrinol Metab 52: 622-627

9 Shalet SM, Toogood A, Rahim A, Brennan BMD 1998 The diagnosis of grwoth hormone deficiency in children and adults Endocr Rev

19 (2): 203-223

Summary

Serum “insulin-like growth factor I/IGF-I”

concentrations in Vietnamese pre-school children

The study was carried out in 642 pre-school children in order to determine the reference values

of serum IGF-I, one very important hormone regulating growth, and their relationship factors The results showed that: 1) serum IGF-I concentrations in children from 0-60months of age proportional increased by age; higher in female than in male children 2) Serum IGF-I significantly reduced in all kinds of malnourished children: weight for age (40.7± 22.3ng/mL), height for age (39.5± 21.3ng/mL) and weight for height (35.7± 22.2ng/mL) compared with 46-48ng/mL in normal children 3) The IGF-I concentrations in healthy children (normal in weight and in height compared with NCHS reference) should be used as reference values for diagnostic, monitoring or treatment the abnormal growth children

Ngày đăng: 25/03/2014, 03:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Nồng độ IGF-I theo tuổi và giới - Nồng độ Hóc Môn "Insulin - Like Growth Factor - I / IGF - I" huyết thanh ở trẻ em Việt Nam - lứa tuổi tiền học đường pot
Bảng 2 Nồng độ IGF-I theo tuổi và giới (Trang 3)
Bảng 1: Nồng độ IGF-I theo nhóm tuổi - Nồng độ Hóc Môn "Insulin - Like Growth Factor - I / IGF - I" huyết thanh ở trẻ em Việt Nam - lứa tuổi tiền học đường pot
Bảng 1 Nồng độ IGF-I theo nhóm tuổi (Trang 3)
Hình 1: Tương quan giữa tuổi và nồng độ - Nồng độ Hóc Môn "Insulin - Like Growth Factor - I / IGF - I" huyết thanh ở trẻ em Việt Nam - lứa tuổi tiền học đường pot
Hình 1 Tương quan giữa tuổi và nồng độ (Trang 3)
Bảng 1 cho thấy nồng độ IGF-I ở trẻ nữ có - Nồng độ Hóc Môn "Insulin - Like Growth Factor - I / IGF - I" huyết thanh ở trẻ em Việt Nam - lứa tuổi tiền học đường pot
Bảng 1 cho thấy nồng độ IGF-I ở trẻ nữ có (Trang 4)
Bảng 4: Nồng độ  IGF-I (ng/mL) ở trẻ không bị SDD, theo tuổi, giới - Nồng độ Hóc Môn "Insulin - Like Growth Factor - I / IGF - I" huyết thanh ở trẻ em Việt Nam - lứa tuổi tiền học đường pot
Bảng 4 Nồng độ IGF-I (ng/mL) ở trẻ không bị SDD, theo tuổi, giới (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w