Tác dụng của dịch chiết chè xanh Việt Nam trên rối loạn chuyển hoá lipid ở thỏ uống cholesterol Nguyễn Thị Hà 1 , Phạm Thiện Ngọc 1 Đặng Ngọc Dung 1 , Trần Thị Hương 2 1 Bộ môn Hoá sinh
Trang 1Tác dụng của dịch chiết chè xanh Việt Nam trên rối loạn chuyển hoá lipid ở thỏ uống cholesterol
Nguyễn Thị Hà 1 , Phạm Thiện Ngọc 1
Đặng Ngọc Dung 1 , Trần Thị Hương 2
1 Bộ môn Hoá sinh, Trường Đại học Y Hà Nội
2 Trường Cao đẳng Y tế Nam Định
Nghiên cứu tác dụng của dịch chiết chè xanh Việt Nam đối với rối loạn chuyển hoá lipid ở thỏ gây tăng cholesterol thực nghiệm đã chứng minh rằng: dịch chiết chè xanh có tác dụng làm giảm rối loạn chuyển hoá lipid thông qua việc cải thiện các chỉ số TG, TC, LDL-C huyết tương Tác dụng của dịch chiết chè xanh trên chuyển hoá lipid huyết tương thỏ phụ thuộc liều uống và thời gian cho uống Tác dụng rõ nhất của dịch chiết chè xanh thể hiện ở liều 150 mg/kg/ngày
I Đặt vấn đề
Chè xanh là nước uống giải khát rất phổ
biến ở các nước Châu á Theo y học cổ truyền,
chè xanh còn có tác dụng như một loại thuốc
phòng chống các bệnh lý tim mạch [7] Gần
đây nhiều nhà khoa học rất quan tâm nghiên
cứu về chè xanh, và sự hiểu biết về chè xanh
trên cơ sở khoa học hiện đại cũng được sáng tỏ
dần Chè xanh có 2 loài: Camellia assamica
(thân cao, lá to) và Camellia sinensis (thân là
loại cây bụi rậm, lá nhỏ) [5] Các thành phần
hoá học của dịch chiết chè xanh cùng một số
tác dụng dược lý của chúng đã được biết
Polyphenol là thành phần quan trọng của lá chè
xanh chiếm khoảng 6-16% trọng lượng khô của
lá chè Polyphenol chè xanh gồm có Catechin
và các dẫn xuất của nó có hàm lượng khác
nhau tuỳ loài chè và mùa thu hoạch
Polyphenol của dịch chiết chè xanh có nhiều
tác dụng quý trong Y sinh học, trong đó có tác
dụng bảo vệ đối với các quá trình bệnh lý tim
mạch Mối liên quan giữa mức tiêu thụ chè
xanh với lipid huyết thanh đã được đề cập đến
trong một số tài liệu trên thế giới [7]
Nghiên cứu về chè xanh và Polyphenol chè
xanh cũng đã được thực hiện ở Việt Nam
Nguyễn Liêm và cs nghiên cứu tác dụng chống
oxy hoá trên invitro của một số cây thuốc Việt
Nam, trong đó có đề cập đến vai trò của chè xanh Nguyễn Thanh Dương và cs đã nêu lên tác dụng chống phóng xạ và làm giảm cholesterol máu của chè xanh ở chuột [2] Tuy nhiên, những nghiên cứu về chè xanh Việt Nam chưa nhiều, đặc biệt đánh giá về tác dụng của chè xanh trong Y học Vì vậy, đề tài nghiên cứu này nhằm mục tiêu sau:
Nghiên cứu tác dụng của dịch chiết chè xanh đến hàm lượng một số lipid huyết tương ở thỏ gây tăng cholesterol máu thực nghiệm Nghiên cứu xác định liều tối ưu có tác dụng cải thiện những chỉ số lipid bị rối loạn
II Chất liệu, đối tượng, phương pháp nghiên cứu
1 Chè xanh (Camellia sinensis)
Chè xanh được thu hái vào buổi sáng muà xuân (tháng 3-2001), những ngày trời nắng tại khu trồng chè xuất khẩu Hoà Lạc và được chiết xuất theo quy trình [3]
2 Đối tượng thực nghiệm
Thỏ đực, chủng Orytolagus Cuniculus, 12 tuần tuổi, khoẻ mạnh, có trọng lượng 2- 2,5kg/ con, do Trung tâm nghiên cứu Dê và Thỏ Ba Vì- Hà Tây cung cấp Thỏ được nuôi tại Bộ môn Hoá - Hoá sinh, đảm bảo tiêu chuẩn về dinh dưỡng, nhiệt độ, ánh sáng,… theo tài liệu
Trang 2hướng dẫn của Trung tâm nghiên cứu Dê và
Thỏ
3 Hoá chất
Ethylacetat, Cholesterol, Heparin nhận từ
hãng Merck (CHLB Đức)
Các kit định lượng: Cholesterol, triglycerid,
LDL- C, HDL- C, do các hãng Boehringer
Mannheim (CHLB Đức), cung cấp
4 Trang thiết bị
Máy cất quay chân không của hãng Buchi
(Thụy Sĩ)
Máy ly tâm lạnh Beckman Avanti 30 (Mỹ)
Quang kế Photometer 4010-hãng
Boehringer Mannheim (CHLB Đức)
Quang phổ kế Shimadzu UV- 160 (Nhật) và
một số trang thiết bị khác
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Tạo dịch chiết chè xanh
Quy trình chiết xuất đã được chúng tôi
công bố trong một công trình trước đây [1]
5.2 Mô hình thực nghiệm
*Mô hình gây tăng cholesterol máu:
áp dụng và cải tiến phương pháp gây tăng
cholesterol máu ngoại sinh của Đoàn Thị Nhu
và cộng sự [3]
Dầu cholesterol 20%: Cân 20g cholesterol -
đun nóng cách thuỷ khoảng 75 ml dầu lạc, cho
cholesterol vào dầu lạc, khuấy đều cho tan hết
cholesterol, để nguội, thêm dầu lạc vừa đủ
100ml, 1 ml dầu lạc chứa 0,2 g cholesterol
Cho thỏ uống 0,5 g cholesterol/kg thân
trọng (tức là 2,5 ml dung dịch cholesterol 20%/
kg thân trọng) trong một ngày bằng cách bơm
qua sonde vào miệng thỏ Uống liên tục trong
45 ngày
* Chia nhóm:
20 con thỏ đực được chia làm 4 nhóm (I, II,
III, IV), mỗi nhóm 5 con
+ Nhóm I: uống cholesterol đơn thuần
+ Nhóm II, III, IV: uống cholesterol, sau 2 giờ được uống thêm dịch chiết chè xanh theo liều lượng như sau: nhóm II: 50 mg dịch chiết/
kg /ngày, nhóm III: 100 mg dịch chiết/ kg/ ngày, nhóm IV: 150 mg dịch chiết/ kg/ngày
* Lấy mẫu máu: Các nhóm thỏ được lấy máu vào các thời điểm ngày 0, ngày 15, ngày
30, ngày 45 để xác định các chỉ số TG, TC, HDL- C, LDL- C Tại các ngày lấy máu xét nghiệm, không cho thỏ uống cholesterol; và dịch chiết chè xanh
5.3 Các kỹ thuật sử dụng
* Chuẩn bị bệnh phẩm: Huyết tương chống
đông bằng heparin, không vỡ hồng cầu
* Định lượng TG, TC, HDL- C, LDL- C: theo phương pháp đo mầu enzym trên quang kế Photometer 4010 của hãng Boehringer Mannheim (CHLB Đức) Kết quả tính dựa vào nồng độ mẫu
+ Định lượng triglycerid:
Theo phương pháp GPO- PAP (Trin.P (1969) Ann Clin Biochem.6: 24)
+ Định lượng cholesterol toàn phần:
Theo phương pháp CHOD - PAP (Trin.P (1969).Ann Clin Biochem 6:24)
+ Định lượng HDL- C:
Nguyên tắc: LDL, VLDL và CM bị kết tủa khi thêm vào huyết tương phosphotungstic acid
và ion Mg2+ Ly tâm để chỉ có HDL trong dịch nổi Định lượng cholesterol trong dịch nổi bằng phương pháp CHOD - PAP
+ Định lượng LDL - C:
Nguyên tắc: LDL bị kết tủa khi thêm vào huyết thanh Heparin và Natricitrat Ly tâm để loại bỏ LDL ra khỏi dịch nổi Định lượng cholesterol trong dịch nổi bằng phương pháp CHOD - PAP
Tính kết quả:
LDL- C (mmol/l) = Cholesterol toàn phần - Cholesterol dịch nổi
Trang 36 Xử lý kết quả nghiên cứu
Các số liệu nghiên cứu được xử lý theo thuật
toán thống kê y sinh học EPI INFO Các phép
so sánh có p < 0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê
III Kết quả
1 Cân nặng của các nhóm thỏ
Bảng 1: Cân nặng của các nhóm thỏ theo thời gian thực nghiệm (kg)
Thời gian nghiên cứu Nhóm thỏ n
Ngày 0 (X± SD)
Ngày 15 (X ± SD)
Ngày 30 (X ± SD)
Ngày 45 (X ± SD) Nhóm I 5 2,1 ± 0,14 2,28 ± 0,23 2,4 ± 0,29 2,44 ± 0,21 Nhóm II 5 2,42 ± 0,19 2,52 ± 0,23 2,58 ± 0,22 2,7 ± 0,22 Nhóm III 5 2,16 ± 0,11 2,44 ± 0,12 2,58 ± 0,15 2,7 ± 0,12 Nhóm IV 5 2,14 ± 0,20 2,3 ± 0,24 2,42 ± 0,22 2,52 ± 0,22 Chú thích:
Nhóm I: uống cholesterol đơn thuần
Nhóm II; III; IV: Uống cholesterol và
50mg; 100mg; 150mg dịch chiết chè xanh
/kg/ngày
Nhận xét:
Trong quá trình thực nghiệm, các con thỏ
đều lớn nhanh: ngày đầu tiên thực nghiệm
(ngày 0) cân nặng trung bình của các nhóm thỏ
đều xấp xỉ 2,1 kg, trừ nhóm II có cân nặng trung bình là 2,42 kg; ngày thực nghiệm cuối cùng (ngày 45) cân nặng trung bình của các nhóm từ 2,44 đến 2,70 kg Cân nặng trung bình của các nhóm thỏ tại các mốc thời gian nhất
định của quá trình thực nghiệm (ngày 0, ngày
15, ngày 30 và ngày 45) đều không có sự khác biệt nhau có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)
2 Triglycerid (TG)
0
0.5
1
1.5
2
2.5
T h ờ i g ia n ( n g à y)
N h ó m I I
N h ó m I I I
N h ó m I V
Hình1: Nồng độ TG huyết tương của các nhóm thỏ theo thời gian thực nghiệm
Chú thích: * p < 0,005 Tại ngày bắt đầu thực nghiệm (ngày 0)
nồng độ TG huyết tương của các nhóm thỏ không có sự khác biệt có ý nghĩa (p > 0,05)
Trang 4Nồng độ TG của các nhóm thỏ uống
cholesterol và uống cholesterol cùng dịch chiết
polyphenol chè xanh với các liều lượng khác
nhau đều tăng dần theo thời gian thực nghiệm,
tuy nhiên mức độ tăng có khác nhau: - Nồng độ
TG giữa các nhóm I, II, III tại ngày 15, 30, 45
không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p >
0,05) Nồng độ TG huyết tương của nhóm IV
giảm nhiều ở ngày 30 và khác biệt có ý nghĩa
thống kê ở ngày 45 (p < 0,05) so với nồng độ
TG huyết tương của nhóm thỏ I
3 Cholesterol toàn phần (TC)
- ở ngày 0: nồng độ TC huyết tương của
các nhóm thỏ không có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê (p > 0,05)
- ở các ngày 15, 30, 45: nồng độ TC huyết
tương của nhóm thỏ uống cholesterol và các
nhóm thỏ uống cholesterol cùng dịch chiết
polyphenol chè xanh với những liều khác nhau
đều tăng rất mạnh trên 10 lần so với mức TC huyết tương của chúng ở ngày 0
- ở ngày 30, nồng độ TC huyết tương của nhóm II, III, IV có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với của nhóm I nhưng không có sự khác biệt giữa các nhóm có uống thêm dịch chiết chè xanh (nhóm II, III, IV) với
p > 0,05
- ở ngày 45, nồng độ TC huyết tương của các nhóm không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05), riêng nồng độ TC của nhóm I và nhóm có uống thêm dịch chiết chè xanh liều cao (nhóm IV) có sự khác biệt rõ rệt với p < 0,01
Các kết quả về TC huyết tương ở các nhóm
được trình bày ở hình 2
0
5
1 0
1 5
2 0
2 5
3 0
3 5
T h ờ i g i a n (n g à y )
N h ó m I
N h ó m I I
n h ó m I I I
N h ó m I V
Hình 2: Nồng độ TC huyết tương của các nhóm thỏ theo thời gian thực nghiệm
Chú thích: * P< 0,005 ** P< 0,001
4 HDL-C
- Tại ngày 0: nồng độ HDL- C huyết tương
của 4 nhóm thỏ thực nghiệm không có sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)
- Tại ngày 15 thực nghiệm nồng độ HDL- C
huyết tương tăng có ý nghĩa thống kê ở tất cả
các nhóm, nhóm I có nồng độ HDL- C trung
bình từ 0,60 ± 0,32 (mmol/ l) tăng lên 1,33± 0,64(mmol/ l) gấp khoảng 2.2 lần (p < 0,05) Nhóm IV nồng độ HDL - C tăng cao hơn một chút hơn từ 0,72 ± 0,12 (mmol/l) tăng lên 1,54
± 0,52 (mmol/ l) gấp khoảng 2.3 lần (p < 0,05)
- Nồng độ HDL - C huyết tương của các nhóm ở ngày 30 và ngày 45 thực nghiệm tiếp tục có biến động tăng hoặc giảm nhẹ
Trang 50 2
0 4
0 6
0 8 1
1 2
1 4
1 6
1 8 2
T h ờ i g i a n ( n g à y )
N h ó m I I
N h ó m I I I
N h ó m I V
Hình 3: Nồng độ HDL- C huyết tương của các nhóm thỏ theo thời gian thực nghiệm
5 LDL-C
0 5
1 0
1 5
2 0
2 5
3 0
T h ờ i g ia n (n g à y )
N h ó m I
N h ó m II
N h ó m III
N h ó m IV
Hình 4: Nồng độ LDL-C huyết tương của các nhóm thỏ theo thời gian thực nghiệm
Chú thích: * P< 0,005 ** P< 0,001
- Tại ngày 0: nồng độ LDL- C huyết tương của 4 nhóm thỏ thực nghiệm không có sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)
- Tại ngày 15: nồng độ LDL- C huyết tương của các nhóm thỏ tuy biến động tăng nhưng chưa có
sự khác biệt nhau có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) giữa các nhóm với nhau
- Tại ngày 30: nồng độ LDL- C huyết tương các nhóm III và IV tăng ở mức thấp và có sự khác biệt có ý nghĩa so với mức LDL- C của nhóm I (p < 0,05) ở cùng thời điểm
- Kết quả định lượng LDL - C huyết tương ở thời điểm ngày 45 cho thấy nồng độ LDL- C huyết tương ở nhóm I là cao nhất 25,87 ± 1,.22 (mmol/l), tiếp đến nhóm II là 23,59 ± 4,04 (mmol/l), nhóm III là 19,24 ± 5,08 (mmol/l), thấp nhất ở nhóm IV 16,62 ± 4,67 (mmol/l) Nồng độ LDL - C huyết tương của nhóm IV giảm rất nhiều so với nhóm I (p < 0.01) và giảm so với nhóm II (p < 0,05)
Trang 66 Tỷ số LDL-C/HDL-C
L- C của các nhóm thỏ theo thời gian thực nghiệm
C
- C/ HDL- C của 4 nh
LDL- C/ HDL-
C
Lá chè xanh chứa nhiều thành phần hoá học
khác nhau, nhưng thành phần chủ yếu đã được
8] Một trong những tác dụng của Polyphenol chè xanh là khả
ng rối loạn lipid máu và VX
quan trọng đánh giá tình trạng chuyển hoá lipid
0 2 4 6 8
1 0
1 2
1 4
1 6
1 8
2 0
T h ờ i g i a n ( n g à y )
N h ó m I
N h ó m I I
N h ó m I I I
N h ó m I V
Hình 5: Tỷ số LDL-C/ HD
Kết quả nghiên cứu về tỷ số LDL- C/ HDL- xác định là các polyphenol [
của 4 nhóm thỏ theo thời gian thực nghiệm
được minh hoạ ở biểu đồ 5
- Tại ngày 0: Tỷ số LDL
óm thỏ thực nghiệm không có sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)
- Tại ngày 15, 30, 45: Tỷ số
của tất cả các nhóm thỏ đều cao hơn so với
trước thực nghiệm (ngày 0) rất nhiều (p <
0,01) So sánh tỷ số LDL- C/ HDL- C của 4
nhóm thỏ (nhóm I, II, III, IV) với nhau tại các
thời điểm đánh giá đều không thấy sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê (p > 0,05), nhưng đã thấy
tỷ số trung bình của LDL- C/ HDL- C ở các
nhóm thỏ uống bổ sung dịch chiết chè xanh
(nhóm II, III, IV) thấp hơn tỷ số trung bình của
LDL- C/ HDL- C ở nhóm thỏ uống cholesterol
đơn thuần (nhóm I), đặc biệt ở thời điểm ngày
45, tỷ số trung bình của LDL- C/ HDL- C ở
nhóm thỏ uống cholesterol đơn thuần (nhóm I)
là cao nhất 17,20 ± 5,93, các nhóm thỏ uống bổ
sung dịch chiết chè xanh liều 50 mg; 100
mg/kg/ ngày (nhóm II, III) thấp hơn 15,12 ±
2,71; 11,24 ± 2,80, và nhóm thỏ uống bổ sung
dịch chiết chè xanh liều cao 150 mg/kg/ ngày
(nhóm IV) là thấp nhất 9,84 ± 3,11
IV Bàn luận
năng phòng chố
ĐM [6] Nồng độ TG huyết tương của các nhóm thỏ uống cholesterol đều tăng dần theo thời gian thực nghiệm, chứng tỏ mô hình thực nghiệm cho thỏ uống cholesterol đã ảnh hưởng
đến chuyển hoá lipid thỏ theo như mong muốn Tuy nhiên, kết quả cho thấy: cần sau một thời gian đáng kể (ngày thứ 30) thì nồng độ TG huyết tương ở các nhóm thỏ uống cholesterol mới có sự khác biệt rõ so với nồng độ TG huyết tương ở thời điểm trước khi uống (ngày 0) Nồng độ TG huyết tương giữa các nhóm I, II, III ở ngày 15, 30, 45, không có sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê; nhưng nồng độ TG huyết tương của nhóm IV giảm nhiều ở ngày 30 và khác có ý nghĩa thống kê ở ngày 45 so với nồng độ TG huyết tương của nhóm thỏ I Như vậy dịch chiết chè xanh chỉ có tác dụng rõ đến
sự thay đổi nồng độ TG huyết tương thỏ với liều cao (150mg/kg/ngày) và thời gian dài (45 ngày) Điều này cho phép đưa ra một suy luận rằng: uống dịch chiết chè xanh với những liều lượng thấp như ở nhóm thỏ II và III (50 mg hoặc 100mg/ kg/ ngày) sẽ đòi hỏi thời gian uống lâu hơn, trên 45 ngày mới có thể dẫn đến những thay đổi khác biệt rõ rệt
Thành phần TC huyết tương là một yếu tố
Trang 7của cơ thể và nguy cơ các bệnh tim mạch ở
thời điểm trước thực nghiệm (ngày 0), nồng độ
TC
g của nhóm thỏ chỉ
uốn
ú ý, LD
m chưa có sự khá
nghiệm thu được trong nghiên cứu này
huyết tương của 4 nhóm thỏ không có sự
khác biệt Tại các ngày 15, 30, 45 nồng độ TC
huyết tương của các nhóm thỏ uống cholesterol
(nhóm I, II, III, IV) đều tăng cao dần tới trên
10 lần so với nồng độ TC huyết tương của
chúng ở ngày 0 Tại ngày 15, nồng độ TC
huyết tương của các nhóm thỏ là chưa có sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê khi so với nhau
Như vậy dịch chiết chè xanh ở tất cả các liều
cho thỏ uống chưa hoặc không có tác dụng đối
với sự tăng nồng độ TC huyết tương thỏ Nồng
độ TC huyết tương của các nhóm thỏ ở ngày
thứ 30 đều cao hơn nồng độ TC huyết tương ở
ngày 15 và tương tự, nồng độ TC huyết tương ở
ngày 45 cao hơn nồng độ TC huyết tương ở
ngày 30, đủ chỉ rõ sự tăng dần của TC huyết
tương theo thời gian ở tất cả các nhóm thỏ uống
cholesterol Tác dụng của dịch chiết chè xanh
trên nồng độ TC huyết tương thỏ đã thể hiện ở
ngày thứ 30 bằng các chỉ số TC huyết tương ở
các nhóm thỏ uống cholesterol cùng dịch chiết
chè xanh tăng không cao bằng nhóm thỏ không
uống thêm dịch chiết chè xanh (nhóm I) Điều
đáng chú ý là mặc dù nồng độ TC huyết tương
ở nhóm thỏ IV uống dịch chiết chè xanh với
liều 150mg/kg/ngày vẫn tăng theo thời gian khi
cho thỏ cùng uống cholesterol, nhưng sự tăng
nồng độ TC huyết tương ở nhóm thỏ này không
cao bằng sự tăng TC huyết tương ở các nhóm
thỏ khác và nồng độ TC huyết tương của nhóm
thỏ IV thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với
nồng độ TC huyết tương ở nhóm thỏ I (uống
cholesterol nhưng không uống dịch chiết chè
xanh) Kết quả này hoàn toàn phù hợp với các
kết quả về nồng độ TG huyết tương như đã
trình bày ở trên, dịch chiết chè xanh cũng chỉ
có tác dụng rõ rệt đến nồng độ TC huyết tương
thỏ ở liều 150mg/kg/ngày
Kết quả về HDL- C huyết tương của nhóm
thỏ được uống dịch chiết chè xanh với liều cao
150 mg/kg/ngày (nhóm IV) tăng cao hơn so với
nồng độ HDL- C huyết tươn
g cholesterol (nhóm I) nhưng sự khác biệt cũng chưa có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)
Trái ngược với kết quả HDL- C huyết tương, tác dụng của dịch chiết chè xanh trên sự biến
đổi về nồng độ LDC- C huyết tương của các nhóm thỏ uống cholesterol là rất đáng ch L- C được coi là cholesterol “xấu”, nồng độ LDL - C tăng cao trong máu phản ánh sự ứ
đọng cholesterol ở các mô và có liên quan trực tiếp đến bệnh VXĐM [4] Kết quả định lượng LDL - C huyết tương ngày 30 cho thấy dịch chiết chè xanh đã có tác dụng làm giảm mức tăng LDL- C huyết tương ở các nhóm thỏ uống
bổ sung dịch chiết liều 100mg và 150mg/kg/ngày ở ngày 45 chỉ có nhóm thỏ uống dịch chiết chè xanh liều cao 150mg/kg/ngày làm hạ thấp có ý nghĩa mức tăng LDL- C huyết tương Lượng dịch chiết chè xanh mà nhóm thỏ uống càng cao thì mức tăng LDL- C huyết tương ở nhóm thỏ đó càng thấp
và ngược lại Đồng thời, thời gian được uống dịch chiết chè xanh của từng nhóm càng dài cũng làm cho mức tăng LDL- C huyết tương của chúng giảm đi Tác dụng của dịch chiết chè xanh trên LDL- C huyết tương của thỏ được thể hiện rõ ở liều 100mg và 150mg/kg/ngày và ở -ngày thứ 30 và 45 (biểu đồ 3.4)
Kết quả cũng đã phản ánh là dịch chiết chè xanh có tác dụng có lợi, bảo vệ cơ thể đối với rối loạn chuyển hoá lipid thông qua giảm tỷ số LDL- C/ HDL- C, mặc dù sự giả
c biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm thỏ Theo chúng tôi, nếu cho thỏ uống dịch chiết chè xanh với liều lớn hơn, chia nhiều lần uống trong ngày hơn có thể gây sự giảm tỷ số LDL- C/ HDL- C có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
Tóm lại, mặc dù còn có những nghiên cứu chưa hoàn toàn thống nhất về tác dụng của chè xanh đối với lipid máu, những kết quả nghiên cứu thực
đã chứng tỏ tác dụng quí báu có lợi của dịch chiết chè xanh đối với chuyển hoá lipid Những nghiên cứu tiếp theo về tác dụng của
Trang 8dịch chiết chè xanh một cách đầy đủ hơn, toàn
diện hơn, cũng như nghiên cứu tìm hiểu cơ chế
tác` dụng của polyphenol chè trong việc ngăn
ngừa bệnh VXĐM là cần thiết để có thể đưa ra
lời khuyến cáo thuyết phục về tác dụng của chè
xanh
IV Kết luận
Từ những kết quả thực nghiệm thu được,
chúng tôi có những kết luận sau:
1 Dịch chiết chè xanh có tác dụng làm
yển hoá lipid thể hiện ở mức
độ
g cholesterol má
nhất của dịch chiết chè xan
Nguyễn Thị Hà (2002), Chiết xuất và đánh giá
nh Việt
ph
hạ
Nguyễn Xuân Thiều (19
r dri
(1990),
“Fl
sumption and
al and physicochemical pro
mmary
that green tea extract reduced a lipid metabolism disorders by improving of plasma TG, TC,
LDL-C
giảm rối loạn chu
cải thiện các chỉ số TG, TC, LDL - C huyết
tương bị rối loạn ở thỏ gây tăn
u thực nghiệm
2 Mức tiêu thụ dịch chiết chè xanh có liên
quan đến các chỉ số TG, TC, LDL - C huyết
tương ở thỏ gây tăng cholesterol máu thực
nghiệm Tác dụng rõ
h thể hiện ở liều 150 mg/ kg/ ngày
Tài liệu tham khảo
1 Đặng Ngọc Dung, Phạm Thiện Ngọc,
sơ bộ thành phần polyphenol lá chè xa
chí Nghiên cứu Y học, (2) tr
2 Nguyễn Thanh Dương, Lê Thị Hà, Phan
Văn Chi, Nguyễn Bích Nhi, Đoàn Hùng Tiến,
và cộng sự (1997), Tác dụng chống phóng xạ,
giảm cholesterol của chế phẩm từ chè xanh,
ylamin và ngưu tất Hoá sinh Y học, Hội Y
Dược học Việt Nam, tr 13- 17
3 Đoàn Thị Nhu và cộng sự (1998),
“Nghiên cứu dược lý cây ngưu tất về tác dụng
Su
cholesterol máu và hạ huyết áp”, Tạp chí Dược học, số1, tr 11-13
4 Lê Đức Trình, Lương Tấn Thành, Phạm Khuê, Nguyễn Thị Hà,
95), Những thông số hoá sinh trong chẩn
đoán bệnh tim mạch, Chẩn đoán sinh học một
số bệnh nội khoa, Nhà xuất bản Y học, 20-34
5 Chu DC (1997), “Green tea- its cultivation, processing of the leaves fo nking materials, and kind of green tea”, Chemistry and applications of green tea, CRC Press, Boca Raton- New York, pp 1-9
6 De Whalley C V, Rankin S M, Hoult J.R.S, Jessup W, Leake D S
avonoids inhibit the oxidative modification
a low density lipoproteins by macrophases,” Biochem Pharmacol, pp 1743-1750
7 Kono S, Shinchi K, Ikeda N, Yanai F, Imanishi K (1992), “Green tea con
serum lipid profiles: a cross- sectional study in Northern Kyushu, Japan”, Prev Med, (21), pp.531- 562
8 Ninomiya M, Unten L, and Kim M (1997), “Chemic
perties of green tea polyphenol”, Chemistry and applications of green tea, CRC Press, Boca Raton- New York, pp 23-36
9 Roberts J A: (1995), “Effects of drinking green tea”, BMJ, (311), pp 513
green metabolism in rabit drinked cholesterol
effects of Vietnamese green tea extract on lipid metabolism disorders in rab
Effect of green tea extract on plasma lipid metabolism disorders depends on doses and drinking periods Among doses of used green tea extract; dose of 150 mg/kg/day had a best effect on lipid metabolism