1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát hiện Chlamydia Trachomatis bằng kỹ thuật khuếch đại gen trên bệnh nhân viêm khớp phản ứng docx

4 326 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 156,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát hiện Chlamydia Trachomatis bằng kỹ thuật khuếch đại gen trên bệnh nhân viêm khớp phản ứng Bạch Khánh Hòa 1 , Trần Thị Minh Hoa 2 1 Trường Đại học Y Hà Nội 2 Bệnh viện Bạch Mai V

Trang 1

Phát hiện Chlamydia Trachomatis bằng kỹ thuật khuếch đại gen trên bệnh nhân viêm khớp phản ứng

Bạch Khánh Hòa (1)

, Trần Thị Minh Hoa (2)

(1)

Trường Đại học Y Hà Nội

(2) Bệnh viện Bạch Mai Viêm khớp phản ứng (VKPƯ) là một bệnh viêm màng hoạt dịch khớp vô khuẩn thường xẩy ra sau một nhiễm khuẩn nào đó trong cơ thể Cơ chế bệnh sinh chưa rõ, hiện nay có nhiều nghiên cứu đề cập đến vai trò của các kháng nguyên vi khuẩn như yersinia, Salmonella, Shigella, Chlamydia trachomatis trong khởi phát và duy trì bệnh VKPƯ Để tìm hiểu mối liên quan của Chlamydia trachomatis với bệnh VKPƯ, chúng tôi tiến hành xét nghiệm PCR trong dịch khớp và nước tiểu của 52 bệnh nhân VKPƯ được khám và điều trị tại khoa khớp bệnh viện Bạch mai từ tháng 8/2001 đến tháng 8/2003 Kết quả nghiên cứu ADN của CT đã được xác định trong 53,8% mẫu bệnh phẩm dịch khớp và 42,2% ở nước tiểu của các bệnh nhân nghiên cứu So sánh với tỷ lệ kháng nguyên lipopolyarcaride (LPS) dương tính 38.5 % mẫu nước tiểu,kháng thể IgG đặc hiệu với Chlamydia trachomatis(CT) dương tính 44.2% trong huyết thanh và 34.6% trong dịch khớp Như vậy xét nghiệm AND của CT ở dịch khớp có độ nhạy cao trong chẩn đoán bệnh VKPƯ

I Đặt vấn đề

Viêm khớp phản ứng (VKPƯ) là tình

trạng viêm màng hoạt dịch khớp vô

khuẩn thường xuất hiện sau một nhiễm

khuẩn ở một cơ quan nào đó của cơ thể

Viêm khớp phản ứng là bệnh hay gặp

nhất trong nhóm bệnh lý cột sống thể

huyết thanh âm tính [1,2,6] Bệnh sinh

của bệnh VKPƯ chưa rõ nhưng có nhiều

bằng chứng chứng tỏ một số kháng

nguyên vi khuẩn (Chlamydia trachomatis,

yersinia, Salmonella ) giữ vai trò quan

trọng trong bệnh nguyên và được coi là

một trong những tác nhân khởi động và

duy trì phản ứng viêm khớp mạn tính

trong bệnh viêm khớp phản ứng [4,7]

Hiện nay bệnh VKPƯ được quan tâm

nghiên cứu ở các nước Tây Âu và Mỹ do

tỷ lệ các bệnh lý lây truyền qua đường

tình dục ngày càng tăng [4,9] ở nước ta,

viêm khớp phản ứng cũng khá thường

gặp trong nhóm bệnh lý cột sống và

chiếm tỷ lệ 5.4% bệnh nhân khớp đến

khám và điều trị tại khoa Khớp bệnh viện

Bạch mai Tỷ lệ nhiễm chlamydia trachomatis đường tiết niệu sinh dục ở bệnh nhân VKPƯ là 38.1%, cao hơn hẳn nhóm bệnh nhân viêm cột sống dính khớp là 29%, nhóm các bệnh khớp khác

là 5.4% và ở người bình thường là 3.3% [2] Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích bước đầu tìm hiểu mối liên quan của CT đối bệnh nhân VKPƯ và đưa ra xét nghiệm chẩn đoán

có độ nhạy cao giúp cho các bác sỹ lâm sàng có chỉ định sớm và chính xác trong

điều trị bệnh VKPƯ

II Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này chúng tôi nghiên cứu

52 bệnh nhân VKPƯ được khám, chẩn

đoán và điều trị nội trú hoặc ngoại trú tại khoa Khớp bệnh viện Bạch mai từ tháng 8/2001 đến tháng 8/2003 Các bệnh nhân được chẩn đoán theo tiêu chuẩn chẩn đoán của Amor (4)

2.1 Lâm sàng: theo tiêu chuẩn chẩn

đoán của Amor

Trang 2

2.2 Xét nghiệm:

Bệnh nhân được xét nghiệm xác định

kháng nguyên LPS của CT theo phương

pháp Hexagon [8]

(Immunochromatographic), tìm kháng thể

IgG đặc hiệu CT trong huyết thanh và

dịch khớp của bệnh nhân VKPƯ Chúng

tôi chọn những bệnh nhân có phản ứng

dương tính với các xét nghiệm trên để tiến

hành xét nghiệm ADN trong dịch khớp và

nước tiểu

*Kỹ thuật PCR xác định ADN của CT

trong bệnh phẩm dịch khớp và nước tiểu

của bệnh nhân nghiên cứu (10)

- Tách ADN bằng kit Quiagen (Đức)

cho cả dịch khớp và nước tiểu

- Phản ứng PCR: Thành phần cho

một mẫu 25àl gồm: dNTP 200àM,

10mM Tris-HCL, 50mM KCL, 1,5mM

MgCl2, 2UI Taq ADN polymerase, 1àl mồi

xuôi và 1àl mồi ngược, 3àl ADN cần xét

nghiệm

- Trình tự mồi:

5’CTGCAGCCTCCGTAGAGTCTGGGCAGTGTC 3’

Kháng thể IgG đặc hiệu CT dương tính ở 23/52 mẫu bệnh phẩm huyết thanh bệnh nhân chiếm tỷ lệ 44.2%, và tỷ lệ này

ở bệnh phẩm dịch khớp là 34.6% (15/52 trường hợp) Trong đó có 17 bệnh nhân (32.5%) có kháng thể IgG đặc hiệu cho

CT dương tính trong cả 2 loại bệnh phẩm

là huyết thanh và dịch khớp (biểu đồ 1) Xét nghiệm PCR cho thấy có 28/52 xác

định được sự có mặt của trong mẫu bệnh phẩm dịch khớp chiếm tỷ lệ 53,2% trong khi đó chỉ có 22/52 (42,2%) xác định

được ADN của CT trong nước tiểu

5’ AAGCTTTTCTTAACAATGCAAATGAGATAG 3’

C, 35

C/

1phút, cuối cùng là 72 oC/ 10 phút và 4 oC

- Điện di sản phẩm PCR trên gen agarose

2%, kích thước của sản phẩm là 96bp

III Kết quả

Trong thời gian từ tháng 8/2001 đến

tháng 8/2003, chúng tôi đã tiến hành thu

thập được 52 bệnh nhân được chẩn đoán

VKPƯ tại khoa khớp, bệnh viện Bạch

mai Tuổi trung bình của nhóm bệnh

nhân nghiên cứu là 28.8 ± 10.5 tuổi (bệnh

nhân ít tuổi nhất là 12 tuổi và bệnh nhân

nhiều tuổi nhất là 57 tuổi), bệnh nhân

nam giới chiếm tỷ lệ 57,7%

Hình ảnh điện di sản phẩm PCR của các mẫu ADN tách từ dịch khớp và nước tiểu: 1 mẫu gồm a: dịch khớp; b: nước tiểu

Thời gian bị bệnh trung bình là 17.4 +12.5 tháng (bệnh nhân có thời gian mắc bệnh ngắn nhất là 1tháng, và bệnh nhân

có thời gian mắc bệnh dài nhất là 4 năm)

IV Bàn luận

Tỷ lệ kháng nguyên LPS dương tính 38.5% ở bệnh phẩm nước tiểu, kết quả này cũng tương tự như các nghiên cứu của Ferris D G [8,9], và Dougados [5]

Tỷ lệ này cao hơn hẳn trong các bệnh khớp khác là 5.4% và người bình thường

là 3.3% (2) Tỷ lệ kháng thể IgG đặc hiệu với CT trong bệnh phẩm huyết thanh và trong dịch khớp của bệnh nhân VKPƯ là 44,.2%, và 34.6% Bệnh nhân VKPƯ ở nhóm có CT dương tính chủ yếu xẩy ra ở

Trang 3

bệnh nhân nam giới, có thời gian mắc

bệnh kéo dài hơn, có tiền sử nhiễm khuẩn

đường tiết niệu sinh dục cũng như biểu

hiện viêm đường niệu dục tại thời điểm

nghiên cứu nhiều hơn và bệnh ở giai

đoạn hoạt động so với nhóm bệnh nhân

CT âm tính Điều này gợi ý CT có vai trò

nhất định nào đó trong quá trình khởi phát

và duy trì bệnh VKPƯ Đặc biệt có 53,2%

mẫu bệnh phẩm dịch khớp của bệnh

nhân nghiên cứu xác định được sự có mặt

ADN của CTđã góp phần vào việc nghiên

cứu vai trò của Chlamdia trachomatis

trong qua trình viêm khớp của bệnh

VKPƯ Như vậy xét nghiệm này cũng

giúp cho các nhà lâm sàng học có chẩn

đoán sớm và chính xác khi kết hợp với

các triệu chứng chính của lâm sàng

V.Kết luận

Kết quả nghiên cứu 52 bệnh nhân cho

thấy 38.5 % mẫu nước tiểu có kháng

nguyên LPS của CT Kháng thể IgG đặc

hiệu CT dương tính ở 44.2% mẫu huyết

thanh và 34.6% mẫu dịch khớp Đặc biệt

ADN của CT dương tính 53,2% trong dịch

khớp và 42,2% trong nước tiểu của các

bệnh nhân nghiên cứu Như vậy xét

nghiệm ADN của CT có tỷ lệ dương tính

cao hơn cả trong những xét nghiệm chẩn

đoán cho bệnh VKPƯ

Tài liệu tham khảo

1 Trần Ngọc Ân: Bệnh khớp Nhà

xuất bản Y học, 1991: 96-109

2 Trần Thị Minh Hoa: Tình trạng

nhiễm Chlamydia trachomatis đường tiết

niệu sinh dục ở bệnh nhân nhóm bệnh lý

cột sống thể huyết thanh âm tính Luận

văn Thạc sỹ y học, Trường đại học Y Hà nội, 2001

3 Vũ Thị Nhung: Bước đầu thăm dò

tình hình nhiễm Chlamydia trachomatis Y dươc học thành phố Hồ Chí Minh,1995 (12):44-47

4 Amor B: Reiter’s syndrome and

reactive arthritis Clin Rheumatol, 1983, 2: 315-319

5 Dougados M: The concept of

reactive arthritis Presse Medicine, 1997 Feb 22; 26(5): 204-206

6 Bas S, Cungnigham T, et al.,: The

value of isotype determination of serum antibodies against Chlamydia for the diagnosis of Chlamydia reactive arthritis British Journal of Rheumatology 1996, 35: 542-547

7 Espinoza LR, Aguilar JL, Guitierrez F: Chlamydia-induced reactive

arthritis Cli Exp Rheumatol 1997 Mar-Apr, 15 (2): 169-174

8 Ferris DG, et al.: Hexagon

Chlamydia Product Manual, Human GmbH 1997 Feb: 3-20

9 Ferris DG: Sensitivity of rapid antigen detection test for Chlamydia trachomatis screening JAMA, 1995

Mar 22-29: 273 (12): 917-918

10 Patrick JB, Herve CG, Alan PH:

Comparison of synovial tissue and synovial fluid as the source of nucleic acids for detection of Chlamydia trachomatis by polymerase chain reaction Arthritis & Rheumatism 1996,

35 (10): 1740-1746

Trang 4

Summary

Detection of Chlamydia trachomatis by PCR with

reactive arthritis

Chlamydia trachomatis has been shown to be induce reactive arthritis in man specially after sexually acquired genitourinary infection To determine the connection between Chlamydia trachomatis with reactive arthritis, in this study we examined antigen Chlamydia trachomatis lipopolysarcaride, antibody IgG, and DNA chlamydia trachomatis in samples (urine, sera, and synovial fluid) from 52 patients who were diagnosed and treated in Rheumatology department, Bachmai hospital from August

2001 to August 2003 As results we found that 38.5% urine samples positve with antigen LPS, antibody IgG positive in 44.2% sera samples and 34.6% synovial fluid samples Specially DNA chlamydia trachomatis was detected in 53.2% synovial fluid samples and 42,2% urine samples positve This results will contribute to determine the role of DNA-Chlamydia trachomatis in reactive arthritis diagnostic

Ngày đăng: 25/03/2014, 03:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh điện di sản phẩm PCR của các  mẫu ADN tách từ dịch khớp và n−ớc tiểu: 1  mẫu  gồm  a: dịch khớp; b: n−ớc tiểu - Phát hiện Chlamydia Trachomatis bằng kỹ thuật khuếch đại gen trên bệnh nhân viêm khớp phản ứng docx
nh ảnh điện di sản phẩm PCR của các mẫu ADN tách từ dịch khớp và n−ớc tiểu: 1 mẫu gồm a: dịch khớp; b: n−ớc tiểu (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w