nghiên cứu tác dụng bảo vệ gan của nấm Linh chi Việt Nam Ganodermalucidum trên chuột gây suy gan thực nghiệm Nguyễn Thị Mai Anh, Đào Văn Phan Bộ môn Dược lý - Trường Đại học Y Hà Nội
Trang 1nghiên cứu tác dụng bảo vệ gan của nấm Linh chi Việt Nam (Ganodermalucidum) trên chuột gây suy gan
thực nghiệm
Nguyễn Thị Mai Anh, Đào Văn Phan
Bộ môn Dược lý - Trường Đại học Y Hà Nội
Trên chuột cống trắng, các liều cao của paracetamol (PAR) (uống 2g/kg) và carbon tetraclorid (CCL4) (uống 1,4 ml/ kg) đã làm tăng rất mạnh nồng độ transminase AST và ALT huyết thanh, làm giảm khả năng tổng hợp cholesterol và protein toàn phần của gan Trên mô bệnh học, gan bị thoái hóa hạt, thoái hóa mỡ và xuất hiện các ổ hoại tử
Cao lỏng nấm linh chi (NLC) với liều uống 4g/ kg đã làm các thông số sinh hóa trên và các tổn thương mô bệnh học trở về gần bình thường Kết quả tương tự với liều uống 25mg/ kg Silymarin
I Đặt vấn đề
Do đảm nhận nhiều chức phận chuyển hoá
và là cửa ngõ của các chất thâm nhập vào cơ
thể từ bộ máy tiêu hoá nên gan là một cơ quan
dễ bị tác động nhất của các yếu tố độc hại
Theo y học cổ truyền, nấm linh chi (NLC) -
Ganoderma lucidum (Leyss ex.Fr.) Krst, thuộc
họ Nấm gỗ Ganodermataceae - có tác dụng
bảo vệ gan chống viêm gan cấp và mạn [1]
Tuy nhiên, NLC Việt Nam hầu như chưa được
đánh giá Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài này nhằm tìm hiểu tác dụng bảo vệ
gan của NLC Việt Nam trên chuột cống trắng
đã được gây suy gan thực nghiệm bằng
paracetamol (PAR) và carbon tetraclorid
(CCL4) thông qua một số chỉ tiêu sinh hóa và
mô bệnh học của gan
II Vật liệu - đối tượng và phương
pháp nghiên cứu
1 Vật liệu:
1.1 Thuốc nghiên cứu:
Nấm Linh chi Việt Nam sau khi thu hoạch
được phơi sấy khô để cả cuống và mũ nấm
Trong nghiên cứu được dùng dưới dạng cao
lỏng có dung môi là nước, cô đặc đến tỷ lệ 1: 2
(2ml cao lỏng chứa 1g nấm Linh chi)
1.2 Hoá chất, trang thiết bị
- Dung dịch CCl4, bột carboxy methyl celulose (CMC), bột PAR của Xí nghiệp Dược phẩm Trung ương 2), dầu olive
- Legalon 70mg (viên) của hãng Madaus A.G (Silymarin, hoạt chất từ quả cây cúc gai - Silybum mariuanumL- Họ cúc Astaraceae)
- Các loại hoá chất chuẩn để xác định nồng
độ AST, ALT, Cholesterol, Protein của hãng Hospitex diagnostics
- Máy xét nghiệm sinh hoá máu, Screen
master của hãng Hospitex diagnostics
2 Đối tượng
Chuột cống trắng cả hai giống, khoẻ mạnh, Trên mô hình gây suy gan bằng PAR, dùng chuột 8 tuần tuổi (130 ±10g); trên mô hình gây suy gan bằng CCl4, dùng chuột 12 tuần tuổi (180 ± 20g)
Trong suốt thời gian nghiên cứu, chuột được nuôi dưỡng trong cùng một điều kiện, tiêu chuẩn của phòng thí nghiệm của Bộ môn Dược lý
3 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện trên mô hình gây nhiễm độc gan chuột bằng PAR và CCl4 theo phương pháp trích dẫn từ Dhawan [5]
3.1 Nghiên cứu tác dụng bảo vệ gan của cao lỏng NLC ở chuột cống trắng gây nhiễm độc PAR
Trang 2Chuột được chia thành 4 lô, mỗi lô 10 con
Lô 1: uống CMC 0,2g/ kg
Lô 2: uống CMC 0,2g/ kg
Lô 3: uống cao lỏng NLC 4g/ kg
Lô 4: uống Legalon (Silymarin) 25mg/kg
(liều lâm sàng) [2]
Chuột trong tất cả các lô được uống các
thuốc trên hàng ngày, trong 8 ngày liền Vào
ngày thứ 6, chuột lô 2, 3, 4 được gây nhiễm
độc gan bằng uống thêm paracetamol với liều
2g/kg Ngày thứ 8 sau khi uống liều thuốc cuối
cùng 4 giờ, tất cả chuột của 4 lô đều bị giết để
lấy máu làm xét nghiệm chức phận gan, quan
sát đại thể các tạng và kiểm tra vi thể mô bệnh
học gan
3.2 Nghiên cứu tác dụng bảo vệ gan của
CLNLC trên chuột cống trắng gây nhiễm
Chuột được được chia thành 4 lô, mỗi lô 10
con
Lô 1: uống olive - 10ml /kg Lô 2: uống olive - 10ml/ kg Lô 3: uống cao lỏng NLC 4g/ kg Lô 4: uống Legalon (Silymarin) 25mg/ kg Chuột ở tất cả các lô được uống các thuốc tương ứng trong 9 ngày Ngày thứ 6 và thứ 8, tiêm màng bụng cho chuột ở lô 2, 3, 4 CCl4/olive (1:1) 1,4ml/kg ở giờ thứ 24 sau tiêm CCl4 lần 2 thì giết toàn bộ chuột, lấy máu làm xét nghiệm đánh giá chức năng gan, lấy gan quan sát đại thể và làm mô bệnh học để quan
sát cấu trúc vi thể gan
4 Xử lý số liệu: Kết quả nghiên cứu được
xử lý theo phương pháp thống kê
III Kết quả
1 Tác dụng bảo vệ của cao lỏng NLC trên chuột gây nhiễm độc paracetamol
1.1 Trên nồng độ transaminase huyết thanh (bảng 1)
Bảng 1
M ± SD
ALT (UI/L)
M ± SD
Chỉ số
De Ritis
2 CMC + PAR 10 6136,9 ± 2108,6 (a) 204,4 ± 62,9(a) 30,0
3 NLC + PAR 10 298,4 ± 99,9 (b) 56,9 ± 33,6 (b) 5,2
4 Silymarin + PAR 10 233,6 ± 93,2 (b) 38,8 ± 9,3 (b) 6,0
(a): p < 0,01 so với (1); (b): p < 0,001 so với (2)
Khi dùng cao lỏng NLC trước 6 ngày và cả trong thời gian cho uống paracetamol (lô 3) thì cao lỏng NLC có tác dụng ngăn cản đáng kể sự tăng AST và ALT do paracetamol gây ra
1.2 Trên nồng độ protein và cholesterol toàn phần huyết thanh (bảng 2)
Lô Thuốc dùng n Protein toàn phần
(mg/100ml)
Cholesterol toàn phần (mg/ 100ml)
(+) : p> 0,05 so với lô 1
(*) : p < 0,05; (**) : p < 0,01 so với lô 1
Nhận xét: Nồng độ của protein toàn phần ở
các lô chuột đều khác nhau không có ý nghĩa
thống kê so với lô chứng
Nồng độ cholestorol huyết thanh cao hơn có
ý nghĩa thống kê so với lô 2 là lô chuột gây viêm gan đơn thuần, nhưng vẫn thấp hơn lô chứng
1.3 Kết quả giải phẫu bệnh học gan
Trang 3Qua quan sát đại thể và hình ảnh vi thể gan
chuột trong các lô nghiên cứu trên kính hiển vi
quang học được trình bày trong các ảnh dưới đây
1.3.1 Chuột uống CMC và paracetamol
- Đại thể: gan chuột màu đỏ thẫm, xung
huyết mạnh, bờ gan không còn, bề mặt sần sùi
không có độ nhẵn bóng, mật độ chắc, có nhiều
hoại tử, tại đó tổ chức gan mủn
- Vi thể: Mô gan hoại tử ổ nặng chủ yếu ở
quanh các tiểu thuỳ, hoại tử bắc cầu thoái hoá
hạt, một số tiểu thuỳ có hoại tử: ở trung tâm,
vùng hoại tử xung huyết mạnh và chảy máu,
phần nhu mô gan còn lại có nhiều tế bào thoái
hoá mỡ, có hiện tượng nhân đông và nhân tan,
có thâm nhiễm bạch cầu đa nhân (ảnh 1)
Ảnh 1: Hình ảnh cấu trúc gan chuột nhiễm
độc paracetamol (Độ phóng đại 100 lần)
1 Cả vùng hoại tử lớn 2 Thoái hoá hạt
3 Thoái hoá mỡ
1.3.2 Chuột uống cao lỏng NLC và gây viêm gan bằng paracetamol
- Đại thể: gan chuột màu đỏ, xung huyết
nhẹ, bờ gan bình thường, còn một vài ổ tổn thương nhỏ
- Vi thể: Hình ảnh tổn thương thoái hoá tế
bào gan mức độ nhẹ, nhu mô gan gần trở lại
bình thường (ảnh 2)
ảnh 2: Hình ảnh cấu trúc gan chuột cống CLNLC và gây viêm gan bằng paracetamol
(độ phóng đại 200 lần)
Các kết quả trên đã cho thấy cao lỏng NLC hạn chế được các tổn thương giải phẫu bệnh lý
về gan do paracetamol gây ra tương đương với silymarin Tuy nhiên hình ảnh gan chuột trong các lô dùng thuốc điều trị (lô 3 và 4) còn một
số tổn thương nhỏ so với hình ảnh cấu trúc gan chuột trong lô chứng
2 Tác dụng bảo vệ gan của cao lỏng NLC ở chuột nhiễm độc CCl 4
2.1 Trên nồng độ transaminase huyết thanh chuột cống trắng (bảng 3)
2 CCl4/olive 8 313,4 ±47,3 (a) 79,7 ± 14,2 (a) 3,9
3 NLC + CCl4/olive 8 198,0 ± 59,5 (b) 40,8 ± 10,0 (b) 4,9
4 Silymarin + CCl4/olive 8 233,4 ± 51,7 (b) 39,7 ± 14,5 (b) 5,9
(a) : p < 0,001 so với (1)
(b) : p < 0,001 so với (2)
(b) : < 0,01 so với (2)
Nhận xét: Lô chuột tiêm màng bụng CCl4
/dầu olive thì nồng độ transaminase huyết thanh tăng 2,7 lần với AST; 2,9 lần với ALT so với lô uống nước muối sinh lý
Trang 4ở lô chuột gây độc bằng CCl4 /olive có
uống NLC (lô 3) thì nồng độ của transamirase
huyết thanh chỉ tăng 1,7 lần với AST; 1,5 lần
với ALT
ở lô chuột gây độc bằng CCl4/olive uống kèm silymarin thì nồng độ transaminase huyết thanh cũng chỉ tăng 2,0 lần với AST và 1,5 lần với ALT
2.2 Trên nồng độ cholesterol và protein toàn phần huyết thanh (bảng4)
Lô
Thuốc n Cholesterol TP (mg %)
Protein TP
2 Olive + CCl4/olive 8 95,6 ± 7,3 57,0 ± 4,4 < 0,05 so với 1
3 NLC + CCl4/olive 8 108,5 ± 5,8 66,5 ± 4,0 > 0,05 so với 1
4 Silymarin+ CCl4/olive 8 108,2 ± 6,4 67,4 ± 1,4 > 0,05 so với 1
Nhận xét: Các kết quả về nồng độ cholesterol
toàn phần và protein toàn phần huyết thanh ở
bảng 4 cho thấy ở lô gây độc gan bằng CCl4 thì
nồng độ cholesterol và protein toàn phần thấp
hơn 1,2 lần so với lô chứng Còn ở lô chuột gây
độc có uống kèm NLC và Silymarin thì nồng độ
cholesterol và protein toàn phần huyết thanh gần
trở về bình thường
2.3 Kết quả giải phẫu bệnh
2.3.1 Chuột uống olive và tiêm màng
bụng cacbon tetraclorid
- Đại thể: Gan chuột bạc màu hơn, có
những chấm xung huyết, mặt gan không nhẵn,
bờ phù nề, có nhiều tổn tương nhu mô gan
dạng hoại tử, tổ chức gan tại ổ hoại tử mủn
- Vi thể: Nhu mô gan hoại tử ổ, tế bào gan
thoái hoá mỡ diện rộng rải rác có thoái hoá hạt,
tổn thương biến dạng tế bào, tế bào phình to,
màng tế bào có nhiều chỗ phân tán, tổn thương
tới cả nhân tế bào, nhân đông vón lại và bắt
màu kiềm mạnh, màng nhân mất, có nhiều
nhân chia
2.3.2 Chuột uống NLC và gây viêm gan
bằng cacbon tetraclorid
- Đại thể: Gan bạc màu mức độ vừa, mặt gan
không được nhẵn bóng không thấy tổn thương
trên bề mặt gan Thoái hoá mỡ màu đỏ vừa
- Vi thể: tế bào gan tương đối bình thường,
không có tổn thương biến dạng, không có tổn
thương nhân, bào tương của phần lớn tế bào
gan có nhiều hốc mỡ do thoái hoá mức độ vừa
có hiện tượng tăng sinh mô liên kết, xen kẽ tế bào viêm đơn nhân
IV bàn luận
Cơ chế gây tổn thương gan bằng liều cao PAR đã được khẳng định là do chất chuyển hóa trung gian N- acetyl- p- benzoquinoimin (NAPQI) có tác dụng huỷ hoại tế bào gan do
được tạo ra quá nhiều, vượt quá khả năng khử
độc của glutathion, chất chống oxy hóa tự nhiên luôn có sẵn ở gan [6] Còn cơ chế gây tổn thương gan do CCl4 là do chất này bị chuyển hóa ở gan dưới tác dụng của Cyt P450 tạo ra gốc tự do CCl•3 [7] Chúng tôi sử dụng 2 chất này để gây mô hình thực nghiệm trên chuột cống [3] [5]
Trên cả 2 mô hình thực nghiệm của chúng tôi, các tế bào gan đã bị tổn thương rất rõ cả về mặt sinh hóa (hàm lượng transaminase AST và ALT tăng cao; cholesterol và protein toàn phần giảm), cả về tổn thương mô bệnh học
Kết quả nghiên cứu đã cho thấy tác dụng bảo vệ gan của cao lỏng NLC thông qua chỉ số transaminase ALT và AST ở bảng 1, PAR đã làm nồng độ AST tăng tới 54 lần (6136,9 so với 113,8 UI/L) và ALT tăng gấp 7,4 lần (204,4 so với 27,5 UI/ L) Tuy nhiên, trên lô chuột được
điều trị trước bằng cao lỏng NLC 4g/ kg (lô 3 bảng 1) thì AST chỉ còn tăng 2,6 lần và ALT là 2,1 lần so với lô chứng chỉ uống NaCl 0,9% Chỉ số De Ritis là tỉ lệ AST/ ALT bằng 30 ở lô 2
bị gây độc bằng PAR chứng tỏ tổn thương ở mức dưới tế bào rất nặng Nhưng khi được điều trị trước bằng NLC hoặc silymarin thì các chỉ số
Trang 5tương ứng là 5,2 và 6,0, rất gần với chỉ số ở lô
chứng 4,13, điều đó chứng tỏ NLC hồi phục
được cả tổn thương ở mức tế bào và cả tổn
thương ở mức dưới tế bào
Trên chuột gây nhiễm độc bằng CCl4, kết
quả ở bảng 3 cũng cho thấy AST tăng gấp 2,7
lần (313,4 so với 114,5UI/ L) và ALT tăng gấp
2,9 lần Cao lỏng linh chi và cả silymarin chỉ ức
chế được một phần sự tăng này, từ 40 - 50%
Chỉ số De Ritis ở tất cả các lô chỉ thay đổi ít
PAR và CCl4 đều làm giảm khả năng tổng
hợp cholesterol và protein toàn phần của gan
(bảng 2, 4) Dịch chiết NLC đã phục hồi sự
tổng hợp này trở về gần bình thường
Về kết quả mô bệnh học cũng cho thấy dịch
chiết NLC đã hạn chế rất rõ ràng tác dụng gây
tổn thương tế bào gan của PAR (ảnh 1, 2) và
cả của CCl4
Như vậy, dịch chiết NLC đã hầu như có tác
dụng đối lập với cơ chế gây độc của PAR và
CCl4 trên tế bào gan chuột, tuy 2 mô hình này
gây mức độ tổn thương khác nhau và cơ chế
không giống nhau
Silymarin là hoạt chất flavonoid chiết ra từ
quả cây cúc gai đã được sản xuất thành thuốc
thương phẩm dưới tên Legalon để điều trị bệnh
suy gan [2] [4] với cơ chế được coi là có tác
dụng bảo vệ màng tế bào, ức chế quá trình
peroxy hóa lipid, chống oxy hóa và bắt giữ gốc
tự do Trong các mô hình nghiên cứu chúng tôi
đều có một lô chuột dùng silymarin để làm
chuẩn so sánh Kết quả cho thấy, trên mọi
thông số theo dõi, dịch chiết NLC uống 4g/ kg
có tác dụng tương tự silymarin 25mg/ kg Điều
đó gợi ý cho chúng tôi nghĩ rằng cơ chế bảo vệ
gan của NLC có thể rất gần với silymarin, và
rất cần được nghiên cứu sâu thêm
V Kết luận
Trên mô hình chuột cống trắng được gây
suy gan bằng paracetamol (PAR) và carbon
tetraclorid (CCl4), cao lỏng nấm linh chi (NLC)
Việt Nam đã ngăn cản được rõ rệt tác dụng làm
tăng AST, ALT và tác dụng làm giảm tổng hợp
cholesterol, protein toàn phần của cả PAR và
CCl4 Tác dụng bảo vệ gan của NLC còn được thấy rõ trên hình ảnh mô bệnh học của gan Cơ chế tác dụng bảo vệ gan của NLC có thể tương
tự như Silymarin
Tài liệu tham khảo
1 Đỗ Tất Lợi (1999) “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” Nhà xuất bản KH&KT, tr
2 Đào Văn Phan (2000) “ Silymarin (Legalon)-đặc điểm dược lý và các ứng dụng trong lâm sàng” Hội thảo khoa học Legalon và ứng dụng, tr 12-15
3 Lại Thị Vân (2003): Nghiên cứu tác dụng bảo vệ gan và một số tác dụng dược lý liên quan của cây nhó đông (Psychotria morindoides hutch- Rubiaceae) Luận văn thạc
sĩ y học- Trường Đại học Y Hà Nội
4 Bindoli, A., L Cavallinin, N.Siliprandin (1997): Inhibitory action of Silymarin of lipid peroxide formation in Rat liver mitochondria and microsomes Biochem Pharmacol 26, 2405- 9
5 Dhawan B.N (1997), Hepatoprotective activity of natural products axperimental evaluation International workshop on medicinal plants their bioactivity Screening and Evaluation Lucknow, L15
6 Neal, G.E et al (1981), Specific examples
of activation reaction, Toxicologie appl Pharmacol 6.15
7 Slater T F (1984), Free- radial mechanism
in tissue injury J Biochem, 222, 1- 15
Trang 6Summary
Hepatoprotective effect of Vietnamese -
Ganoderma lucidum (Leyss ex.Fr.) on rat with
experimental liver insufficiency
On the rat with experimental liver insufficiency caused by paracetamol and carbone
tetrachloride, the aqueous extract of - Ganoderma lucidum (Leyss ex.Fr.) with the oral dose of 4g/
kg of body weight evidently inhibited the increase of serum AST, ALT and the decrease of serum total cholesterol, total protein This hepatoprotective effect has also been observed in histopathologic microscopic examinations of rat's liver
Basing on these results of experiment, the authors suggest that the mechanism of
hepatoprotective effect of - Ganoderma lucidum (Leyss ex.Fr.) should be similar to that of
Silymarin