1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác dụng của dịch chiết chè xanh Việt Nam trên rối loạn chuyển hóa Lipid ở thỏ uống Cholesterol doc

8 714 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác dụng của dịch chiết chè xanh Việt Nam trên rối loạn chuyển hóa lipid ở thỏ uống cholesterol
Tác giả Nguyễn Thị Hà, Phạm Thiện Ngọc, Đặng Ngọc Dung, Trần Thị Hương
Trường học Trường Đại học Y Hà Nội
Chuyên ngành Hóa sinh
Thể loại Bài báo
Năm xuất bản 2003
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 241 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác dụng của dịch chiết chè xanh Việt Nam trên rối loạn chuyển hoá lipid ở thỏ uống cholesterol Nguyễn Thị Hà 1 , Phạm Thiện Ngọc 1 Đặng Ngọc Dung 1 , Trần Thị Hương 2 1 Bộ môn Hoá sinh

Trang 1

Tác dụng của dịch chiết chè xanh Việt Nam trên rối loạn chuyển hoá lipid ở thỏ uống cholesterol

Nguyễn Thị Hà 1 , Phạm Thiện Ngọc 1

Đặng Ngọc Dung 1 , Trần Thị Hương 2

1 Bộ môn Hoá sinh, Trường Đại học Y Hà Nội

2 Trường Cao đẳng Y tế Nam Định

Nghiên cứu tác dụng của dịch chiết chè xanh Việt Nam đối với rối loạn chuyển hoá lipid ở thỏ gây tăng cholesterol thực nghiệm đã chứng minh rằng: dịch chiết chè xanh có tác dụng làm giảm rối loạn chuyển hoá lipid thông qua việc cải thiện các chỉ số TG, TC, LDL-C huyết tương Tác dụng của dịch chiết chè xanh trên chuyển hoá lipid huyết tương thỏ phụ thuộc liều uống và thời gian cho uống Tác dụng rõ nhất của dịch chiết chè xanh thể hiện ở liều 150 mg/kg/ngày

I Đặt vấn đề

Chè xanh là nước uống giải khát rất phổ

biến ở các nước Châu á Theo y học cổ truyền,

chè xanh còn có tác dụng như một loại thuốc

phòng chống các bệnh lý tim mạch [7] Gần

đây nhiều nhà khoa học rất quan tâm nghiên

cứu về chè xanh, và sự hiểu biết về chè xanh

trên cơ sở khoa học hiện đại cũng được sáng tỏ

dần Chè xanh có 2 loài: Camellia assamica

(thân cao, lá to) và Camellia sinensis (thân là

loại cây bụi rậm, lá nhỏ) [5] Các thành phần

hoá học của dịch chiết chè xanh cùng một số

tác dụng dược lý của chúng đã được biết

Polyphenol là thành phần quan trọng của lá chè

xanh chiếm khoảng 6-16% trọng lượng khô của

lá chè Polyphenol chè xanh gồm có Catechin

và các dẫn xuất của nó có hàm lượng khác

nhau tuỳ loài chè và mùa thu hoạch

Polyphenol của dịch chiết chè xanh có nhiều

tác dụng quý trong Y sinh học, trong đó có tác

dụng bảo vệ đối với các quá trình bệnh lý tim

mạch Mối liên quan giữa mức tiêu thụ chè

xanh với lipid huyết thanh đã được đề cập đến

trong một số tài liệu trên thế giới [7]

Nghiên cứu về chè xanh và Polyphenol chè

xanh cũng đã được thực hiện ở Việt Nam

Nguyễn Liêm và cs nghiên cứu tác dụng chống

oxy hoá trên invitro của một số cây thuốc Việt

Nam, trong đó có đề cập đến vai trò của chè xanh Nguyễn Thanh Dương và cs đã nêu lên tác dụng chống phóng xạ và làm giảm cholesterol máu của chè xanh ở chuột [2] Tuy nhiên, những nghiên cứu về chè xanh Việt Nam chưa nhiều, đặc biệt đánh giá về tác dụng của chè xanh trong Y học Vì vậy, đề tài nghiên cứu này nhằm mục tiêu sau:

Nghiên cứu tác dụng của dịch chiết chè xanh đến hàm lượng một số lipid huyết tương ở thỏ gây tăng cholesterol máu thực nghiệm Nghiên cứu xác định liều tối ưu có tác dụng cải thiện những chỉ số lipid bị rối loạn

II Chất liệu, đối tượng, phương pháp nghiên cứu

1 Chè xanh (Camellia sinensis)

Chè xanh được thu hái vào buổi sáng muà xuân (tháng 3-2001), những ngày trời nắng tại khu trồng chè xuất khẩu Hoà Lạc và được chiết xuất theo quy trình [3]

2 Đối tượng thực nghiệm

Thỏ đực, chủng Orytolagus Cuniculus, 12 tuần tuổi, khoẻ mạnh, có trọng lượng 2- 2,5kg/ con, do Trung tâm nghiên cứu Dê và Thỏ Ba Vì- Hà Tây cung cấp Thỏ được nuôi tại Bộ môn Hoá - Hoá sinh, đảm bảo tiêu chuẩn về dinh dưỡng, nhiệt độ, ánh sáng,… theo tài liệu

Trang 2

hướng dẫn của Trung tâm nghiên cứu Dê và

Thỏ

3 Hoá chất

Ethylacetat, Cholesterol, Heparin nhận từ

hãng Merck (CHLB Đức)

Các kit định lượng: Cholesterol, triglycerid,

LDL- C, HDL- C, do các hãng Boehringer

Mannheim (CHLB Đức), cung cấp

4 Trang thiết bị

Máy cất quay chân không của hãng Buchi

(Thụy Sĩ)

Máy ly tâm lạnh Beckman Avanti 30 (Mỹ)

Quang kế Photometer 4010-hãng

Boehringer Mannheim (CHLB Đức)

Quang phổ kế Shimadzu UV- 160 (Nhật) và

một số trang thiết bị khác

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Tạo dịch chiết chè xanh

Quy trình chiết xuất đã được chúng tôi

công bố trong một công trình trước đây [1]

5.2 Mô hình thực nghiệm

*Mô hình gây tăng cholesterol máu:

áp dụng và cải tiến phương pháp gây tăng

cholesterol máu ngoại sinh của Đoàn Thị Nhu

và cộng sự [3]

Dầu cholesterol 20%: Cân 20g cholesterol -

đun nóng cách thuỷ khoảng 75 ml dầu lạc, cho

cholesterol vào dầu lạc, khuấy đều cho tan hết

cholesterol, để nguội, thêm dầu lạc vừa đủ

100ml, 1 ml dầu lạc chứa 0,2 g cholesterol

Cho thỏ uống 0,5 g cholesterol/kg thân

trọng (tức là 2,5 ml dung dịch cholesterol 20%/

kg thân trọng) trong một ngày bằng cách bơm

qua sonde vào miệng thỏ Uống liên tục trong

45 ngày

* Chia nhóm:

20 con thỏ đực được chia làm 4 nhóm (I, II,

III, IV), mỗi nhóm 5 con

+ Nhóm I: uống cholesterol đơn thuần

+ Nhóm II, III, IV: uống cholesterol, sau 2 giờ được uống thêm dịch chiết chè xanh theo liều lượng như sau: nhóm II: 50 mg dịch chiết/

kg /ngày, nhóm III: 100 mg dịch chiết/ kg/ ngày, nhóm IV: 150 mg dịch chiết/ kg/ngày

* Lấy mẫu máu: Các nhóm thỏ được lấy máu vào các thời điểm ngày 0, ngày 15, ngày

30, ngày 45 để xác định các chỉ số TG, TC, HDL- C, LDL- C Tại các ngày lấy máu xét nghiệm, không cho thỏ uống cholesterol; và dịch chiết chè xanh

5.3 Các kỹ thuật sử dụng

* Chuẩn bị bệnh phẩm: Huyết tương chống

đông bằng heparin, không vỡ hồng cầu

* Định lượng TG, TC, HDL- C, LDL- C: theo phương pháp đo mầu enzym trên quang kế Photometer 4010 của hãng Boehringer Mannheim (CHLB Đức) Kết quả tính dựa vào nồng độ mẫu

+ Định lượng triglycerid:

Theo phương pháp GPO- PAP (Trin.P (1969) Ann Clin Biochem.6: 24)

+ Định lượng cholesterol toàn phần:

Theo phương pháp CHOD - PAP (Trin.P (1969).Ann Clin Biochem 6:24)

+ Định lượng HDL- C:

Nguyên tắc: LDL, VLDL và CM bị kết tủa khi thêm vào huyết tương phosphotungstic acid

và ion Mg2+ Ly tâm để chỉ có HDL trong dịch nổi Định lượng cholesterol trong dịch nổi bằng phương pháp CHOD - PAP

+ Định lượng LDL - C:

Nguyên tắc: LDL bị kết tủa khi thêm vào huyết thanh Heparin và Natricitrat Ly tâm để loại bỏ LDL ra khỏi dịch nổi Định lượng cholesterol trong dịch nổi bằng phương pháp CHOD - PAP

Tính kết quả:

LDL- C (mmol/l) = Cholesterol toàn phần - Cholesterol dịch nổi

Trang 3

6 Xử lý kết quả nghiên cứu

Các số liệu nghiên cứu được xử lý theo thuật

toán thống kê y sinh học EPI INFO Các phép

so sánh có p < 0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê

III Kết quả

1 Cân nặng của các nhóm thỏ

Bảng 1: Cân nặng của các nhóm thỏ theo thời gian thực nghiệm (kg)

Thời gian nghiên cứu Nhóm thỏ n

Ngày 0 (X± SD)

Ngày 15 (X ± SD)

Ngày 30 (X ± SD)

Ngày 45 (X ± SD) Nhóm I 5 2,1 ± 0,14 2,28 ± 0,23 2,4 ± 0,29 2,44 ± 0,21 Nhóm II 5 2,42 ± 0,19 2,52 ± 0,23 2,58 ± 0,22 2,7 ± 0,22 Nhóm III 5 2,16 ± 0,11 2,44 ± 0,12 2,58 ± 0,15 2,7 ± 0,12 Nhóm IV 5 2,14 ± 0,20 2,3 ± 0,24 2,42 ± 0,22 2,52 ± 0,22 Chú thích:

Nhóm I: uống cholesterol đơn thuần

Nhóm II; III; IV: Uống cholesterol và

50mg; 100mg; 150mg dịch chiết chè xanh

/kg/ngày

Nhận xét:

Trong quá trình thực nghiệm, các con thỏ

đều lớn nhanh: ngày đầu tiên thực nghiệm

(ngày 0) cân nặng trung bình của các nhóm thỏ

đều xấp xỉ 2,1 kg, trừ nhóm II có cân nặng trung bình là 2,42 kg; ngày thực nghiệm cuối cùng (ngày 45) cân nặng trung bình của các nhóm từ 2,44 đến 2,70 kg Cân nặng trung bình của các nhóm thỏ tại các mốc thời gian nhất

định của quá trình thực nghiệm (ngày 0, ngày

15, ngày 30 và ngày 45) đều không có sự khác biệt nhau có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

2 Triglycerid (TG)

0

0.5

1

1.5

2

2.5

T h ờ i g ia n ( n g à y)

N h ó m I I

N h ó m I I I

N h ó m I V

Hình1: Nồng độ TG huyết tương của các nhóm thỏ theo thời gian thực nghiệm

Chú thích: * p < 0,005 Tại ngày bắt đầu thực nghiệm (ngày 0)

nồng độ TG huyết tương của các nhóm thỏ không có sự khác biệt có ý nghĩa (p > 0,05)

Trang 4

Nồng độ TG của các nhóm thỏ uống

cholesterol và uống cholesterol cùng dịch chiết

polyphenol chè xanh với các liều lượng khác

nhau đều tăng dần theo thời gian thực nghiệm,

tuy nhiên mức độ tăng có khác nhau: - Nồng độ

TG giữa các nhóm I, II, III tại ngày 15, 30, 45

không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p >

0,05) Nồng độ TG huyết tương của nhóm IV

giảm nhiều ở ngày 30 và khác biệt có ý nghĩa

thống kê ở ngày 45 (p < 0,05) so với nồng độ

TG huyết tương của nhóm thỏ I

3 Cholesterol toàn phần (TC)

- ở ngày 0: nồng độ TC huyết tương của

các nhóm thỏ không có sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê (p > 0,05)

- ở các ngày 15, 30, 45: nồng độ TC huyết

tương của nhóm thỏ uống cholesterol và các

nhóm thỏ uống cholesterol cùng dịch chiết

polyphenol chè xanh với những liều khác nhau

đều tăng rất mạnh trên 10 lần so với mức TC huyết tương của chúng ở ngày 0

- ở ngày 30, nồng độ TC huyết tương của nhóm II, III, IV có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với của nhóm I nhưng không có sự khác biệt giữa các nhóm có uống thêm dịch chiết chè xanh (nhóm II, III, IV) với

p > 0,05

- ở ngày 45, nồng độ TC huyết tương của các nhóm không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05), riêng nồng độ TC của nhóm I và nhóm có uống thêm dịch chiết chè xanh liều cao (nhóm IV) có sự khác biệt rõ rệt với p < 0,01

Các kết quả về TC huyết tương ở các nhóm

được trình bày ở hình 2

0

5

1 0

1 5

2 0

2 5

3 0

3 5

T h ờ i g i a n (n g à y )

N h ó m I

N h ó m I I

n h ó m I I I

N h ó m I V

Hình 2: Nồng độ TC huyết tương của các nhóm thỏ theo thời gian thực nghiệm

Chú thích: * P< 0,005 ** P< 0,001

4 HDL-C

- Tại ngày 0: nồng độ HDL- C huyết tương

của 4 nhóm thỏ thực nghiệm không có sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

- Tại ngày 15 thực nghiệm nồng độ HDL- C

huyết tương tăng có ý nghĩa thống kê ở tất cả

các nhóm, nhóm I có nồng độ HDL- C trung

bình từ 0,60 ± 0,32 (mmol/ l) tăng lên 1,33± 0,64(mmol/ l) gấp khoảng 2.2 lần (p < 0,05) Nhóm IV nồng độ HDL - C tăng cao hơn một chút hơn từ 0,72 ± 0,12 (mmol/l) tăng lên 1,54

± 0,52 (mmol/ l) gấp khoảng 2.3 lần (p < 0,05)

- Nồng độ HDL - C huyết tương của các nhóm ở ngày 30 và ngày 45 thực nghiệm tiếp tục có biến động tăng hoặc giảm nhẹ

Trang 5

0 2

0 4

0 6

0 8 1

1 2

1 4

1 6

1 8 2

T h ờ i g i a n ( n g à y )

N h ó m I I

N h ó m I I I

N h ó m I V

Hình 3: Nồng độ HDL- C huyết tương của các nhóm thỏ theo thời gian thực nghiệm

5 LDL-C

0 5

1 0

1 5

2 0

2 5

3 0

T h ờ i g ia n (n g à y )

N h ó m I

N h ó m II

N h ó m III

N h ó m IV

Hình 4: Nồng độ LDL-C huyết tương của các nhóm thỏ theo thời gian thực nghiệm

Chú thích: * P< 0,005 ** P< 0,001

- Tại ngày 0: nồng độ LDL- C huyết tương của 4 nhóm thỏ thực nghiệm không có sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

- Tại ngày 15: nồng độ LDL- C huyết tương của các nhóm thỏ tuy biến động tăng nhưng chưa có

sự khác biệt nhau có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) giữa các nhóm với nhau

- Tại ngày 30: nồng độ LDL- C huyết tương các nhóm III và IV tăng ở mức thấp và có sự khác biệt có ý nghĩa so với mức LDL- C của nhóm I (p < 0,05) ở cùng thời điểm

- Kết quả định lượng LDL - C huyết tương ở thời điểm ngày 45 cho thấy nồng độ LDL- C huyết tương ở nhóm I là cao nhất 25,87 ± 1,.22 (mmol/l), tiếp đến nhóm II là 23,59 ± 4,04 (mmol/l), nhóm III là 19,24 ± 5,08 (mmol/l), thấp nhất ở nhóm IV 16,62 ± 4,67 (mmol/l) Nồng độ LDL - C huyết tương của nhóm IV giảm rất nhiều so với nhóm I (p < 0.01) và giảm so với nhóm II (p < 0,05)

Trang 6

6 Tỷ số LDL-C/HDL-C

L- C của các nhóm thỏ theo thời gian thực nghiệm

C

- C/ HDL- C của 4 nh

LDL- C/ HDL-

C

Lá chè xanh chứa nhiều thành phần hoá học

khác nhau, nhưng thành phần chủ yếu đã được

8] Một trong những tác dụng của Polyphenol chè xanh là khả

ng rối loạn lipid máu và VX

quan trọng đánh giá tình trạng chuyển hoá lipid

0 2 4 6 8

1 0

1 2

1 4

1 6

1 8

2 0

T h ờ i g i a n ( n g à y )

N h ó m I

N h ó m I I

N h ó m I I I

N h ó m I V

Hình 5: Tỷ số LDL-C/ HD

Kết quả nghiên cứu về tỷ số LDL- C/ HDL- xác định là các polyphenol [

của 4 nhóm thỏ theo thời gian thực nghiệm

được minh hoạ ở biểu đồ 5

- Tại ngày 0: Tỷ số LDL

óm thỏ thực nghiệm không có sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)

- Tại ngày 15, 30, 45: Tỷ số

của tất cả các nhóm thỏ đều cao hơn so với

trước thực nghiệm (ngày 0) rất nhiều (p <

0,01) So sánh tỷ số LDL- C/ HDL- C của 4

nhóm thỏ (nhóm I, II, III, IV) với nhau tại các

thời điểm đánh giá đều không thấy sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê (p > 0,05), nhưng đã thấy

tỷ số trung bình của LDL- C/ HDL- C ở các

nhóm thỏ uống bổ sung dịch chiết chè xanh

(nhóm II, III, IV) thấp hơn tỷ số trung bình của

LDL- C/ HDL- C ở nhóm thỏ uống cholesterol

đơn thuần (nhóm I), đặc biệt ở thời điểm ngày

45, tỷ số trung bình của LDL- C/ HDL- C ở

nhóm thỏ uống cholesterol đơn thuần (nhóm I)

là cao nhất 17,20 ± 5,93, các nhóm thỏ uống bổ

sung dịch chiết chè xanh liều 50 mg; 100

mg/kg/ ngày (nhóm II, III) thấp hơn 15,12 ±

2,71; 11,24 ± 2,80, và nhóm thỏ uống bổ sung

dịch chiết chè xanh liều cao 150 mg/kg/ ngày

(nhóm IV) là thấp nhất 9,84 ± 3,11

IV Bàn luận

năng phòng chố

ĐM [6] Nồng độ TG huyết tương của các nhóm thỏ uống cholesterol đều tăng dần theo thời gian thực nghiệm, chứng tỏ mô hình thực nghiệm cho thỏ uống cholesterol đã ảnh hưởng

đến chuyển hoá lipid thỏ theo như mong muốn Tuy nhiên, kết quả cho thấy: cần sau một thời gian đáng kể (ngày thứ 30) thì nồng độ TG huyết tương ở các nhóm thỏ uống cholesterol mới có sự khác biệt rõ so với nồng độ TG huyết tương ở thời điểm trước khi uống (ngày 0) Nồng độ TG huyết tương giữa các nhóm I, II, III ở ngày 15, 30, 45, không có sự khác biệt có

ý nghĩa thống kê; nhưng nồng độ TG huyết tương của nhóm IV giảm nhiều ở ngày 30 và khác có ý nghĩa thống kê ở ngày 45 so với nồng độ TG huyết tương của nhóm thỏ I Như vậy dịch chiết chè xanh chỉ có tác dụng rõ đến

sự thay đổi nồng độ TG huyết tương thỏ với liều cao (150mg/kg/ngày) và thời gian dài (45 ngày) Điều này cho phép đưa ra một suy luận rằng: uống dịch chiết chè xanh với những liều lượng thấp như ở nhóm thỏ II và III (50 mg hoặc 100mg/ kg/ ngày) sẽ đòi hỏi thời gian uống lâu hơn, trên 45 ngày mới có thể dẫn đến những thay đổi khác biệt rõ rệt

Thành phần TC huyết tương là một yếu tố

Trang 7

của cơ thể và nguy cơ các bệnh tim mạch ở

thời điểm trước thực nghiệm (ngày 0), nồng độ

TC

g của nhóm thỏ chỉ

uốn

ú ý, LD

m chưa có sự khá

nghiệm thu được trong nghiên cứu này

huyết tương của 4 nhóm thỏ không có sự

khác biệt Tại các ngày 15, 30, 45 nồng độ TC

huyết tương của các nhóm thỏ uống cholesterol

(nhóm I, II, III, IV) đều tăng cao dần tới trên

10 lần so với nồng độ TC huyết tương của

chúng ở ngày 0 Tại ngày 15, nồng độ TC

huyết tương của các nhóm thỏ là chưa có sự

khác biệt có ý nghĩa thống kê khi so với nhau

Như vậy dịch chiết chè xanh ở tất cả các liều

cho thỏ uống chưa hoặc không có tác dụng đối

với sự tăng nồng độ TC huyết tương thỏ Nồng

độ TC huyết tương của các nhóm thỏ ở ngày

thứ 30 đều cao hơn nồng độ TC huyết tương ở

ngày 15 và tương tự, nồng độ TC huyết tương ở

ngày 45 cao hơn nồng độ TC huyết tương ở

ngày 30, đủ chỉ rõ sự tăng dần của TC huyết

tương theo thời gian ở tất cả các nhóm thỏ uống

cholesterol Tác dụng của dịch chiết chè xanh

trên nồng độ TC huyết tương thỏ đã thể hiện ở

ngày thứ 30 bằng các chỉ số TC huyết tương ở

các nhóm thỏ uống cholesterol cùng dịch chiết

chè xanh tăng không cao bằng nhóm thỏ không

uống thêm dịch chiết chè xanh (nhóm I) Điều

đáng chú ý là mặc dù nồng độ TC huyết tương

ở nhóm thỏ IV uống dịch chiết chè xanh với

liều 150mg/kg/ngày vẫn tăng theo thời gian khi

cho thỏ cùng uống cholesterol, nhưng sự tăng

nồng độ TC huyết tương ở nhóm thỏ này không

cao bằng sự tăng TC huyết tương ở các nhóm

thỏ khác và nồng độ TC huyết tương của nhóm

thỏ IV thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với

nồng độ TC huyết tương ở nhóm thỏ I (uống

cholesterol nhưng không uống dịch chiết chè

xanh) Kết quả này hoàn toàn phù hợp với các

kết quả về nồng độ TG huyết tương như đã

trình bày ở trên, dịch chiết chè xanh cũng chỉ

có tác dụng rõ rệt đến nồng độ TC huyết tương

thỏ ở liều 150mg/kg/ngày

Kết quả về HDL- C huyết tương của nhóm

thỏ được uống dịch chiết chè xanh với liều cao

150 mg/kg/ngày (nhóm IV) tăng cao hơn so với

nồng độ HDL- C huyết tươn

g cholesterol (nhóm I) nhưng sự khác biệt cũng chưa có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

Trái ngược với kết quả HDL- C huyết tương, tác dụng của dịch chiết chè xanh trên sự biến

đổi về nồng độ LDC- C huyết tương của các nhóm thỏ uống cholesterol là rất đáng ch L- C được coi là cholesterol “xấu”, nồng độ LDL - C tăng cao trong máu phản ánh sự ứ

đọng cholesterol ở các mô và có liên quan trực tiếp đến bệnh VXĐM [4] Kết quả định lượng LDL - C huyết tương ngày 30 cho thấy dịch chiết chè xanh đã có tác dụng làm giảm mức tăng LDL- C huyết tương ở các nhóm thỏ uống

bổ sung dịch chiết liều 100mg và 150mg/kg/ngày ở ngày 45 chỉ có nhóm thỏ uống dịch chiết chè xanh liều cao 150mg/kg/ngày làm hạ thấp có ý nghĩa mức tăng LDL- C huyết tương Lượng dịch chiết chè xanh mà nhóm thỏ uống càng cao thì mức tăng LDL- C huyết tương ở nhóm thỏ đó càng thấp

và ngược lại Đồng thời, thời gian được uống dịch chiết chè xanh của từng nhóm càng dài cũng làm cho mức tăng LDL- C huyết tương của chúng giảm đi Tác dụng của dịch chiết chè xanh trên LDL- C huyết tương của thỏ được thể hiện rõ ở liều 100mg và 150mg/kg/ngày và ở -ngày thứ 30 và 45 (biểu đồ 3.4)

Kết quả cũng đã phản ánh là dịch chiết chè xanh có tác dụng có lợi, bảo vệ cơ thể đối với rối loạn chuyển hoá lipid thông qua giảm tỷ số LDL- C/ HDL- C, mặc dù sự giả

c biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm thỏ Theo chúng tôi, nếu cho thỏ uống dịch chiết chè xanh với liều lớn hơn, chia nhiều lần uống trong ngày hơn có thể gây sự giảm tỷ số LDL- C/ HDL- C có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

Tóm lại, mặc dù còn có những nghiên cứu chưa hoàn toàn thống nhất về tác dụng của chè xanh đối với lipid máu, những kết quả nghiên cứu thực

đã chứng tỏ tác dụng quí báu có lợi của dịch chiết chè xanh đối với chuyển hoá lipid Những nghiên cứu tiếp theo về tác dụng của

Trang 8

dịch chiết chè xanh một cách đầy đủ hơn, toàn

diện hơn, cũng như nghiên cứu tìm hiểu cơ chế

tác` dụng của polyphenol chè trong việc ngăn

ngừa bệnh VXĐM là cần thiết để có thể đưa ra

lời khuyến cáo thuyết phục về tác dụng của chè

xanh

IV Kết luận

Từ những kết quả thực nghiệm thu được,

chúng tôi có những kết luận sau:

1 Dịch chiết chè xanh có tác dụng làm

yển hoá lipid thể hiện ở mức

độ

g cholesterol má

nhất của dịch chiết chè xan

Nguyễn Thị Hà (2002), Chiết xuất và đánh giá

nh Việt

ph

hạ

Nguyễn Xuân Thiều (19

r dri

(1990),

“Fl

sumption and

al and physicochemical pro

mmary

that green tea extract reduced a lipid metabolism disorders by improving of plasma TG, TC,

LDL-C

giảm rối loạn chu

cải thiện các chỉ số TG, TC, LDL - C huyết

tương bị rối loạn ở thỏ gây tăn

u thực nghiệm

2 Mức tiêu thụ dịch chiết chè xanh có liên

quan đến các chỉ số TG, TC, LDL - C huyết

tương ở thỏ gây tăng cholesterol máu thực

nghiệm Tác dụng rõ

h thể hiện ở liều 150 mg/ kg/ ngày

Tài liệu tham khảo

1 Đặng Ngọc Dung, Phạm Thiện Ngọc,

sơ bộ thành phần polyphenol lá chè xa

chí Nghiên cứu Y học, (2) tr

2 Nguyễn Thanh Dương, Lê Thị Hà, Phan

Văn Chi, Nguyễn Bích Nhi, Đoàn Hùng Tiến,

và cộng sự (1997), Tác dụng chống phóng xạ,

giảm cholesterol của chế phẩm từ chè xanh,

ylamin và ngưu tất Hoá sinh Y học, Hội Y

Dược học Việt Nam, tr 13- 17

3 Đoàn Thị Nhu và cộng sự (1998),

“Nghiên cứu dược lý cây ngưu tất về tác dụng

Su

cholesterol máu và hạ huyết áp”, Tạp chí Dược học, số1, tr 11-13

4 Lê Đức Trình, Lương Tấn Thành, Phạm Khuê, Nguyễn Thị Hà,

95), Những thông số hoá sinh trong chẩn

đoán bệnh tim mạch, Chẩn đoán sinh học một

số bệnh nội khoa, Nhà xuất bản Y học, 20-34

5 Chu DC (1997), “Green tea- its cultivation, processing of the leaves fo nking materials, and kind of green tea”, Chemistry and applications of green tea, CRC Press, Boca Raton- New York, pp 1-9

6 De Whalley C V, Rankin S M, Hoult J.R.S, Jessup W, Leake D S

avonoids inhibit the oxidative modification

a low density lipoproteins by macrophases,” Biochem Pharmacol, pp 1743-1750

7 Kono S, Shinchi K, Ikeda N, Yanai F, Imanishi K (1992), “Green tea con

serum lipid profiles: a cross- sectional study in Northern Kyushu, Japan”, Prev Med, (21), pp.531- 562

8 Ninomiya M, Unten L, and Kim M (1997), “Chemic

perties of green tea polyphenol”, Chemistry and applications of green tea, CRC Press, Boca Raton- New York, pp 23-36

9 Roberts J A: (1995), “Effects of drinking green tea”, BMJ, (311), pp 513

green metabolism in rabit drinked cholesterol

effects of Vietnamese green tea extract on lipid metabolism disorders in rab

Effect of green tea extract on plasma lipid metabolism disorders depends on doses and drinking periods Among doses of used green tea extract; dose of 150 mg/kg/day had a best effect on lipid metabolism

Ngày đăng: 25/03/2014, 03:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Cân nặng của các nhóm thỏ theo thời gian thực nghiệm (kg) - Tác dụng của dịch chiết chè xanh Việt Nam trên rối loạn chuyển hóa Lipid ở thỏ uống Cholesterol doc
Bảng 1 Cân nặng của các nhóm thỏ theo thời gian thực nghiệm (kg) (Trang 3)
Hình 3: Nồng độ HDL- C huyết tương của các nhóm thỏ theo thời gian thực nghiệm - Tác dụng của dịch chiết chè xanh Việt Nam trên rối loạn chuyển hóa Lipid ở thỏ uống Cholesterol doc
Hình 3 Nồng độ HDL- C huyết tương của các nhóm thỏ theo thời gian thực nghiệm (Trang 5)
Hình 4: Nồng độ LDL-C huyết tương của các nhóm thỏ theo thời gian thực nghiệm. - Tác dụng của dịch chiết chè xanh Việt Nam trên rối loạn chuyển hóa Lipid ở thỏ uống Cholesterol doc
Hình 4 Nồng độ LDL-C huyết tương của các nhóm thỏ theo thời gian thực nghiệm (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm