Tiểu luận phần VII Tư tưởng quân sự, ngoại giao Hồ Chí Minh LỜI MỞ ĐẦU Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà yêu nước vĩ đại, nhà hoạt động quốc tế xuất sắc, chiến sĩ tiên phong của phong trào giải phóng dân tộ[.]
Trang 1Tư tưởng quân sự và quan hệ quốc tế của Người là một di sản quý báu,
có ý nghĩa dân tộc và quốc tế to lớn
Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là một bộ phận hữu cơ cực kỳquan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt
Nam Đó không phải là tư tưởng thuần túy quân sự, mà luôn luôn là tư tưởng quân sự chính trị - tư tưởng quân sự xuất phát từ tư tưởng chính
trị, quân sự gắn bó chặt chẽ với chính trị, phục vụ cho những nhiệm vụchính trị, nhằm thực hiện những mục tiêu chính trị, bao quát nhất là giảiphóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, giành lại độclập cho dân tộc, tư do cho nhân dân, hạnh phúc cho mỗi con người Tưtưởng quân sự Hồ Chí Minh phản ánh những vẫn đề có tính quy luật củacách mạng bạo lực trong đấu tranh để giành và giữ chính quyền, trongkhởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng, trong việc xây dựng căn
cứ địa, hậu phương, đặc biệt là xây dựng các lực lượng vũ trang nhândân và nền quốc phòng toàn dân
Qua học tập, nghiên cứu tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, tôi
chọn đề tài: “Tìm hiểu tư tưởng dùng bạo lực cách mạng chống lại
Trang 2bạo lực phản cách mạng theo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh ” làm
tiểu luận hết học phần VII
vì nhân nghĩa, để cứu dân, cứu nước, đó là yêu cầu khách quan, không
có con đường nào khác Với vị trí chiến lược “đầu cầu lục địa và hảicảng giao tiếp” vô cùng quan trọng ở Đông Dương và Đông Nam á, đãtạo cho nước ta nhiều lợi thế trong phát triển, giao lưu kinh tế, văn hoá,
xã hội Nhưng cũng chính vị thế đó mà Tổ quốc ta cũng luôn luônđứng trước sự nhòm ngó, thôn tính, chia cắt, đồng hoá kéo dài thườngxuyên của các kẻ thù Hoàn cảnh đó cũng làm nổi bật sự kiên định bảo
vệ mục tiêu sống còn là độc lập và tự do của dân tộc ta Khác với một
số quốc gia trên thế giới, nhân dân ta coi việc bảo vệ độc lập, tự do làđộng lực lớn nhất, quyết tâm trụ vững với tinh thần “một tấc không đi,
Trang 3một ly không rời” Tinh thần đó xuyên suốt chiều dài lịch sử, nhưngkhông phải lúc nào chúng ta cũng giành thắng lợi, mà có lúc đã phảichịu thất bại An Dương Vương để mất nước Âu Lạc vào tay Triệu Đà(179 tr CN); Hồ Quý Ly thua nhà Minh để mất Đại Ngu (1407); triềuđình nhà Nguyễn để mất Đại Nam (1884) dẫn đến sự đô hộ của thựcdân Pháp v.v Trước những sự kiện đó, dân ta coi là một nỗi đau, nỗinhục mất nước và trăn trở rút ra những bài học kinh nghiệm, khơi dậytinh thần yêu nước, quyết giành lại giang sơn đã bị rơi vào tay kẻ thù.Điều đó cho thấy, dân tộc Việt Nam có ý chí, nghị lực phi thường,thắng không kiêu, bại không nản, khí phách hiên ngang, không bi luỵ,luôn luôn có tư tưởng vươn lên vượt mọi khó khăn, thử thách.
Quá trình đánh giặc giữ nước cũng là quá trình từng bước hìnhthành và phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam cả về chiến lược,chiến dịch và chiến thuật Nghệ thuật đó ra đời trong điều kiện nhândân ta luôn luôn phải chống lại kẻ thù xâm lược mạnh hơn mình nhiềulần Trước đây chống kẻ thù cùng chế độ phong kiến cũng thế và khichuyển sang chống xâm lược của các nước đế quốc, thì so sánh lựclượng càng chênh lệch hơn về binh lực, trang bị và vũ khí Thực tếkhách quan đòi hỏi phải xây dựng nền nghệ thuật quân sự đáp ứng yêucầu đánh thắng kẻ thù xâm lược phù hợp với thực lực và tính cách conngười Việt Nam Trải qua thời gian, nghệ thuật quân sự Việt Nam pháttriển ngày càng phong phú Thế kỷ thứ XI, trong cuộc kháng chiếnchống Tống lần hai, Lý Thường Kiệt đã chủ động động bất ngờ tiếncông địch ngay tại căn cứ chuẩn bị của chúng trên đất chúng, tạo điều
Trang 4kiện giành thắng lợi trận “quyết chiến chiến lược” trên sông NhưNguyệt Ba lần chống Nguyên Mông thời Trần (1258, 1285, 1287 –1288) đã “lấy đoản binh thắng trường trận”, thực hiện toàn dân đánhgiặc trên cơ sở nòng cốt của ba thứ quân, (quân triều đình, quân các lộ,hương binh và thổ binh) Nhà Trần đã giải quyết chiến tranh bằng hàngloạt trận đánh qua các giai đoạn: rút lui chiến lược, phản công, tiếncông để tiêu diệt quân xâm lược Lê Lợi – Nguyễn Trãi chống quânMinh (1418 – 1427) đã xây dựng lực lượng từ nhỏ đến lớn, vừa khángchiến, vừa xây dựng, mở rộng căn cứ địa, kết hợp tác chiến với địchvận, lấy ít đánh nhiều Bước sang thế kỷ XVIII, Nguyễn Huệ đã cócông phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam lên một bước mới Cácbinh chủng (thủy binh, pháo binh, tượng binh) được tăng cường và có
sự phối hợp tác chiến với bộ binh Trên chiến trường xuất hiện nhiềutrận tiến công thần tốc, táo bạo, bất ngờ Tiếp theo là cuộc chiến đấuchống các nước đế quốc xâm lược đã phát triển và hoàn thiện nghệthuật quân sự Việt Nam, nhất là từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời
và lãnh đạo cách mạng Như vậy, nghệ thuật quân sự Việt Nam đã từngbước được hình thành và phát triển qua nhiều thế hệ trong quá trìnhdựng nước và giữ nước Đến thời đại Hồ Chí Minh, nghệ thuật đó đãbao hàm những nội dung chủ yếu sau đây: “Toàn dân đánh giặc, lấylực lượng vũ trang làm nòng cốt; quán triệt tư tưởng tiến công; giànhgiữ quyền chủ động; phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhândân; lấy ít địch nhiều, nhỏ đánh lớn, đồng thời biết tập trung lực lượngkhi cần thiết, luôn luôn đánh địch trên thế mạnh; dùng sức mạnh cả lực
Trang 5và thế, phát huy cao nhất khả năng của thế trong việc kết hợp với lựctạo sức mạnh lớn ”.
Hồ Chí Minh là một người chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất và cócông nâng truyền thống quân sự, truyền thống đánh giặc giữ nước,nghệ thuật quân sự Việt Nam lên tầm cao mới, với chất lượng mới.Nhận định điều này không phải là võ đoán mà từ quá trình hình thành
tư tưởng quân sự, phong cách tư duy quân sự của Người, qua sự chỉđạo các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giành độc lập và bảo vệ Tổquốc, qua sự chỉ dẫn của Người đối với cán bộ chủ chốt của Đảng, Nhànước và các tướng lĩnh của Quân đội nhân dân Việt Nam Khi trởthành lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Người lại càng quan tâm phát triểnnhững kết quả tổng kết này và vận dụng trong hoạch định đường lốiquân sự và chỉ đạo hoạt động quân sự Võ Nguyên Giáp, người học tròxuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lĩnh vực quân sự , đã nhiềunăm làm việc trực tiếp với Người nêu rõ “di sản quân sự oanh liệt độcđáo và phong phú của dân tộc ta, trải qua các cuộc khởi nghĩa, chiếntranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc: chống phong kiếnphương Bắc xâm lược đã được Người kế thừa, vận dụng và phát triểnsáng tạo trong điều kiện mới” Thực tiễn chiến tranh cách mạng ở nước
ta đã chứng tỏ phong cách tư duy quân sự Hồ Chí Minh bắt nguồn từnhững tinh hoa quân sự Việt Nam Hoàng Minh Thảo viết: “Người kếthừa truyền thống đấu tranh giữ nước của dân tộc, tiếp thu có chọn lọcnhững tinh hoa quân sự Đông – Tây kim cổ để tìm ra cách đánh phùhợp, giành thắng lợi cho cuộc chiến tranh cách mạng của dân tộc” Đó
Trang 6cũng là quan điểm chung của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứuquân sự ở nước ta hiện nay.
2 Học thuyết quân sự mácxít, cơ sở chủ yếu hình thành tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh
Học thuyết về chiến tranh và quân đội, là hệ thống lý luận, quanđiểm của chủ nghĩa Mác Lênin về những vấn đề cơ bản của chiến tranh
và quân đội Học thuyết đó xác định chiến tranh là kế tục của chính trịbằng thủ đoạn bạo lực và quân đội là một yếu tố của kiến trúc thượngtầng chính trị, một bộ phận đặc thù của nhà nước, công cụ chủ yếu củađấu tranh vũ trang và chiến tranh; lý giải khoa học về nguồn gốc,nguyên nhân, bản chất, tính chất của chiến tranh, mối quan hệ củachiến tranh với chính trị, xã hội ; vạch rõ nguồn gốc, bản chất chínhtrị và chức năng của quân đội và nguyên tắc xây dựng quân đội kiểumới của giai cấp vô sản; khẳng định vai trò của Đảng Cộng sản lãnhđạo chiến tranh và quân đội
Lý luận quân sự nêu trên của các nhà kinh điển đã được Hồ ChíMinh tiếp thu cùng với quá trình nghiên cứu, học tập Học thuyết cáchmạng của chủ nghĩa Mác Lênin, đặc biệt trong thời kỳ Người học ở
“Trường Quốc tế Lênin” (1934) và nghiên cứu sinh Ban sử “Việnnghiên cứu các vấn đề dân tộc phương Đông” (1935 – 1938) Đối với
Hồ Chí Minh, nghiên cứu tiếp thu lý luận quân sự mácxít không mụcđích trở thành nhà quân sự, mà vì yêu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp,cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của dân tộc Người, đó là một bộ
Trang 7phận không thể thiếu trong học thuyết cách mạng của giai cấp vô sản
để chỉ dẫn phương pháp đấu tranh, phương pháp giành thắng lợi tronggiành và giữ chính quyền, bảo vệ tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng
Huấn luyện “Đường cách mệnh” cho những lớp cán bộ cáchmạng đầu tiên, Hồ Chí Minh quan tâm truyền đạt đến họ tinh thần cơbản của Học thuyết quân sự vô sản một cách cụ thể, thiết thực, sángtạo, gắn liền với hoàn cảnh lịch sử Giải thích vì sao nước ta phải tiếnhành “Dân tộc cách mệnh” và con đường cách mạng bạo lực là tất yếucủa cuộc cách mạng này, Người nói là do “bọn cường quyền này bắtdân tộc kia làm nô lệ, như Pháp với An Nam Đến khi dân nô lệ âý chịukhông nổi nữa, tỉnh ngộ lên, đoàn kết lại, biết rằng thà chết được tự dohơn sống làm nô lệ, đồng tâm hiệp lực đánh đuổi tụi áp bức mình đi”.Người đánh giá dân chúng có sức mạnh rất to lớn, nhưng muốn đạtđược điều đó “phải đoàn kết dân chúng, chứ không phải chỉ nhờ 5, 7người, giết 2, 3 anh vua, 9, 10 anh quan là được” Người chỉ dẫn chocán bộ ta phải cảnh giác không nên rơi vào quan điểm “vũ khí luận”của giai cấp tư sản, “dân khí mạnh, thì quân lính nào, súng ống nàocũng không chống lại được” Để khắc phục quan điểm sai lầm này phảicoi trọng công tác dân vận, ra sức tập hợp lực lượng và tổ chức dânchúng lại Cách làm đó rất phù hợp với so sánh lực lượng địch ta, nhất
là trong thời kỳ chuẩn bị khởi nghĩa Phương pháp huấn luyện quân sựcủa Hồ Chí Minh tạo cho cán bộ ta dễ nhớ, dễ hiểu và hiểu sâu sắc, bởimỗi luận điểm tư tưởng, lý luận đều được gắn với hoàn cảnh lịch sửnhất định và với mỗi quốc gia
Trang 8Tiếp thu Học thuyết quân sự Mácxít của các nhà kinh điển MácLênin, Người đã viết các tác phẩm: “Con đường giải phóng” (1940);
“Cách đánh du kích” (4 tập 1941 – 1944); “Kinh nghiệm du kích Tầu”;
“Kinh nghiệm du kích Nga”; dịch và giới thiệu “Binh pháp của ôngTôn Tử” (1945) làm tài liệu huấn luyện cán bộ Tư duy quân sự vàphong cách tư duy quân sự còn được thể hiện trong thực tiễn chỉ đạokhởi nghĩa và chiến tranh, ở sự hoạt động phong phú, sáng tạo củanhững học trò của Người trong hoạt động quân sự Sự chỉ dẫn củaNgười đối với Tổng tư lệnh quân đội và Người cho những ý kiến đểTổng Bí thư Trường Chinh viết tác phẩm “Kháng chiến nhất địnhthắng lợi” đã chứng tỏ điều đó
Nhìn lại phương pháp và nội dung huấn luyện quân sự, các tácphẩm quân sự của Người viết và dịch, sự chỉ dẫn của Người về lãnhđạo, chỉ huy quân sự cho cán bộ Đảng, Nhà nước, Quân đội, ta thấy
Hồ Chí Minh có sự kế thừa rõ nét tư tưởng quân sự và phong cách tưduy quân sự của các nhà mácxít Nghệ thuật quân sự và giải quyếtnhững vấn đề quân sự luôn luôn hướng tới thực hiện mục tiêu cáchmạng; quán triệt tư duy biện chứng trong lĩnh vực quân sự; lý luậnquân sự không tách rời thực tiễn; quyết tâm lớn, sáng tạo cao trong giảiquyết các tình huống quân sự được Hồ Chí Minh kế thừa và nâng lêntầm cao mới, phù hợp với nghệ thuật quân sự phương Đông và ViệtNam
Trang 93 Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh hình thành và phát triển trên cơ sở tiếp thu tinh hoa quân sự của thế giới
Trong thời kỳ ở Pháp, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu nền quân sựPháp, kẻ thực dân đang thống trị nước ta Người ca ngợi dân tộc Pháp
có tinh thần ái quốc “Dân Pháp tuy lương thực ít, súng ống thiếu,nhưng nhờ gan cách mệnh mà trong dẹp nội loạn, ngoài phá cườngquyền Hồi âý lính cách mệnh gọi là “lính không quần” (không đượctrang bị quần ngắn như quân đội quý tộc), người không có nón, kẻkhông có giày, áo quần rách tua, mặt gầy bụng đói Thế mà lính ấy đếnđâu, thì lính ngơại quốc thua đấy, vì họ gan liều hy sinh quá, không aichống nổi” Với Công xã Pari, Người ca ngợi sự dũng cảm của giai cấpcông nhân nhưng đồng thời cũng chỉ rõ nguyên nhân vì sao lại thất bại
“Dân can đảm nhiều nhưng trí thức ít, cho nên để tư bản nó lợidụng ”, khi thắng lợi rồi nó lại thay phong kiến áp bức dân chúng; tổchức không khéo và không liên lạc được với dân cày
Với cách mạng tháng Mười, Người nghiên cứu kỹ nguyên nhân
nổ ra, phương pháp lãnh đạo của Lênin và Đảng Bônsêvic Nga, quátrình từ cách mạng 1905 đến cách mạng tháng Hai và cách mạng thángMười năm 1917 Qua đó, Người đã đúc rút những vấn đề cốt tử cóquan hệ đến khởi nghĩa ở Việt Nam như: phải lấy dân chúng (côngnông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phảithống nhất Người đặc biệt lưu ý đến thời cơ khởi nghĩa, đó là một thời
Trang 10gian rất ngắn, thậm chí là một ngày Khởi nghĩa không được nổ ra sớm,cũng không thể muộn được, không làm như vậy thì sẽ thất bại.
Phong trào du kích Nga cũng được Người chú ý tổng kết Năm
1941, do yêu cầu chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang ở nước ta, Người đã viết
“Kinh nghiệm du kích Nga” Đó là kết quả quá trình tích luỹ củaNgười về chiến tranh du kích Đề cập đến tác dụng của cuốn sách, VõNguyên Giáp viết: Do “vấn đề quân sự trở nên cấp thiết, nhưng cán bộthì rất thiếu, đồng chí nào biết chút ít vấn đề quân sự đều phải đi huấnluyện cả ở Cao Bằng, thời kỳ này Chủ tịch Hồ Chí Minh đã biên soạnmột số tác phẩm trong đó có cuốn “Kinh nghiệm du kích Nga” Cuốnsách là tài liệu quý giá, bổ ích cho các đội vũ trang đầu tiên của ta vàhội viên cứu quốc các giới”
Sống ở Trung Quốc nhiều năm, qua nhiều thời kỳ chính trị khácnhau, đầy những biến động phức tạp, Hồ Chí Minh không chỉ coiTrung Quốc như là một căn cứ địa, hậu phương của cách mạng nước
ta, mà Người còn tích cực tham gia thực sự vào cách mạng Trung Quốc
và chăm chú tổng kết kinh nghiệm lãnh đạo, kinh nghiệm chiến đấucủa đất nước này Hồ Chí Minh sớm nhận ra Trung Quốc có vị tríthuận lợi, chỗ dựa vững chắc trong việc chuẩn bị cho cách mạng ViệtNam Trung Quốc với ta không chỉ có điều kiện địa lý thuận lợi “núiliền núi, sông liền sông”, tiến thoái thuận tiện, mà tình hình chính trị,
cơ chế quản lý của Trung Quốc thời trước cũng làm cho những nhà yêunước cách mạng của ta hoạt động, xây dựng cơ sở rất thuận tiện Việc
Trang 11thành lập Đảng ta và thành công cách mạng tháng Tám – 1945 đãchứng tỏ tầm nhìn chiến lược và tư duy sắc sảo đó Tuy vậy, cũngkhông nên nghĩ rằng, cán bộ ta chỉ dựa vào cách mạng Trung Quốc, màcòn trực tiếp tham gia vào các phong trào yêu nước chống Nhật củanhân dân nước này Theo Hồ Chí Minh, chỉ có trực tiếp lăn lộn vớiphong trào, cán bộ ta mới trưởng thành được, mới hiểu biết sâu sắc lýtưởng, mục tiêu cách mạng và đó cũng là nghĩa vụ quốc tế của nhữngngười cộng sản
Người rất am hiểu binh pháp Tôn Tử, Khổng Minh ,Hồ ChíMinh đã thấy ở Binh pháp Tôn Tử những tác dụng lớn đối với cán bộ
và nhân dân ta Người dịch “Binh pháp của ông Tôn Tử” không chỉ vìông là danh tướng nổi tiếng, mà chính vì tác dụng rất thiết thực với cán
bộ và cách mạng nước ta Người viết: “Ông Tôn Tử là một người quân
sự có tiếng nhất ở Trung Quốc Ngày nay chẳng những trường họcTrung Quốc, mà những trường học quân sự các nước cũng lấy phépnày làm gốc và ra sức nghiên cứu Vì phép của ông Tôn Tử tuy đã lâuđời, nhưng nguyên tắc đến nay vẫn còn rất đúng” Người còn nhấnmạnh: “Nguyên tắc của Tôn Tử chẳng những dùng trong quân sự đúng
mà dùng về chính trị cũng rất hay Cách ông Tôn Tử nói rất giản đơn,vắn tắt, chữ ít mà nghĩa nhiều” Người chỉ dẫn: “Mong các đồng chí rasức nghiên cứu hiểu rõ nguyên tắc đó và dùng nó trong công tác chínhtrị và quân sự của mình” Qua bản dịch và hướng dẫn nghiên cứu củaNgười, cán bộ cách mạng nước ta đã vận dụng sáng tạo “Binh pháp
Trang 12Tôn Tử”, phù hợp với thực tiễn nước ta, góp phần làm nên chiến thắnglẫy lừng trong khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng.
Những địa danh Pháp, Nga, Trung Quốc, những sự kiện quân
sự, những danh tướng nổi tiếng nêu trên, chưa phải tất cả những gì vềquân sự mà Hồ Chí Minh nghiên cứu Nhưng thông qua những vấn đề
đó, chứng tỏ Người sớm có ý thức làm giàu kiến thức quân sự và tạonên phong cách tư duy quân sự của mình, trên cơ sở chọn lọc những gìphù hợp với con người Việt Nam, phù hợp với mục tiêu cách mạng màNgười đang theo đuổi
4 Trí thông minh, sáng tạo – một yếu tố quyết định hình thành và phát triển tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh
Tư duy quân sự truyền thống, nghệ thuật đánh giặc giữ nước;Học thuyết quân sự Mác Lênin; tinh hoa quân sự cổ, kim, Đông, Tây lànhững yếu tố quan trọng góp phần hình thành phong cách tư duy quân
sự Hồ Chí Minh Nhưng sẽ thiếu đi một yếu tố – mà là yếu tố quyếtđịnh nhất nếu không nói đến, đó là tư chất thông minh sáng tạo cùngvới chí căm thù quân xâm lược, quyết tâm giải phóng đồng bào ởNgười Yếu tố này xuất hiện rất sớm và phát triển theo thời gian từngtrải của Người
Thuở niên thiếu Hồ Chí Minh đã có những nhận xét về conđường cứu nước chống Pháp của các bậc cha, anh Dựa vào Phápchống phong kiến, nhờ Nhật đánh Pháp, để có tự do, hạnh phúc, theoNgười là ảo tưởng, là xin giặc rủ lòng thương, là “đưa hổ cửa trước,
Trang 13rước beo cửa sau” Tuy ngay lúc đó, Người chưa đưa ra được conđường cứu nước nào khác, nhưng phải nhận thấy rằng, trí tuệ thôngminh đến nhường nào và tinh thần cứu nước nung nấu đến tột cùngmới có thể có những nhận xét sắc sảo như thế Tư duy đó là động lựcmạnh mẽ thúc đẩy Người tìm con đường cứu nước đúng đắn.
Ra nước ngoài ở tuổi thanh niên với biết bao thiếu thốn, khókhăn, gian khổ, có thể sẵn sàng hy sinh bất cứ lúc nào, nhưng khônglàm Người chùn bước Lòng dũng cảm, trí thông minh với một tấmlòng kiên trung, quyết giải phóng đồng bào Trở về nước, Hồ Chí Minhcùng với Đảng ta lãnh đạo Tổng khởi nghĩa tháng Tám – 1945 và haicuộc chiến tranh cách mạng chống Pháp, chống Mỹ Người đã dồn hếttrí tuệ và năng lực cho hoạch định đường lối quân sự và chỉ đạo côngcuộc giải phóng Tổ quốc Dưới sự chỉ đạo của Người, nền quân sự ViệtNam phát triển vượt bậc được thế giới ca ngợi, kẻ thù kính nể trước tàithao lược quân sự của một dân tộc anh hùng
II TƯ TƯỞNG DÙNG BẠO LỰC CÁCH MẠNG ĐỂ CHỐNG BẠO LỰC PHẢN CÁCH MẠNG
Đầu năm 1919, các nước đế quốc thắng trận trong chiến tranh thếgiới lần thứ nhất họp Hội nghị Vécxay (Pháp) để chia lại thị trường vàkhu vực ảnh hưởng, chủ yếu là cho Anh, Pháp, Tổng thống MỹUynhxơn gữi đến hội nghị “Kế hoạch 14 điểm”; mà về hình thức là đềcao quyền dân tộc tự quyết, những thực chất nhằm lôi kéo nhân dân cácnước thuộc địa và phụ thuộc, qua đó tranh giành ảnh hưởng với cácnước đế quốc khác
Trang 14Với sự nhạy cảm và lòng nhiệt thành yêu nước, Nguyễn Ái Quốcthay mặt những người Việt Nam yêu nước gữi tới hội nghị Vécxay bản
Yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm, yêu cầu các cường quốc và
Chính phủ Pháp thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và bình đẳng củanhân dân Việt Nam Bản yêu sách đó còn được gữi đến các nghị sĩ Quốchội Pháp, đồng thời được đăng tải trên nhiều báo lớn ở Pháp, in thànhtruyền đơn phân phát trong các cuộc mít tinh của nhân dân Pháp, phátcho Việt kiều và gữi về nước Do bản chất của chủ nghĩa đế quốc, nênbản yêu sách củsacnaq cũng như yêu sách của các đoàn Ấn Độ, TrungQuốc, Triều Tiên gữi đến Hội nghị Vécxay đều “không có kế quả gìhết”1 Thực tế đó giúp Người hiểu rằng, những lời tuyên bố về tự do dânchủ của các nhà chính trị tư bản đế quốc chỉ là những lời đường mật đểlừa bịp các dân tộc, “chủ nghĩa Uynhxơn” chỉ là “một trò bịp bợm lớn”2
Ngay khi bản yêu sách được công bố, bọn bồi bút thực dân lồnglộn công kích: “ Cứ theo cái đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ nganghàng với người Pháp không được, phải làm chúng mãi trong vòng nô
lệ” (tờ tin tức thuộc địa ngày 27/6/1919) Do nhu cầu cuộc đấu tranh tư
tưởng, Nguyễn Ái Quốc viết một loạt bài báo tố cáo trước dư luận quốc
tế sự giả dối của bọn bồi bút, luận tội đanh thép chủ nghĩa đế quốc, chủnghĩa thực dân - những kẻ gây ra bao đau khổ đối với nhân dân cácnước thuộc địa Tiếp đó, trước những âm mưu mới của các nước đếquốc sau đại chiến thế giới lần thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc viết một loạtbài vạch trần bản chất gây chiến, xâm lược của chúng, điều kiện choviệc tập hợp lực lượng chống kẻ thù
Sau Hội nghị Vécxay, các nước thắng trận trong chiến tranh đếquốc không chỉ tước đoạt các vùng ảnh hưởng của Đức mà còn xâu xé