1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiệu quả của PCR trong phát hiện M. Tuberculosis trực tiếp trong bệnh phẩm soi kính âm tính của bệnh nhân lao ppt

6 469 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 202,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tất cả các bệnh nhân lao đều có kết quả âm tính với trực khuẩn kháng cồn, kháng axit AFB bằng soi kính hiển vi trực tiếp.. Bệnh phẩm nhóm chứng bao gồm dịch não tuỷ, dịch màng phổi, và d

Trang 1

Hiệu quả của PCR trong phát hiện M tuberculosis trực tiếp trong bệnh phẩm soi kính âm tính

của bệnh nhân lao

Hồ Minh Lý 1 , Nguyễn Vân Anh 1 , Phạm Kim Liên 1 , Nguyễn Hiền Anh 1 , Nguyễn Kim Trinh 1 ,

Đặng Đức Anh 1 , Nguyễn Văn Thiêm 2

1

Viện Vệ sinh Dịch tễ trung ương

2 Học viện quân y 103, Hà Nội

PCR được áp dụng để xác định M tuberculosis trực tiếp trong bệnh phẩm của 254 bệnh nhân

lao và 60 bệnh phẩm của bệnh nhân nhóm chứng Tất cả các bệnh nhân lao đều có kết quả âm tính với trực khuẩn kháng cồn, kháng axit (AFB) bằng soi kính hiển vi trực tiếp Bệnh phẩm nhóm chứng bao gồm dịch não tuỷ, dịch màng phổi, và dịch rửa phế quản của bệnh nhân có căn nguyên

ngoài lao Đối với bệnh phẩm của bệnh nhân lao, PCR đã phát hiện được M tuberculosis trong

60/100 (60%) bệnh phẩm đờm , 35/41 (85%) bệnh phẩm dịch rửa phế quản, 60/86 (70%) bệnh phẩm dịch não tuỷ và 19/27 (70%) bệnh phẩm dịch màng phổi, đạt độ nhậy chung là 69% PCR chỉ cho dương tính giả với 2 trong số 60 bệnh phẩm nhóm chứng, đạt độ đặc hiệu chung là 97% Đối

với các bệnh phẩm có kết quả nuôi cấy âm tính, PCR phát hiện được M tuberculosis trong 81/118

trường hợp đạt 69% Tất cả các trường hợp nuôi cấy dương tính, ngoại trừ một mẫu dịch não tuỷ và hai mẫu dịch rửa phế quản, đều có phản ứng PCR dương tính Kết quả cho thấy PCR là một trong những công cụ có thể cải thiện khả năng chẩn đoán bệnh lao bao gồm cả lao phổi và lao ngoài phổi, đặc biệt là các trường hợp AFB âm tính bằng soi kính

I Đặt vấn đề

Chẩn đoán lao phổi và lao ngoài phổi âm

tính với trực khuẩn kháng cồn kháng toan

(AFB) luôn là một thách thức khi mà kỹ thuật

chẩn đoán phòng thí nghiệm chủ yếu cho các

trường hợp soi kính âm tính vẫn là nuôi cấy cổ

điển Do thời gian chờ đợi kéo dài (4-8 tuần)

trong khi độ nhậy cũng không cao đặc biệt đối

với lao ngoài phổi [1, 2, 3], các nhà lâm sàng

nhiều khi phải áp dụng phương pháp điều trị

thử hoặc quyết định điều trị chỉ dựa trên triệu

chứng lâm sàng Hệ thống đo phóng xạ

BACTEC ra đời cho phép phát hiện sớm quá

trình mọc của vi khuẩn nhờ cơ chất có đánh

dấu phóng xạ giúp làm giảm thời gian chờ đợi

xuống còn một nửa Tuy vậy do chi phí mua

sắm cao và khó khăn trong xử lý chất thải phóng xạ, việc sử dụng vẫn còn hạn chế [4] PCR là một kỹ thuật có thể thực hiện nhanh trong vòng 1-2 ngày, nhưng lại có khả năng sao chép trình tự đặc hiệu trên genome của vi khuẩn từ một vài bản lên hàng trăm triệu đến hàng tỷ phiên bản Trong khi soi kính chỉ xác

định được vi khuẩn ở nồng độ tối thiểu 105/ 1

ml bệnh phẩm, PCR cho phép xác định vi khuẩn ở nồng độ rất thấp chỉ 1-3 vi khuẩn trong

1 bệnh phẩm [1] PCR do vậy được đánh giá là một công cụ có giá trị trong chẩn đoán các bệnh nhiễm khuẩn trong đó có bệnh lao Tuy nhiên cho đến nay việc sử dụng PCR trong chẩn đoán lao mới được áp dụng hạn chế ở một

số phòng thí nghiệm lớn ở Việt Nam Hiệu quả

Trang 2

và tính năng áp dụng của phương pháp còn

chưa được nhiều nghiên cứu đề cấp đến một

cách toàn diện, đặc biệt trong chẩn đoán lao

AFB âm tính

Mục tiêu của nghiên cứu là: Đánh giá hiệu

quả kỹ thuật PCR trong phát hiện M

tuberculosis trực tiếp trong bệnh phẩm soi kính

âm tính với trực khuẩn kháng cồn kháng axit

của bệnh nhân lao

II Vật liệu và phương pháp

nghiên cứu

1 Vật liệu:

Vật liệu bao gồm 254 bệnh phẩm của bệnh

nhân lao và 60 bệnh phẩm của bệnh nhân nhóm

chứng được điều trị tại viện Lao trung ương,

bệnh viện Bạch Mai, viện Nhi trung ương, viện

Quân Y 103 và trung tâm Chống lao Hà Nội

Bệnh phẩm của bệnh nhân lao bao gồm 100

mẫu đờm, 41 mẫu dịch rửa phế quản, 86 mẫu

dịch não tuỷ và 27 mẫu dịch màng phổi Tất cả

các bệnh nhân này đều có kết quả AFB âm tính

bằng soi kính hiển vi trực tiếp và sau này đều

được chẩn đoán là bệnh nhân lao dựa vào kết

luận cuối cùng kết hợp các kết quả thăm khám

lâm sàng và các xét nghiệm khác Bệnh phẩm

nhóm chứng bao gồm 37 mẫu dịch não tuỷ của

bệnh nhân viêm màng não có căn nguyên ngoài

lao, 13 bệnh phẩm dịch màng phổi của bệnh

nhân tràn dịch màng phổi do ung thư và 10

bệnh phẩm dịch rửa phế quản của bệnh nhân

viêm phế quản không do lao

2 Phương pháp nghiên cứu:

Tất cả các bệnh phẩm trên được thu thập

trong thời gian nghiên cứu (1997-2001) riêng

lẻ cho từng trường hợp tại các bệnh viện mà

bệnh nhân đến điều trị Bệnh phẩm được gửi

cùng ngày về phòng thí nghiệm Mycobacteria

viện Vệ sinh dịch tễ trung ương không kèm

theo thông tin về lâm sàng của bệnh nhân Tất

cả các bệnh phẩm đều được chẩn đoán bằng kỹ

thuật PCR sử dụng đoạn mồi Pt18 và INS2 đặc

hiệu cho trình tự trên IS6110 của vi khuẩn lao nhóm điển hình Trừ bệnh phẩm đờm, tất cả các bệnh phẩm đều được tiến hành nuôi cấy phân lập song song với PCR tại đây Kết quả PCR được đối chiếu với kết luận cuối cùng của lâm sàng tại thời điểm bệnh nhân ra viện đồng thời so sánh với nuôi cấy Các tính toán thống

kê cũng được sử dụng để so sánh kết quả

III Kết quả

Tất cả các bệnh phẩm kể cả bệnh phẩm của bệnh nhân lao và bệnh nhân không lao nhóm chứng đều được xử lý tách chiết DNA, chạy PCR và điện di xác định kết quả trên gel agarose Bệnh phẩm dương tính là bệnh phẩm cho vạch trên gel điện di đặc hiệu cho đoạn trình tự axit nucleic trên IS6110 được sao chép với cặp đoạn mồi sử dụng Tỷ lệ dương tính với PCR đối với mỗi loại bệnh phẩm của các bệnh nhân mắc các thể lao khác nhau bao gồm lao màng não, lao tràn dịch màng phổi, lao phổi, và bệnh nhân nhóm chứng được trình bầy ở bảng

1

Bảng 1 Kết quả PCR xác định

M tuberculosis trong bệnh phẩm của bệnh nhân lao và bệnh nhân nhóm chứng

Bệnh

phẩm

PCR (+)

Se (%) Sp(%)

Bệnh nhân lao

Đờm DRPQ DMP DNT

60/100 35/41 19/27 60/86 174/254

60

85

70

70

69

90

100

97

96 Bệnh

nhân chứng

DNT DMP DRPQ

1/37 0/13 1/10

DRPQ: dịch rửa phế quản; DMP: dịch màng phổi; DNT: dịch não tuỷ

Trang 3

Đối với bệnh phẩm của bệnh nhân lao, PCR

phát hiện được M tuberculosis trong 60/100

(60%) bệnh phẩm đờm , 35/41 (85%) bệnh

phẩm dịch rửa phế quản, 60/86 (70%) bệnh

phẩm dịch não tuỷ và 19/27 (70%) bệnh phẩm

dịch màng phổi, đạt độ nhậy chung là 69%

PCR chỉ cho dương tính giả với 2 trong số 60

bệnh phẩm nhóm chứng, bao gồm một mẫu

dịch não tuỷ của bệnh nhân viêm màng não mủ

và một mẫu dịch rửa phế quản của bệnh nhân

viêm phế quản không do lao Như vậy độ đặc

hiệu dao động từ 90% đến 100%, đạt độ đặc

hiệu chung 96% (bảng 1)

So với kết quả nuôi cấy, PCR có độ nhậy cao hơn một cách có ý nghĩa ở nhóm bệnh nhân lao màng não và bệnh nhân tràn dịch màng phổi do lao (P<0.01, χ2), tuy nhiên lại không cao hơn một cách có ý nghĩa thống kê ở nhóm bệnh nhân lao phổi với bệnh phẩm là dịch rửa phế quản (bảng 2) Do không có điều kiện nuôi cấy phân lập bệnh phẩm đờm vào thời điểm nghiên cứu nên số liệu về nuôi cấy

đối với loại bệnh phẩm này của bệnh nhân lao phổi AFB âm tính với soi kính không được trình bầy ở đây

Bảng 2 Kết quả của PCR so với nuôi cấy

Bệnh nhân Bệnh phẩm PCR dương tính Nuôi cấy dương tính P Lao màng não

Lao tràn dịch màng phổi

Lao phổi

DNT DMP DRPQ

60/ 86 (70%) 19/27 (70%) 35/41 (85%)

4/86 (5%) 2/ 27 (7%) 30/41 (73%)

P<0.01 P<0.01 P>0.05

DRPQ: dịch rửa phế quản; DMP: dịch màng phổi; DNT: dịch não tuỷ

Đối với bệnh phẩm nuôi cấy dương tính PCR cho dương tính với 33/36 trường hợp (92%) Đối với bệnh phẩm có kết quả nuôi cấy âm tính PCR cho dương tính với 17/25 (68%) bệnh phẩm dịch màng phổi, 56/82 (68%) bệnh phẩm dịch não tuỷ và 8/11 (73%) bệnh phẩm dịch rửa phế quản cho

tỷ lệ chung là 69% (bảng 3)

Bảng 3 Kết quả PCR trên bệnh phẩm nuôi cấy dương tính và bệnh phẩm nuôi cấy âm tính

PCR Dương tính Âm tính

Tổng số

Nuôi cấy Dương tính

Âm tính

33 (92%)

81 (69%)

3

37

36 (100%)

118 (100%)

So sánh tỷ lệ dương tính của PCR trên nhóm

bệnh nhân đã điều trị và chưa điều trị thuốc lao

cho thấy việc điều trị có thể ảnh hưởng đến kết

quả PCR trên bệnh nhân lao màng não Tỷ lệ

dương tính của PCR trên nhóm bệnh nhân chưa

điều trị thuốc lao (84%) cao hơn có ý nghĩa so

với nhóm bệnh nhân đã điều trị (33%)

(P<0.01) Đối với bệnh nhân tràn dịch màng phổi do lao, tỷ lệ dương tính với PCR không khác nhau có ý nghĩa giữa hai nhóm này (P>0.05, χ2 ) (bảng 4) Tuy nhiên kết quả PCR trên nhóm bệnh nhân được điều trị thuốc lao trong thời gian dưới hoặc bằng 10 ngày và nhóm bệnh nhân đã được điều trị trên 10 ngày

Trang 4

ở bệnh nhân lao màng não không có sự khác

biệt với tỷ lệ tương ứng là 67% và 60%

(P>0.05)

Bảng 4 Liên quan giữa kết quả PCR với điều trị thuốc lao của bệnh nhân lao

Dương tính PCR Bệnh nhân

Đã điều trị (%) Chưa điều trị (%)

P

Lao MN 8/24 (33%) 54/64 (84) <0.01 Lao TDMP 5/6 (83%) 17/24 (71%) >0.05

TDMP: tràn dịch màng phổi; MN: màng não

IV Bàn luận

Việc cho ra đời một phương pháp chẩn đoán

nhanh và hiệu quả đã trở nên rất quan trọng và

cấp thiết trong trong cuộc chiến đấu chống lại

bệnh lao, đặc biệt đối với các thể lao ít vi

khuẩn không thể phát hiện bàng phương pháp

soi kính

Trong nghiên cứu của chúng tôi độ nhậy

của PCR đối với bệnh phẩm của bệnh nhân lao

phổi và lao ngoài phổi AFB âm tính với soi

kính dao động từ 60% đối với bệnh phẩm đờm,

70% đối với bệnh phẩm dịch não tuỷ, 70% đối

với bệnh phẩm dịch màng phổi, tới 85% đối với

bệnh phẩm dịch rửa phế quản của bệnh nhân

lao phổi, cho độ nhậy chung là 69% Độ đặc

hiệu dao động từ 90% đối với dịch rửa phế

quản, 97% đối với dịch não tuỷ, đến 100% đối

với dịch màng phổi, cho độ đặc hiệu chung là

96%

Khi so sánh với các phương pháp khác cũng

xác định M tuberculosis trực tiếp từ bệnh

phẩm, PCR có ưu thế hơn hẳn So với nuôi cấy

PCR có ưu thế về thời gian Trong khi nuôi cấy

phải chờ ít nhất 4 tuần để có kết quả thì độ

nhậy trong nghiên cứu này cũng chỉ đạt từ 5%

đến 73% Soi kính cho kết quả ngay nhưng lại

không có giá trị trong các trường hợp lao soi

AFB âm tính

Khả năng phát hiện của PCR là 10 fg (10

-14g) DNA của M tuberculosis trong một ống

phản ứng (tương đuơng với lượng DNA của 2

đến 3 vi khuẩn) Điều này có thể giải thích tại sao PCR lại đạt độ nhạy cao trong chẩn đoán lao, thậm chí lao có AFB âm tính với soi kính

Độ nhậy của PCR còn cao hơn hẳn so với nuôi cấy đặc biệt ở các thể lao ít vi khuẩn nhưng lại nguy hiểm như lao màng não, lao tràn dịch màng phổi (P<0.01) Trong nghiên cứu này PCR cho dương tính với 69% trường hợp bệnh phẩm có kết quả nuôi cấy âm tính

Tỷ lệ dương tính của PCR trên nhóm bệnh nhân chưa điều trị thuốc lao cao hơn một cách

có ý nghĩa so với nhóm đã điều trị ở bệnh nhân lao màng não (P<0.01) Kết quả cho thấy việc

điều trị có tác động loại bỏ vi khuẩn nhanh hơn

ở bệnh nhân mắc thể lao này Kết quả cũng phù hợp với một số nghiên cứu của tác giả nước ngoài khi thấy rằng tỷ lệ dương tính với PCR giảm hẳn ở bệnh nhân lao màng não sau khi

được điều trị thuốc lao [5, 6]

V Kết luận

1 PCR sử dụng đoạn mồi Pt18 và INS2 xác định trình tự đặc hiệu trên IS6110 của vi

khuẩn lao nhóm điển hình M tuberculosis cho

độ nhậy từ 60% đền 85%, độ đặc hiệu từ 90%

đến 100% đối với bệnh phẩm soi kính âm tính của bệnh nhân lao phổi và lao ngoài phổi

2 So với nuôi cấy, độ nhậy của PCR cao hơn một cách có ý nghĩa đối với lao ngoài phổi (P<0.01)

Trang 5

3 PCR dương tính với 69% bệnh phẩm

có kết quả nuôi cấy âm tính

4 Tỷ lệ dương tính của PCR trên nhóm

bệnh nhân chưa điều trị thuốc lao cao hơn một

cách có ý nghĩa so với nhóm đã điều trị ở bệnh

nhân lao màng não (P<0.01)

Như vậy PCR là một kỹ thuật cho phép chẩn

đoán nhanh bệnh lao với độ nhậy và độ đặc

hiệu cao nhờ khả năng phát hiện vi khuẩn lao

trực tiếp trong bệnh phẩm ngay ở nồng độ rất

thấp Thời gian để có kết quả chỉ trong vòng 1

đến 2 ngày PCR thật sự là một công cụ hiệu

quả để chẩn đoán các dạng lao khó chẩn đoán

đặc biệt là lao có AFB âm tính với soi kính

TàI liệu tham khảo

1 Hồ Minh Lý, Đặng Đức Anh, Nguyên

Kim Trinh, Nguyễn Vân Anh Nguyễn Hiền

Anh, Le Kim Tuyến, Hoàng Thi Phượng,

Ngyễn Việt Cồ (1999): Chẩn đoán nhanh tràn

dịch màng phổi nghi do lao bằng phản ứng

PCR Tạp chí Y học dự phòng 1(39): 48-52

2 Hồ Minh Lý, Đặng Đức Anh, Nguyễn

Vân Anh Nguyễn Hiền Anh, Nguyên Kim

Trinh, Đặng Đức Trạch, Hoàng Thuỷ Long,

Hoàng Thị Phượng, Nguyễn Thu Hà, Đặng Văn

Khiêm, Nguyễn Thị Diễm Hồng, Nguyễn

Quang Trung (2000): PCR trong chẩn đoán

bệnh lao Tuyển tập công trình viện Vệ sinh

dịch tễ trung ương 1997-2000, Nhà xuất bản Y học Tr 200-204

3 A H J Kolk, A R J Schuitema, S Kuijper, J van Leeuwen, P W M Hermans, J

D A van Embden, and R A Hartskeerl (1992): Detection of Mycobacterium tuberculosis in clinical samples by using polymerase chain reaction and a nonradioative

detection system J Clin Microbiol 30:

2567-2575

4 Anargyros P., D S J Astill, and I S L Lim (1990): comparison of improved BACTEC and Lowenstein-Jensen media for culture of

mycobacteria from clinical specimens J Clin

Microbiol 28: 1288-1291

5 Bonington A, J I Strang, P E Klapper (1998): Use of Roche amplicor mycobacterium tuberculosis PCR in early diagnosis of

tuberculous meningitis J Clin Microbiol 36:

1251-1254

6 Lin J J., H J Harn, Y D Hsu (1995): Rapid diagnosis of tuberculous meningitis by polymerase chain reaction assay of

cerebrospinal fluid J Neurol 242: 14

Summary

Evaluation of polymerase chain reaction (PCR) for

direct detection of M tuberculosis in AFB smear

negative clinical specimens of tuberculosis patients

IS6110 based PCR was used for direct detection of M Tuberculosis in clinical

specimens obtained from 254 tuberculosis patients and from 60 other patients in control group The tuberculous specimens included sputum samples, bronchial washes, cerebrospinal fluids, and pleural fluids All these 254 patients were acid fast bacillus (AFB) smear negative and were diagnosed as tuberculosis according to clinical symptoms, biochemical criteria, biopsy or internal examination and response to therapy The control specimens included 37 cerebrospinal fluids, 13 pleural fluids and 10 bronchial washes

Trang 6

taken from patients with pleural cancer, non-tuberculosis meningitis and bronchitis The

PCR could detect M tuberculosis in 60/100 (60%) sputum samples, 35/41 (85%)

bronchial washes, 60/86 (70%) cerebrospinal fluids and 19/27 (70%) pleural fluids The overall sensitivity of the PCR for these AFB smear negative was 69% False positive presented in only 2 out of 60 specimens of control group, the specificity therefore was

97% PCR could detect M tuberculosis in 81/118 (69%) culture negative specimens

Excepted one cerebrospinal fluid and two bronchial washes, all culture positive specimens were positive with PCR The result demonstrate the usefulness of using PCR in rapid diagnosis of pulmonary and extra pulmonary tuberculosis, especially AFB smear negative cases

Ngày đăng: 25/03/2014, 03:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Kết quả PCR xác định - Hiệu quả của PCR trong phát hiện M. Tuberculosis trực tiếp trong bệnh phẩm soi kính âm tính của bệnh nhân lao ppt
Bảng 1. Kết quả PCR xác định (Trang 2)
Bảng 3. Kết quả PCR trên bệnh phẩm nuôi cấy d−ơng tính và bệnh phẩm nuôi cấy âm tính - Hiệu quả của PCR trong phát hiện M. Tuberculosis trực tiếp trong bệnh phẩm soi kính âm tính của bệnh nhân lao ppt
Bảng 3. Kết quả PCR trên bệnh phẩm nuôi cấy d−ơng tính và bệnh phẩm nuôi cấy âm tính (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w