Biến số nghiên cứu: Mẫu thu thập thông tin được phát triển nhằm thu thập được các thông tin về : giới, tuổi, nơi ở thời điểm vào bệnh viện, nghề nghiệp, ngày xảy ra hành động tự tử, giờ
Trang 1Một số yếu tố liên quan tới hành vi doạ tự tử tại khoa Chống độc, bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội
Trần Thị Thanh Hương 1 , Guo-Xin Jiang 2 , Danuta Wasserman 2 , Nguyễn Văn Tường 1 , Phạm Thị Minh Đức 1 , Hans Rosling 2
1 Trường Đại học Y Hà Nội
2 Viện Karolinska - Thuỵ Điển
Nghiên cứu hồi cứu trên 511 bệnh nhân doạ tự tử điều trị tại khoa Chống độc, bệnh viện Bạch Mai từ ngày 01/01/1999 đến ngày 30/4/2001 Kết quả cho thấy: 48,7% số bệnh nhân nằm trong độ tuổi từ 15 -
24 tuổi Tỷ suất nữ/nam ở thành thị (2,1:1) cao hơn so với ở nông thôn (1,2:1) với p < 0,01 Doạ tử tử thường gặp ở học sinh - sinh viên (24,7%), những người nội trợ (20,8%) và nông dân (19,8%) Hành vi doạ tự tử thường gặp vào tháng 4 và có sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn (p <0,05) Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hành vi doạ tự tử là do các xung đột trong gia đình Sử dụng thuốc ngủ, thuốc an thần
là cách thường được dùng ở thành thị trong khi thuốc trừ sâu là cách thức gặp nhiều ở nông thôn
I Đặt vấn đề
Hành vi tự tử không chỉ là một vấn đề sức
khoẻ hay vấn đề xã hội mà nó còn liên quan tới
các yếu tố về văn hoá, mối liên quan giữa cá thể
và sự chấp nhận của cộng đồng Hành vi tự tử
được chia thành 2 loại: tự tử và doạ tự tử Hành
vi tự tử là những hành động tự gây hại đến bản
thân và dẫn đến cái chết Hành vi doạ tự tử bao
gồm những hành động tự làm nguy hiểm đến
tính mạng nhưng không dẫn đến cái chết
Marusic và Farmer [2] đã chỉ ra rằng hành vi
doạ tự tử và tự tử là hậu quả của sự tương tác
phức tạp giữa các yếu tố về sinh học (thiếu hụt
serotonin), y học (trầm cảm), tâm lý (mất hy
vọng), xã hội (sự cách ly với xã hội), văn hoá
(mối quan hệ trong gia đình) và các yếu tố về
kinh tế (thất nghiệp)
Theo thống kê của Bộ Y tế, tự tử là một
trong mười nguyên nhân gây tỷ lệ tử vong cao
nhất trong bệnh viện tại Việt Nam [1] Ngoài
các số liệu thống kê tại bệnh viện, không có
nguồn thông tin nào có thể cho biết chính xác tỷ
lệ doạ tự tử tại cộng đồng
Cho tới nay, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu tìm hiểu về các yếu tố liên quan tới hành vi tự
tử, vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm :
Tìm hiểu một số yếu tố liên quan tới hành vi doạ tự tử của các bệnh nhân vào khoa Chống
độc bệnh viện Bạch Mai từ ngày 01/01/1999
đến 30/4/2001
II Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
1 Đối tượng:
Các bệnh nhân có hành vi doạ tự tử vào điều trị tại khoa Chống độc - Bệnh viện Bạch Mai từ ngày 01/01/1999 đến ngày 30/4/2001
2 Phương pháp:
Nghiên cứu hồi cứu dựa vào bệnh án của các trường hợp có hành vi doạ tự tử vào khoa Chống
độc bệnh viện Bạch Mai từ ngày 01/01/1999 - 30/4/2001 Các thông tin trong bệnh án được thu thập dựa trên mẫu thu thập thông tin Chỉ thu thập bệnh án của những bệnh nhân được xác
định chắc chắn có hành vi doạ tự tử
Trang 23 Biến số nghiên cứu:
Mẫu thu thập thông tin được phát triển nhằm
thu thập được các thông tin về : giới, tuổi, nơi ở
thời điểm vào bệnh viện, nghề nghiệp, ngày xảy
ra hành động tự tử, giờ xảy ra hành động tự tử,
phương thức dùng để tự tử Phương thức dùng
để tự tử được phân loại theo Phân loại bệnh
quốc tế lần thứ 10 (ICD-10)
4 Xử lý số liệu
Các số liệu được phân tích bằng phần mềm
EPI INFO Sử dụng test χ2 để so sánh giữa 2 tỷ
lệ, Fisher’exact test khi cỡ mẫu nhỏ, và sử dụng test t để so sánh cho các biến liên tục
III Kết quả
Có 511 bệnh nhân tương ứng với 515 lần có hành vi doạ tự tử (có 2 bệnh nhân doạ tự tử 2 lần
và 1 bệnh nhân doạ tự tử 3 lần)
1 Phân bố theo tuổi, giới và khu vực sinh sống:
0 20 40 60 80 100 120 140 160 180
<15 15 - 24 25 - 34 35 - 44 45 - 54 55 - 64 >= 65
Nhom tuoi
Biểu đồ 1 Phân bố các bệnh nhân doạ tự tử theo tuổi và giới
- Tỷ lệ doạ tự tử ở nữ (322 bệnh nhân,
63,0%) cao hơn hẳn so với nam (189, 37,0%)
- Tuổi trung bình của các đối tượng nghiên
cứu là 28,3 ± 12,9
- Tuổi trung bình với nam là 27,6 ± 11,6 và
28,6 ± 11,6 cho nữ giới (p > 0,05)
- Tỷ lệ doạ tự tử cao nhất ở nhóm tuổi từ 15 -
24 (48,7%) và tỷ lệ này giảm dần theo tuổi
(Biểu đồ 1)
- Tỷ lệ nam : nữ ở thành thị (2,1:1) cao hơn ở nông thôn (1,2:1) (p = 0,001)
- Tỷ lệ bệnh nhân sống ở khu vực thành thị chiếm 2/3 tổng số (64,4%) với tuổi trung bình là 27,7± 12,3, trong khi tuổi trung bình của các đối tượng doạ tự tử tại vùng nông thôn là 29,2 ± 13,8 (p = 0,2)
2 Phân bố theo nghề nghiệp
Trang 3Bảng 1: Phân bổ nghề nghiệp các bệnh nhân doạ tự tử theo giới và nơi sống
Nghề nghiệp
Nam (%) Nữ (%) Tổng (%) Nam (%) Nữ (%) Tổng (%) Nội trợ 27 (25,7) 63 (29,6) 90 (28,3) 3 (3,7) 10 (10,7) 13 (7,4) Học sinh và sinh
viên
32 (30,5) 71 (33,3) 113 (32,4) 12 (14,7) 17 (18,2) 29 (16,6)
Bán hàng 4 (3,8) 21 (9,8) 25 (7,9) 1 (1,2) 2 (2,2) 3 (1,7) Trí thức, nghệ sỹ 7 (6,7) 11 (5,2) 18 (5,7) 0 (0,0) 1 (1,0) 1 (0,6) Công nhân 12 (11,4) 4 (1,9) 16 (5,0) 4 (4,8) 3 (3,3) 7 (4,0) Nghỉ hưu 4 (3,8) 14 (6,6) 18 (5,7) 6 (7,2) 4 (4,4) 10 ( 5,7) Nghề thủ công 3 (2,9) 11 (5,2) 14 (4,4) 0 (0,0) 0 (0,0) 0 (0,0) Nhân viên văn
phòng
2 (1,9) 8 (3,7) 10 (3,1) 2 (2,5) 0 (0,0) 2 (1,1)
Bộ đội, công an 1 (0,9) 1 (0,5) 2 (0,6) 5 (6,1) 0 (0,0) 5 (2,9) Nông dân 0 (0,0) 0 (0,0) 0 (0,0) 47 (57,3) 51 (54,8) 98 (56,0) Khác 13 (12,4) 9 (4,2) 22 (6,9) 2 (2,5) 5 (5,4) 7 (4,0) Tổng 105
(100,0)
213 (100,0) 318
(100,0)
82 (100,0)
93 (100,0)
175 (100,0)
Hơn một nửa số bệnh nhân sống ở thành thị là học sinh, sinh viên và nội trợ trong khi ở nông thôn thì chủ yếu các bệnh nhân là nông dân (56%) (Bảng 1)
3 Phân bố theo tháng trong năm
0 10 20 30 40 50
imo t
Thang
* 417 sự kiện, không tính các trường hợp của 4 tháng năm 2001
Biểu đồ 2 Sự phân bổ theo tháng của các sự kiện doạ tự tử*
Hành vi doạ tự tử xuất hiện nhiều nhất vào tháng 4 và ít nhất vào tháng 1 (Biểu đồ 2) Trong tháng 4, có sự khác biệt giữa tỷ lệ doạ tự tử ở thành thị (13,1%) và nông thôn (6,4%) (p < 0,05)
Trang 44 Phân bố theo giờ trong ngày
0 5 10 15 20 25
.59
.59
.59
.59
.59
59
.59
.59
6.59
18.59
20.59
Gio
Biểu đồ 3 Phân bổ của hành vi doạ tự tử theo các giờ trong ngày
Hành vi doạ tự tử thường xảy ra vào khoảng thời gian từ 9 giờ đến trước nửa đêm và tương đối giống nhau giữa nam và nữ (Biểu đồ 3)
Trong khoảng thời gian này, trung bình cứ 1 giờ có 22,5 hành vi doạ tự tử, còn với khoảng thời gian còn lại trong ngày trung bình cứ 1 giờ có 6,4 hành vi doạ tự tử ( p < 0,01)
5 Phân bố theo nguyên nhân
Bảng 2: Phân bổ nguyên nhân của hành vi tự tử theo giới và nơi sống
Nguyên nhân
Nam %) Nữ (%) Tổng (%) Nam (%) Nữ (%) Tổng (%) Mâu thuẫn trong gia đình 57
(63,3)
158 (83,2)
215 (70,7)
44 (62,0)
62 (73,8)
106 (68,4) với vợ/chồng, người yêu 14
(15,5)
86 (45,3) 100
(35,7)
18 (25,4)
28 (33,3)
46 (29,7)
(26,7)
42 (22,1) 66 (23,6) 12
(16,9)
14 (16,7)
26 (16,8)
với anh, chị em 9 (10,0) 4 (2,1) 13 (4,6) 2 (2,8) 6 (7,1) 8 (5,2) với con cái 1 (1,1) 6 (3,2) 7 (2,5) 2 (2,8) 3 (3,6) 5 (3,2) với các thành viên khác
trong gia đình
9 (10,0) 20 (10,5) 29 (10,3) 10
(14,1)
11 (13,1)
21 (13,5)
Do bệnh tật (tâm thần và
các bệnh khác)
10 (11,1)
16 (8,4) 26 (9,3) 15
(21,1)
13 (15,5)
28 (18,1)
Các vấn đề về kinh tế 5 (5,6) 4 (2,1) 9 (3,2) 3 (4,2) 0 (0,0) 3 (1,9) Nghiện ma tuý 6 (6,7) 0 (0,0) 6 (2,2) 0 (0,0) 0 (0,0) 0 (0,0)
Có vấn đề trong học tập 2 (2,2) 4 (2,1) 6 (2,2) 0 (0,0) 2 (2,4) 2 (1,3) Nghiện rượu 2 (2,2) 0 (0,0) 2 (0,7) 2 (2,8) 0 (0,0) 2 (1,3) Khác 8 (8,9) 8 (4,2) 16 (5,7) 7 (9,9) 7 (8,3) 14 (9,0) Tổng 90
(100,0)
190 (100,0)
280 (100,0)
71 (100,0)
84 (100,0)
155 (100,0)
Trang 5Bảng 2 cho thấy trong số 435 trường hợp doạ tự tử xác định được nguyên nhân dựa vào bệnh án, hầu hết là do các mâu thuẫn trong gia đình (73,8%) và thường gặp là mâu thuẫn với vợ/chồng, người yêu, bố mẹ
Mâu thuẫn trong gia đình là nguyên nhân gặp chủ yếu ở nữ giới (80,3%), ít hơn ở nam giới (62,7%) (p < 0,001)
Tỷ lệ bệnh nhân doạ tự tử do mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác ở nông thôn gấp hai lần so với thành thị (p < 0,01)
6 Phân bố theo cách doạ tự tử
Bảng 3: Sự phân bố cách doạ tự tử theo giới và nơi sống (phân loại ICD 10)
X 60 53 (49,5) 131 (58,5) 184 (55,6) 13 (15,5) 30 (30,6) 43 (23,6)
X 61 22 (20,6) 49 (21,9) 71 (21,4) 10 (11,9) 13 (13,3) 23 (12,6)
X 62 1 (0,9) 0 (0,0) 1 (0,3) 0 (0,0) 0 (0,0) 0 (0,0)
X 63 3 (2,8) 1 (0,4) 4 (1,2) 1 (1,2) 0 (0,0) 1 (0,5)
X 64 3 (2,8) 11 (4,9) 14 (4,2) 1 (1,2) 2 (2,0) 3 (1,6)
X 65 0 (0,0) 3 (1,3) 3 (0,9) 1 (1,2) 1 (1,0) 2 (1,1)
X 66 0 (0,0) 1 (0,4) 1 (0,3) 0 (0,0) 0 (0,0) 0 (0,0)
X 68 20 (18,7) 26 (11,6) 46 (13,9) 54 (64,3) 50 (51,0) 104 (57,1)
X 70 2 (1,9) 1 (0,4) 3 (0,9) 4 (4,8) 0 (0,0) 4 (2,2)
X 80 1 (0,9) 0 (0,0) 1 (0,3) 0 (0,0) 1 (1,0) 1 (0,5)
X 83 1 (0,9) 0 (0,0) 1 (0,3) 0 (0,0) 0 (0,0) 0 (0,0)
X 84 1 (0,9) 1 (0,4) 2 (0,6) 0 (0,0) 1 (1,0) 1 (0,5) Tổng 107 (100,0) 224 (100,0) 331 (100,0) 84 (100,0) 98 (100,0) 182 (100,0)
Bảng 3 cho thấy hơn một nửa số trường hợp
doạ tự tử (77,0%) xảy ra ở thành thị là do sử
dụng các thuốc gây ngủ và hạ sốt (X 60) và doạ
tự tử bằng các thuốc an thần, barbituric (X 61)
trong khi đó 57,1% các trường hợp ở nông thôn
được xác định là doạ tự tử bằng thuốc trừ sâu
hoặc các hoá chất khác dùng trong nông nghiệp
(X68)
IV Bàn luận
1 Một số vấn đề về phương pháp
Các kết quả nghiên cứu này không bao gồm
tất cả các trường hợp doạ tự tử tại cộng đồng vì
thông tin thu được chỉ từ các bệnh án đã có sẵn của 1 bệnh viện, vì vậy vẫn còn có những trường hợp doạ tự tử tại cộng đồng nhưng bản thân họ không bao giờ nghĩ tới việc đến bệnh viện để điều trị [7] Hơn nữa, các bệnh nhân doạ
tự tử có thể đến điều trị tại các bệnh viện khác ở
Hà Nội Hành vi tự tử không chỉ có thể quan sát
được ở bệnh viện mà còn có thể thấy được ở một số nơi khác như trong nhà tù, các cơ sở y tế tư nhân Trong một số trường hợp, rất khó xác
định đó là hành vi doạ tự tử hay ngộ độc, đặc biệt là trong các trường hợp mà bệnh nhân sử dụng các thuốc thường dùng như paracetamol
Trang 6Mặt khác, bệnh nhân và gia đình của họ không
bao giờ muốn nói cho các bác sỹ về nguyên
nhân của hành động này Mặc dù nghiên cứu
này không thể tính được tỷ lệ hiện mắc cũng
như tỷ lệ mới mắc của hành vi doạ tự tử tại cộng
đồng do chỉ dựa trên các số liệu tại 1 bệnh viện
nhưng đây cũng là bước đầu tìm hiểu về một số
đặc điểm của hành vi doạ tự tử tại Việt Nam để
có thể đi tiếp các phân tích sâu hơn
2 Các đặc điểm của hành vi doạ tự tử
Hành vi doạ tự tử thường xảy ra ở người trẻ
tuổi và ở nữ giới Các bệnh nhân chủ yếu thuộc
nhóm tuổi 15-34 tuổi Đặc điểm này cũng tương
tự với các quốc gia khác trên thế giới [2]
Một số lượng lớn bệnh nhân đã sử dụng
thuốc trừ sâu hay các hóa chất trong nông
nghiệp Tình trạng này liên quan với việc kiểm
soát các chất độc này chưa được chặt chẽ
Không thấy trường hợp nào sử dụng các loại
súng cho việc doạ tự tử vì ở Việt Nam việc kiểm
soát súng rất chặt chẽ, các loại súng chỉ được
dùng cho cảnh sát và quân đội
Số bệnh nhân doạ tự tử do nghiện ruợu hay
ma tuý không nhiều và chủ yếu tập trung ở nam
giới Brian Ho Kong ở Singapore và Adityanjee
ở ấn Độ cũng có những kết quả tương tự ở các
quốc gia châu á [3] Ngược lại, nghiện rượu và
ma tuý lại có mối tương quan rất chặt chẽ ở các
quốc gia châu Âu với cả hai giới nam và nữ [9]
Sự khác biệt này có thể do sự khác biệt về tập
quán văn hoá giữa các châu lục
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự xung đột
giữa vợ/chồng, người yêu hay các thành viên
khác trong gia đình trở thành nguyên nhân
chính dẫn tới hành vi doạ tự tử trong khi các tổn
thương về tâm thần và nhân cách chỉ chiếm một
số lượng nhỏ Kết quả này cũng tương tự như
các nghiên cứu ở các quốc gia châu á [3,8] Tuy
nhiên, các tổn thương tâm thần và nhân cách lại
là những nguyên nhân chính dẫn đến hành vi
doạ tự tử tại các nước châu Âu [9]
Mối tương quan giữa hành vi doạ tự tử và tình trạng đô thị hoá cũng như nền kinh tế thị trường cũng đã được bàn luận trong rất nhiều bài báo Sự phát triển kinh tế tạo nên một khoảng cách rất lớn giữa tầng lớp giàu và nghèo trong xã hội Một số người rơi vào tình trạng mất hy vọng và trầm cảm Brown và Harris [4]
đã liệt kê một loạt các yếu tố xã hội và trầm cảm Dyer và Kreitman [6] đã chỉ ra mối tương quan giữa sự mất hy vọng và trầm cảm với ý
định tự tử rồi đến doạ tự tử Một loạt các nghiên cứu cũng phân tích về mối tương quan giữa tình trạng thất nghiệp và hành vi doạ tự tử [10] Những yếu tố này cũng là những đặc điểm quan trọng dẫn đến hành vi doạ tự tử tại Việt Nam Một số lượng lớn hành vi doạ tự tử xuất hiện vào tháng 4 và tháng 5 trong nghiên cứu này nhưng tỷ lệ này lại rất thấp vào tháng 1 và 2,
đây thường là vào thời điểm Tết âm lịch và cũng
là thời điểm người dân Việt Nam hy vọng mọi
điều tốt lành cho 1 năm mới Một số nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng các ngày lễ, các sự kiện quốc gia cũng có ý nghĩa làm giảm tỷ lệ doạ tự
tử [5] Tuy nhiên trong khuôn khổ nghiên cứu này chúng tôi chưa lý giải được tại sao hành vi doạ tự tử lại xảy ra nhiều nhất vào tháng 4 và 5
V Kết luận Các đặc điểm của hành vi doạ tự tử tại Việt Nam cũng tương tự như các quốc gia khác với các đặc điểm:
Thường gặp ở lứa tuổi trẻ từ 15 - 34 tuổi Thường gặp ở nữ giới nhiều hơn nam giới Nguyên nhân chủ yếu do các mâu thuẫn gia
đình
Sử dụng thuốc ngủ và thuốc an thần được gặp nhiều ở thành thị trong khi sử dụng thuốc trừ sâu là cách thường gặp ở nông thôn
Do hành vi doạ tự tử liên quan tới đặc điểm của từng cá thể về tâm lý, xã hội và văn hoá nên cần có những nghiên cứu sâu hơn về hành vi tự
Trang 7tử để xác định nguyên nhân sâu xa và đưa ra
các biện pháp can thiệp thích hợp
Lời cảm ơn
Nghiên cứu được thực hiện với sự hỗ trợ
kinh phí của quỹ SAREC/Sida trong chương
trình hợp tác NCKH giữa Trường Đại học Y
Hà Nội và Viện Karolinska Các tác giả xin
chân thành cảm ơn
Tài liệu tham khảo
1 Nhà xuất bản y học (2000), Thống kê y
tế 2000
2 Andreij Marusic and Anne Farmer
(2001), Toward a new classification of risk
factors for suicide behavior Crisis, the
Journal of crisis intervention and suicide
intervention 22: 43-47
3 Meehan PJ, Lam JA, Saltzman LE, et al
(1992), Attempted suicide among young
adults: progress toward a meaningful estimate
of prevalence American Journal of Psychiatry,
149:41 - 44
4 Brian Ho Kong Wai, Clarice Hong, Kua
Ea Heok (1999), Suicidal behavior among
young people in Singapore General Hospital
Psychiatry, 21 (2): 128 - 133
5 Pan PC, Lieh - Mak F (1989), A comparison between male and female parasuicide in HongKong Soc.Psychiatry Psychiatr Epidemiol, 24 (5): 7 - 253
6 Petronis KR, Samuels JF, Moscicki EK, Anthony JC (1990), An epidemiologic investigation of potential risk factors for suicide attempts Social Psychiatry and Psychiatric Epidemiology, 25 (4): 193 - 199
7 Brown GW and Harris TO (1978), Social origins of depression A study of psychiatric disorder in women (5th edition) London
8 Dyer JA and Kreitman N, (1984), Hopelessness, depression and suicidal intent in parasuicide British Journal of Psychiatry, 144: 127-133
9 Platt, S (1984), Unemployment and suicidal behaviour : a review of the literature Social Science and Medicine, 19(2) : 93 - 115
10 Buckley NA, Whyte IM, Dawson AH (1993), There are days… and moons Self poisoning is not lunacy, 159 (11, 12): 786 - 789
Summary
Attempted suicide in Poison Control Center at BachMai
hospital in HaNoi
In total, 511 Vietnamese patients (515 attempted suicide events) admitted during the period from January 1, 1999 to April 30, 2001 were included in the study The results show that: near to half (48.7%) of the patients was in the age group of 15-24 years old The female to male ratio of the patients living in the urban area (2.1:1) is higher than that in the rural area (1.2:1) with p < 0,01 Among the patients, the occupations with a higher proportion were farmers (19.8%), students (24.7%) and homework (20.8%) Attempted suicides were made more frequently in April with a
significant difference between the urban and rural area (p = 0.02) Conflicts with partners and other
family members were the main causes of attempting suicide Antinarcotic and antipyretic were often used among the patients living in the urban, while pesticide and raticide more commonly in the rural areas as a means of attempting suicide.