Các khối u buồng trứng ác tính thường có kích thước lớn hơn 9cm và chủ yếu ung thư biểu mô 65,1% trong đó ung thư biểu mô dạng nội mạc và biểu mô thanh dịch chiếm ưu thế.. Đặt vấn đề U b
Trang 1Tìm hiểu mối liên quan giữa tuổi bệnh nhân, kích thước u buồng trứng với khả năng ác tính
Lê Quang Vinh 1 , Đinh Xuân Tửu 1 , Lê Đình Hoè 2
1 Bệnh viện Phụ sản trung ương
2 Trường Đại học Y Hà Nội
Từ 10-2000 đến 6-2000, chúng tôi hồi cứu 864 trường hợp u buồng trứng đã được phẫu thuật tại Viện BVBMTSS, cho thấy 707 (84,8%) trường hợp u lành tính, 139 (16,0%) trường hợp ung thư và 18 (2,0%) trường hợp u buồng trứng ác tính giới hạn Ung thư buồng trứng gặp chủ yếu ở bệnh nhân dưới
20 tuổi và trên 45 tuổi Các khối u buồng trứng ác tính thường có kích thước lớn hơn 9cm và chủ yếu ung thư biểu mô (65,1%) trong đó ung thư biểu mô dạng nội mạc và biểu mô thanh dịch chiếm ưu thế
Kết luận:
- Ung thư buồng trứng thường gặp ở bệnh nhân dưới 20 tuổi và trên 45 tuổi
- Các khối u có đường kính càng lớn thì khả năng ác tính càng cao
- Ung thư biểu mô buồng trứng chiếm tỷ lệ cao nhất trong các khối u buồng trứng ác tính
i Đặt vấn đề
U buồng trứng là một trong những loại u
thường gặp trong các khối u hệ sinh dục nữ
và khó tiên lượng nhất vì tính chất phức tạp
của nó Bên cạnh những khối u buồng trứng
cơ năng chúng ta còn gặp những khối u
buồng trứng lành tính, khối u buồng trứng ác
tính giới hạn, ung thư buồng trứng nguyên
phát và thứ phát Trước khi phẫu thuật, các
thầy thuốc phụ khoa thường sơ bộ tiên lượng
các khối u buồng trứng dựa vào kích thước và
độ tuổi của bệnh nhân [3] Để tìm hiểu mối
liên quan giữa tuổi bệnh nhân và kích thước
khối u với mức độ lành tính hay ác tính của
các khối u buồng trứng, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu hồi cứu trên các trường hợp u
buồng trứng đã được chẩn đoán và điều trị tại
Viện Bảo vệ Bà mẹ trẻ sơ sinh (BVBMTSS) từ
10-2000 đến 6-2002
Mục tiêu nghiên cứu:
1- Xác định tỷ lệ các loại u buồng trứng
2- Bước đầu tìm hiểu mối liên quan giữa
tuổi bệnh nhân, kích thước u với khả năng ác
tính
ii Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi hồi cứu 864 trường hợp u buồng trứng đã được phẫu thuật tại Viện BVBMTSS
từ 10-2000 đến 6-2002 dựa vào hồ sơ lưu trữ tại khoa Giải phẫu bệnh Những hồ sơ có đầy
đủ các tiêu chuẩn sau đây được thu nhận vào nghiên cứu:
- Có kết quả giải phẩu bệnh bao gồm chẩn
đoán đại thể và chẩn đoán vi thể theo phân loại mô học u buồng trứng của Tổ chức Y tế thế giới (1996)
- Tuổi bệnh nhân
- Kích thước khối u
iii Kết quả
Trong số 864 trường hợp u buồng trứng đã
được phẫu thuật có 707 trường hợp u lành tính, chiếm 84,8%, 139 trường hợp ung thư, chiếm 16,0% và 18 trường hợp u ác tính giới hạn, chiếm 2,0%
Phân bố theo tuổi của những bệnh nhân trong nghiên cứu như sau:
Trang 2Bảng 1: Phân bố các khối u buồng trứng theo tuổi
Khối u buồng trứng
Tuổi (năm)
Lành tính
Số ca (%)
ác tính
Số ca (%)
ác tính giới hạn
Số ca (%)
Bảng 1 cho thấy: Độ tuổi có tỷ lệ ung thư cao là trên 45 tuổi và dưới 20 tuổi Các khối u lành
và ác tính giới hạn thường gặp ở độ tuổi 20- 45 tuổi
Phân bố các khối u buồng trứng theo kích thước khối u của bệnh nhân trong nghiên cứu như sau:
Bảng 2: Phân bố các khối u buồng trứng theo kích thước khối u
Khối u buồng trứng
Kích thước (cm)
Lành tính
Số ca (%)
ác tính
Số ca (%)
ác tính giới hạn
Số ca (%)
Bảng 2 cho thấy các trường hợp ung thư
buồng trứng thường có kích thước lớn hơn 9
cm, trong khi đó các khối u lành tính có đường
kính u thường nhỏ hơn 9 cm
Sự phân bố của các khối u biểu mô ác tính
giới hạn gặp trong nghiên cứu như sau:
Bảng 3: Tỷ lệ phân bố của các u biểu
mô ác tính giới hạn
U biểu mô thanh dịch
U biểu mô chế nhầy
U biểu mô dạng nội mạc
4 (22,2)
12 (66,7)
2 (11,1) Chúng tôi nhận thấy: Trong các khối u
biểu mô ác tính giới hạn thường gặp nhất là u
biểu mô nhầy ác (66,6%)
Sự phân bố khối u buồng trứng ác tính gặp
trong nghiên cứu như sau:
Bảng 4: Tỷ lệ giữa các khối u buồng
trứng ác tính
U quái Biểu mô thanh dịch Biểu mô chế nhầy Biểu mô dạng nội mạc Biểu mô tế bào sáng Brenner
Không biệt hóa
Tế bào mầm Biểu mô bào thai
Tế bào vỏ - hạt
Tế bào Sertoli - Leydig
U túi nội bì
Di căn
17 (12,2)
23 (16,5)
19 (13,6)
24 (17,2)
6 (4,3)
4 (2,8)
15 (10,7)
6 (4,3)
3 (2,1)
10 (7,1)
3 (2,1)
4 (2,8)
5 (3,5) Bảng trên cho thấy trong các khối u ác tính của buồng trứng thì ung thư biểu mô buồng trứng có tỷ lệ cao nhất 65,1%, đặc biệt là ung thư biểu mô thanh dịch (16,5%) và ung thư biểu mô dạng nội mạc (17,2%)
Trang 3iv Bàn luận
U buồng trứng có thể gặp ở mọi lứa tuổi,
trong nghiên cứu của chúng tôi bệnh nhân
nhỏ nhất là 9 tuổi (1 trường hợp) và có 6 bệnh
nhân trên 70 tuổi Theo Yansick, ung thư
buồng trứng thường gặp ở bệnh nhân dưới 20
tuổi và trên 45 tuổi [6], một số tác giả cũng
nhận thấy: các khối u buồng trứng ác tính chủ
yếu là ung thư biểu mô [5] Kết quả nghiên
cứu của chúng tôi cho thấy ung thư biểu mô
thanh dịch và dạng nội mạc của buồng trứng
là loại phổ biến nhất trong các u buồng trứng
ác tính điều này phù hợp với nhận xét của của
một số các tác giả khác [4] Các khối u ác tính
có nguồn gốc có tế bào mầm hoặc bào thai
thường xảy ra ở bệnh nhân dưới 25 tuổi
Tỷ lệ ác tính của u buồng trứng tăng theo
kích thước từ 7,4% ở u có kích thước < 9cm tới
27,6% kích thước từ 9-20m và 36,3% kích
thước u >20cm Vì vậy, kích thước của khối u
buồng trứng là yếu tố cần được quan tâm để
lựa chọn phương pháp phẫu thuật thích hợp
(mổ mở hoặc mổ nội soi) Những khối u có
kích thước lớn hơn 9cm thì khả năng ác tính
tăng cao Đối với u có kích thước >9cm nên
chọn phương pháp mổ mở để có thể đánh giá
bằng mắt thường và sử dụng phương pháp cắt
lạnh chẩn đoán nhanh giúp cho phẫu thuật
viên quyết định cách thức phẫu thuật thích
hợp ngay trong phẫu thuật [1,2]
v Kết luận
Ung thư buồng trứng thường thấy ở những
bệnh nhân trên 45 tuổi và dưới 20 tuổi, trong
khi các khối u buồng trứng lành tính chủ yếu gặp ở những bệnh nhân từ 20- 45 tuổi
Hầu hết các khối u lành tính có kích thước nhỏ hơn 9 cm và tỷ lệ ung thư tăng tỷ lệ thuận với kích thước u, khối u càng lớn thì khả năng
ác tính càng cao
Tài liệu tham khảo 1- Nguyễn Thị Ngọc Phượng, Huỳnh Thị Thu Thuỷ: chẩn đoán và điều trị khối u buồng trứng tại bệnh viện Phụ sản Từ Dũ 2001 Nội san sản Phụ khoa 12/7/2002, 73-83
2- Tạ Thị Thanh Thủy, Nguyễn Như Ngọc,
Đỗ Danh Toàn: chẩn đoán tiền phẫu u nang buồng trứng: mối tương quan giữa phân loại theo siêu âm và giải phẫu bệnh lý Nội san sản Phụ khoa 12/7/2002, 84
3- Granberg S, Wickland M, Jansson I Macroscopic characterization of ovarian tumors and the relation to histological diagnosis: Criteria to be used for ultrasuond evacuation Gynecol Oncol 1989 Nov; 35 (2): 139-44
4- Jacob IJ Oram DH: Strategies for improving the specificity of screening for cancer with tumor associated antigen CA125, CA15-3 and TAG 72-3 Obstet Gynecol 5- N III Consensus Conference: Ovarian cancer Screening, treatment and follow up JAMA 1995: 273 481
6- Yansick RiesGL Yates ZW Ovarian can cer in the elderly: An analysis of surveillance, epidemiologyand end program data Am J Obstet Gynecol, 1986, 154; 639 Summary
Relationship between age of patients and size of ovarian tumors with the potential malignancy of the tumor
A retrospective study was conducted to find relationship between age of patients and size of ovarian tumors with the potential malignancy of the tumor 864 patients with ovarian tumors were done surgery at the Institute for Protection of Mother and Newborn from October 2000 to June 2002
707 (81,8%) of them were benign tumors, 139 (16,1%) of them were malignant tumors and 18 (2,1%)
of them were borderline malignant tumors Almost of the malignant tumors occurred at age of patients under 20 years and above 45 years old, nearly all (65,1%) ovarian cancers were epithelial type, in which serous and endometrioid adenocarcinoma were the most commonly
Conclusion: Age of patients and size of tumors related to the potential malignancy of ovarian
tumors