1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tieu luan cao học, tthcm phan 1 tìm hiểu một số phương pháp trong nghiên cứu về hồ chí minh

36 5 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu một số phương pháp trong nghiên cứu về Hồ Chí Minh
Trường học Trường Đại học Chính trị Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Nghiên cứu về Hồ Chí Minh
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 51,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận phần I Đối tượng và phương pháp nghiên cứu Hồ Chí Minh LỜI MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây, công tác nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã không ngừng được mở rộng và phát triển, cả về nội dung nghiên[.]

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đõy, cụng tỏc nghiờn cứu về Hồ Chớ Minh đókhụng ngừng được mở rộng và phỏt triển, cả về nội dung nghiờn cứu lẫn quy

mụ nghiờn cứu Từ chức năng, nhiệm vụ của một cơ quan, thậm chớ của một

số người chuyờn trỏch, đến nay nú đang trở thành mối quan tõm của toàn xóhội Cỏc ngành, cỏc địa phương, cỏc học viện và nhà trường, ớt nhiều đó hỡnhthành được những trung tõm nghiờn cứu, tổ chức nghiờn cứu về Hồ ChớMinh Trong đú, cú khụng ớt những cụng trỡnh cú giỏ trị, được giới nghiờncứu thừa nhận, nhất là cụng trỡnh cú tớnh chất tiểu sử (như cỏc cuốn Hồ ChớMinh của J Lacouture; Đồng chớ Hồ Chớ Minh của E.Cabờlộp; Hồ Chớ Minhvới Trung Quốc của Hoàng Tranh, Chủ tịch Hồ Chớ Minh - Tiểu sử và sựnghiệp của Viện Lịch sử Đảng; Hồ Chớ Minh - Biờn niờn tiểu sử của Viện HồChớ Minh, v.v.)

Lõu nay, cỏc nhà khoa học từ cỏc chuyờn ngành khỏc nhau tham gia vàoviệc nghiờn cứu Hồ Chớ Minh, chủ yếu vận dụng kinh nghiệm phương phỏpluận của chuyờn ngành mỡnh hoặc bước đầu tiến lờn sử dụng phương phỏpliờn ngành ở một mức độ nào đú Cỏch làm này đó đem lại những kết quảnhất định

Những thành tựu trong cụng tỏc nghiờn cứu về Hồ Chớ Minh đang gúpphần hỡnh thành một bộ mụn khoa học chuyờn ngành, nú cú đối tượng nghiờncứu riờng nờn cần cú hệ thống phương phỏp nghiờn cứu thớch hợp với đốitượng ấy, dưới sự chỉ đạo của những nguyờn tắc phương phỏp luận mang tớnhđặc thự của bộ mụn Phương phỏp luận nghiờn cứu về Hồ Chớ Minh như lànhững nguyờn tắc lý thuyết cú ý nghĩa chỉ đạo chuyờn ngành Hồ Chớ Minhhọc

Vậy để việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh thật sự có hiệuquả vấn đề đạt ra là phải xác định đợc một hệ thống ph-

ơng pháp thích hợp Chớnh từ những vấn đề đú, bản thõn chọn vấn đề

Trang 2

“Tìm hiểu một số phương pháp trong nghiên cứu về Hồ Chí Minh” làm tiểu

luận hết phần I

Trang 3

1 Lý luận(hay lý thuyết)

Lý luận (hay lý thuyết) theo chữ Hy Lạp: theoria, théorein - có nghĩa làquan sát, khảo sát, nghiên cứu Lý luận là hệ thống các luận điểm gắn bó chặtchẽ với nhau về mặt lôgic, phản ánh bản chất, quy luật vận động và phát triểncủa khách thể được nghiên cứu

Điểm xuất phát của lý luận là thực tiễn Những kết quả nghiên cứudưới dạng khái quát hóa và trừu tượng hóa khoa học, sử dụng các khái niệm,phạm trù khoa học để xác lập hệ thống luận điểm và nguyên lý để biểu thịbản chất, quy luật của đối tượng Nó chỉ được coi là lý luận và trở thành lýluận nếu qua sự kiểm tra, đối chiếu trong thực tiễn nó tỏ ra phù hợp với thựctiễn

Thực tiễn làm phát sinh lý luận Gắn bó và bám sát thực tiễn sẽ làm cho

lý luận phải vượt lên để khỏi bị lạc hậu, đồng thời nhờ thực tiễn mách bảo,gợi ý, thúc đẩy mà lý luận có được khả năng vượt trước để dẫn đường Không

có thực tiễn thì không có nội dung của lý luận Nhưng không có tư duy lýluận và hoạt động nghiên cứu lý luận bởi sự nỗ lực của chủ thể “lý luận hóathực tiễn” và “thực tiễn hóa lý luận” được

Lý luận không tồn tại dưới dạng những luận điểm riêng lẻ, rời rạc mà làmột hệ thống chặt chẽ, có trật tự loogic của các luận điểm đó Tính hệ thống

là một đặc trưng nổi bật của lý luận, là yêu cầu của tư duy lý luận Tiếp cận

hệ thống và phân tích hệ thống trong nghiên cứu khoa học xuất phát từ đòihỏi đó

Trang 4

Mỗi khoa học có lý luận và cơ sở lý luận riêng của nó Vì vậy môn Hồ Chí Minh học muốn trở thành một bộ môn khoa học độc lập trước hết nó phải

xây dựng được cơ sở lý thuyết về đối tượng nghiên cứu của mình

Để nghiên cứu về Hồ Chí Minh trước hết phải xây dựng được lý thuyết

về đối tượng nghiên cứu của bộ môn: đó là toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp, tưtưởng, đạo đức, phương pháp phong cách, lối sống.v.v của Hồ Chí Minh

Tóm lại, có xây dựng được hệ thống lý thuyết về đối tượng nghiên cứu

- ở đây là Chủ tịch Hồ Chí Minh - mới có thể từ đó bàn tiếp về phương phápluận và phương pháp nghiên cứu Hồ Chí Minh, bởi phương pháp hình thành

từ lý luận; lý luận nào phương pháp ấy

2 Phương pháp

Phương pháp được hiểu là cách thức đề cập tới hiện thực, cách thức

nghiên cứu các hiện tượng của tự nhiên và của xã hội Phương pháp là hệthống các nguyên tắc điều chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạothực tiễn xuất phát từ các quy luật vận động của khách thể được nhận thức.Như vậy, phương pháp là sự thống nhất giữa chủ quan và khách quan, nókhông phải là phạm trù thuần túy chủ quan do lý trí đặc ra mà xuất phát từnhững quy luật vận động của khách thể đã được con người nhận thức

Cấn chú ý là, bản thân các quy luật vận động của khách thể mới chỉ là

cơ sở của phương pháp Cơ sở lý luận trực tiếp của phương pháp không phải

là các quy luật vận động của khách thể này, mà là những quy luật đã được

nhận thức, được diễn đạt thành lý luận Do đó, lý luận là hạt nhân của phương pháp, là cái cốt lõi mà từ đó hệ thống của nguyên tắc điều chỉnh tạo

nên nội dung của phương pháp được xây dựng

Tóm lại, phương pháp có nội dung khách quan sâu sắc Nó được quyđịnh bởi đặc điểm, bản chất của khách thể đồng thời con người là chủ thểsáng tạo ra phương pháp Cũng chính con người sử dụng phương pháp, mang

nó vào hoạt động thực tiễn, dùng nó như một công cụ, một phương tiện để tácđộng vào đối tượng nhằm đạt tới mục tiêu hoạt động của mình Nhờ có lý

Trang 5

luận khoa học dẫn dắt mà hoạt động của con người trở nên tự giác chứ không

mù quáng Cũng nhờ có phương pháp gắn liền với lý luận mà con người tránhđược những mò mẫm, tự phát mà đạt được hiệu quả trong hoạt động

Như vậy, cũng như lý luận, phương pháp thuộc về nội dung khoa học,

nó cũng ở cấp độ lý luận - tư tưởng chứ không phải là hình thức, là cái vỏ

thuần túy để biểu đạt tư tưởng Phương pháp được xây dựng nên từ trình độcủa lý luận chứ không phải bằng kinh nghiệm dù cho sự tích lũy kinh nghiệm

có một vai trò quan trọng to lớn trong sự hình thành phương pháp Không có

lý luận thì không có phương pháp khoa học

Hệ thống các phương pháp là đa dạng, tùy theo sự phân loại khoa học;

có những phương pháp riêng áp dụng trong phạm vi một bộ phận khoa học;

có phương pháp chung cho một số bộ môn và có phương pháp phổ biến chotất cả các bộ môn

Ta thường thấy các phương pháp được sử dụng kết hợp trong nghiêncứu như phân tích và tổng hợp, lôgic và lịch sử, mô tả, phân loại, thống kê,phân tích so sánh và phân tích hệ thống, phỏng vấn - điều tra xã hội học,phương pháp điều tra thực địa (trong khoa học lịch sử, khảo cổ học và dântộc học), phương pháp chuyên gia Trong nghiên cứu tư tưởng - cuộc đời -

sự nghiệp Hồ Chí Minh, những phương pháp trên đây đều có thể được chọnlọc để áp dụng, trong đó có cả phương pháp phân tích văn bản học là phươngpháp thường dùng khi nghiên cứu di sản và lịch sử tư tưởng, phương pháp kếthợp phân tích lịch đại với phân tích đồng đại để làm sáng tỏ sự hình thành vàphát triển tư tưởng, quan hệ và ảnh hưởng qua lại giữa vĩ nhân và thời đạilịch sử

Cùng với những phương pháp chung và riêng đó, phương pháp phổ biến trong nghiên cứu và nhận thức khoa học là phương pháp biện chứng.

Đây là một phương pháp triết học mác xít đóng vai trò dẫn đường về thế giớiquan và phương pháp luận trong nghiên cứu

Trang 6

Phương pháp biện chứng - đó là một hệ thống các nguyên tắc điềuchỉnh hoạt động nhận thức và thực tiễn, xuất phát từ lý luận biện chứng.

Phương pháp biện chứng của triết học Mác là biện chứng duy vật, trong

đó biện chứng của cái khách quan quy định biện chứng của cái chủ quan, tưduy biện chứng phản ánh tính biện chứng vốn có của bản thân cuộc sống.Phương pháp biện chứng duy vật ứng dụng trong nhận thức và nghiên cứukhoa học đòi hỏi người nghiên cứu phải nắm vững và sử dụng thành thạo

lôgic biện chứng mà nội dung của nó là hệ thống các nguyên lý (mối liên hệ

phổ biến và phát triển), các quy luật (nói lên bản chất, cách thức và xu hướngvận động và phát triển) và các cặp phạm trù của nhận thức luận (Chung -Riêng, Bản chất - Hiện tượng, Nhân - Quả, Khả năng - Hiện thực, Nội dung -Hình thức, Tất yếu - Ngẫu nhiên ) Từ những nguyên lý, quy luật và phạmtrù đó, phương pháp biện chứng duy vật hình thành nên các quan điểm, cácnguyên tắc chỉ đạo thế giới quan, phương pháp nhận thức và phương pháp tưtưởng mà tiêu biểu là quan điểm toàn diện, quan điểm phát triển, quan điểmthực tiễn, tính khách quan, tính phê phán và kế thừa có chọn lọc trong xemxét các sự vật, hiện tượng của thế giới Nó là một hệ thống mở chứ khôngđóng kín; là tập hợp những khái niệm, phạm trù động chứ không tĩnh Tómlại, nó là biện chứng chứ không phải siêu hình Những đặc điểm nêu trên củaphương pháp biện chứng duy vật với tư cách là phương pháp phổ biến cũng

đồng thời là nói ý nghĩa phổ quát của phương pháp này là phương pháp luận.

3 Phương pháp luận

Cấp độ cao nhất của lý luận và phương pháp, ở trình độ khái quát sâu

sắc nhất cái bản chất của cả lý luận lẫn phương pháp, là phương pháp luận (metodologija) Phương pháp luận là lý luận về các phương pháp nhận thức

và cải tạo thực tiễn Nó xứng đáng được gọi là học thuyết về phương pháp.

Là khoa học về phương pháp, phương pháp luận biểu hiện ra như một hệthống chặt chẽ các quan điểm, các nguyên lý chỉ đạo việc tìm kiếm, xâydựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp Có thể khái quát mối quan hệ

Trang 7

giữa phương pháp luận với các phương pháp như là mối quan hệ giữa cáichung và cái riêng Tính thống nhất giữa lý luận, phương pháp và phươngpháp luận là ở nguồn gốc, nội dung khách quan của nó, là ở sự chế ước lẫnnhau giữa khách quan và chủ quan, là sự chung đúc trong nó cả thế giới quan

và hệ tư tưởng

Tóm lại, giữa lý luận với phương pháp và phương pháp luận có mối

liên hệ nội tại và quy định lẫn nhau

Đó là mối quan hệ ba chiều: giữa nhận thức về đối tượng nghiên cứu(lý luận) với công cụ tác động vào đối tượng (phương pháp) và nhữngnguyên tắc lý thuyết giữ vai trò điều chỉnh, giúp cho qúa trình tác động củacông cụ vào đối tượng đạt được kết quả tối ưu (phương pháp luận)

II VẬN DỤNG MẤY PHƯƠNG PHÁP TRONG NGHIÊN CỨU

HỒ CHÍ MINH

Để việc nghiên cứu Hồ Chí Minh đạt trình độ khoa học ngày một caohơn, cần phải đổi mới và hiện đại hóa các phương pháp và kỹ thuật nghiêncứu trên cơ sở không ngừng phát triển và hoàn thiện về lý luận và phươngpháp luận khoa học nói chung Các phương pháp nghiên cứu hiện đại cũng sẽgóp phần khắc phục sự lạc hậu và hạn chế của phương pháp luận dựa trên tưduy kinh nghiệm và giáo điều để xây dựng phương pháp luận khoa học, hiệnđại trong nghiên cứu về Hồ Chí Minh

Dưới đây là một số phương pháp chủ yếu cần được vận dụng vàochuyên ngành nghiên cứu Hồ Chí Minh

1 Phương pháp so sánh

Xuất phát từ nguyên lý phép biện chứng duy vật về sự phụ thuộc phổbiến và quy định lẫn nhau của các hiện tượng trong đời sống xã hội, ngườinghiên cứu không thể chỉ giới hạn ở việc nghiên cứu một hiện tượng riêng lẻtách rời các quá trình và những sự kiện khác, mà phải nắm cho được toàn bộcác hiện tượng thuộc một quá trình xã hội này hay một quá trình xã hội khác,

và phải làm sáng tỏ những phụ thuộc, tương tác giữa chúng Lẽ dĩ nhiên, yêu

Trang 8

cầu này có tính chất tương đối vì thế giới đối tượng vận động và phát triển vôcùng vô tận với vô số các mối quan hệ, liên hệ Điều cốt yếu ở đây là cầnphải có quan điểm toàn diện và quan điểm phát triển trong nghiên cứu Conđường thực hiện nhiệm vụ này diễn tiến chủ yếu thông qua phương pháp sosánh.

Mỗi hệ thống tư tưởng, mỗi danh nhân văn hóa, mỗi anh hùng giảiphóng dân tộc đều có những nét đặc thù Những nét đặc thù này biểu hiệnbản sắc và giá trị không lặp lại của họ Vì vậy, để làm sáng tỏ một cáchthuyết phục bản sắc, giá trị của Hồ Chí Minh, nhà nghiên cứu cần có sự sosánh cuộc đời và sự nghiệp của Người với những nhân vật lịch sử cùng thời(người Việt Nam hoặc người nước ngoài); phải chỉ ra được các nhân tố dântộc và thời đại đã ảnh hưởng đến Hồ Chí Minh, đã được Người lựa chọn, kếthừa và hòa đồng như thế nào để trở thành một nhà tư tưởng, một danh nhânvăn hóa, một anh hùng giải phóng dân tộc, chứ không phải một người ViệtNam nào khác

Trong việc nghiên cứu Hồ Chí Minh, có thể đặt vấn đề so sánh để tìm

ra tính tương đồng và tính đặc thù của tư tưởng Hồ Chí Minh so với các lãnh

tụ cách mạng cùng thời

Chủ nghĩa Mác - Lênin là nguồn gốc chủ yếu, là nội dung cốt lõi của tưtưởng Hồ Chí Minh Chủ nghĩa Mác - Lênin là một học thuyết lớn, bao quátnhững vấn đề của toàn nhân loại Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin Hồ ChíMinh rút ra từ học thuyết ấy những gì cần cho cách mạng Việt Nam, phù hợpvới dân tộc Việt Nam Người vận dụng lập trường, quan điểm và phươngpháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để giải quyết những vấn đề của thực tiễnViệt Nam Người đã vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với truyềnthống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa của nhân loại, đặc biệt là tưtưởng phương Đông Vì vậy, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh có thể sosánh để tìm ra những nét tương đồng và đặc thù trong việc Người đã tiếp thu,vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin như thế nào

Trang 9

Nhưng cần phải lưu ý rằng, việc nghiên cứu so sánh đòi hỏi sự phântích không chỉ về mặt nội dung, mà cả về hình thức biểu hiện Ví dụ: Hồ ChíMinh ít dùng các khái niệm duy vật, duy tâm, siêu hình, biện chứng Vì thế,

có thể so sánh cách diễn đạt lý luận của Người với cách trình bày trong cáctác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin

Về nội dung so với các nhà kinh điển mácxít, hầu như rất hiếm khiNgười dự báo, tiên đoán về xã hội tương lai mà đặt trọng tâm vào việc giảithích và cải biến thực tiễn Người quan tâm trước hết và chủ yếu tới nhữngvấn đề bức xúc đang đặt ra, có quan hệ trực tiếp tới cuộc sống của nhân dân,vận mệnh của dân tộc, hướng mọi nỗ lực của mình vào cuộc đấu tranh chomục tiêu “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của đất nước

Như vậy, trong khi nghiên cứu so sánh tư tưởng Hồ Chí Minh với chủnghĩa Mác - Lênin, hoặc với các nhà tư tưởng, nhà chính trị cùng thời, có lẽviệc đối chiếu trực tiếp (so sánh định danh, khái niệm, quan điểm ), so sánhtheo thứ tự nhằm xác định vị thế của các vấn đề tư tưởng ở Hồ Chí Minh và

so sánh vấn đề từng cặp với nhau đều có thể được huy động một cách cóhiệu quả Việc so sánh các chiều quan hệ cũng có thể được sử dụng một cáchrộng rãi

Một vấn đề có thể và cần so sánh nữa là tìm ra những nét tương đồng

và đặc thù giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với tư tưởng truyền thống dân tộc

Tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm cả hai yếu tố đó Một mặt, tư tưởngcủa Người là sự kết tinh những giá trị lâu bền của truyền thống dân tộc, tinhhoa tư tưởng dân tộc Mặt khác, tư tưởng của Người có khả năng thúc đẩy vàkhích lệ được nhận thức, tình cảm và hành động của con người Việt Namhiện đại Hơn nữa, tư tưởng Hồ Chí Minh còn thể hiện sự cải biến tinh hoa đó

để giao lưu và tổng hợp với tinh hoa tư tưởng nhân loại mà Người đã thâuthái được trong quá trình hoạt động cách mạng

Cuối cùng, cần phải so sánh để làm sáng tỏ chân dung của một danhnhân văn hóa, một anh hùng giải phóng dân tộc như Hồ Chí Minh Hướng

Trang 10

nghiên cứu so sánh này thực ra cơ bản đã được thực hiện phần lớn ở haihướng nghiên cứu trên Nhưng nó cũng có nội dung riêng biệt, như đối chiếu

về phẩm chất cá nhân, nhân cách, phong cách ững xử để làm nổi bật nhữngnét riêng, độc đáo của Hồ Chí Minh

Vận dụng phương pháp so sánh vào việc nghiên cứu Hồ Chí Minh cầnđược kết hợp với các phương pháp khác Mỗi phương pháp có những ưu thế,tác dụng riêng, đồng thời cũng chứa đựng những hạn chế riêng Tính phongphú đa dạng trong đối tượng nghiên cứu (cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạođức, phong cách Hồ Chí Minh) đòi hỏi người nghiên cứu phải sử dụng tổnghợp nhiều phương pháp, biết lựa chọn ưu thế của mỗi phương pháp để tiếpcận và khám phá bản chất của đối tượng nghiên cứu Không có phân tích vănbản, thống kê trắc lượng thì không có cứ liệu, số liệu, sự kiện để so sánh Vàkhông có sự phân tích thì không thể nhận thức được tính mềm dẻo, tính linhhoạt của các khái niệm, phạm trù khoa học Cùng một khái niệm, nhưng ởmỗi giai đoạn lịch sử lại có cách kiến giải riêng Như vậy, phải phân tích mớithấy được ý nghĩa của những khái niệm và giá trị nội dung của nó Từ phântích mới có tổng kết: từ so sánh mới tìm ra những nét đặc trưng, và đó chính

là hai tiền đề cho sự khái quát lý luận

2 Phương pháp thống kê - trắc lượng

Thông thường ở giai đoạn đầu của sự phát triển các môn khoa học,phương pháp, phân tích chủ yếu là mô tả và định tính Nhược điểm củaphương pháp này là thường rơi vào thiên kiến hoặc cảm tính chủ quan củangười nghiên cứu Do muốn tránh thái độ chủ quan của lối phân tích đó,người ta đã đề ra phương pháp phân tích phân lượng hay định lượng Nócũng được gọi là phương pháp thống kê - trắc lượng Trong việc nghiên cứu

về Hồ Chí Minh, ở một mức độ nào đó, phương pháp này đã được áp dụng,

ví như trong việc xác định số lượng các bút danh và bí danh của Người Tuynhiên, từ thực tiễn nghiên cứu Hồ Chí Minh trong những năm gần đây chothấy, có thể áp dụng phương pháp này ở những phạm vi tương đối rộng rãi để

Trang 11

tiệm cận hơn tư tưởng, đạo đức và con người Hồ Chí Minh, đồng thời gópphần thúc đẩy công tác tìm hiểu, nghiên cứu về Người theo hướng kết hợphài hòa cả phân tích định tính lẫn phân tích định lượng, nhằm đạt được sựkhái quát khoa học ngày càng chính xác hơn và đúng đắn hơn.

Hồ Chí tri Minh là một nhà tư tưởng, một danh nhân văn hóa, một anhhùng giải phóng dân tộc, một nhà hoạt động thực tiễn, cho nên nét đặc thùtrong hệ thống tri thức của Người là tính nhiều tầng, nhiều vòng khâu của trithức, từ tri thức thường ngày đến tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học vàcuối cùng là tri thức triết học Một đặc thù nữa là tính đa dạng, phong phúcủa các hình thức lưu giữ, truyền tải tri thức, từ hình thức văn hóa dân giancho đến các văn bản có tính pháp quy, tính bác học cao Hệ thống tri thức ấyđược thể hiện hầu như trên tất cả các bình diện của đời sống xã hội, từ chínhtrị, tư tưởng, quân sự đến giáo dục, sinh hoạt, văn hóa, xã hội Vùng khônggian tồn tại thông tin về Người trải rộng theo từng bước đường hoạt độngcách mạng của Người hầu như trên tất cả bốn châu lục Á, Âu, Phi, Mỹ Lăngkính xem xét, khảo cứu tri thức của Người cũng rất đa dạng, thậm chí phứctạp, từ những đồng chí cộng sản, cho đến những kẻ thù của tư tưởng mác xít,

từ những người da trắng đến da màu, từ những người dân tộc chủ nghĩa chođến những anh em bốn phương vô sản, từ các họa sĩ, văn sĩ, thi sĩ cho đến cácnhà quân sự và chính trị,.v.v

Những nét đặc thù cần phải được đánh giá một cách biện chứng đểnghiên cứu về người đúng với lập trường mácxít Muốn thế, công việc đầutiên của nhà nghiên cứu đòi hỏi phải thống kê được:

Thứ nhất, những địa danh mà Người đã từng sống, làm việc và hoạt

động cách mạng (cả trong và ngoài nước);

Thứ hai, những con người cụ thể (bạn bè, đồng nghiệp, kẻ cả kẻ thù) đã

trực tiếp sống, làm việc, tiếp xúc với Người;

Thứ ba, những ngôn ngữ mà Người biết và sử dụng;

Thứ tư, những tên và bút danh mà Người đã dùng;

Trang 12

Thứ năm, số lượng bài báo, bài viết của Người;

Thứ sáu, số lượng các chuyến hỏi thăm đồng bào trong nước;

Thứ bảy, số lượng các chuyến công tác ở nước ngoài;

Thứ tám, số lượng những sách, báo, tạp chí và tác giả mà Người đã đọc

và nghiên cứu

Thứ chín, số lượng những câu Người trích dẫn của những nhà kinh điển

mác xít (như C Mác, V.I Lênin ) của các nhà hiền triết phương Đông (nhưKhổng Tử, Quản Tử ), của các nhà văn hóa nổi tiếng trên thế giới

Thứ mười, số lượng các câu ca dao, tục ngữ đã được nhắc đến; v.v Các quy tắc của phương pháp này là xác định tiêu chí để phân tích và

xác định các đơn vị tính toán Quy tắc đầu hầu như được thực hiện cùng vớicác phương pháp phân tích, so sánh, vì nhiệm vụ đặt ra ở đây là xác định vấn

đề hay khía cạnh nghiên cứu Thí dụ, đặt ra vấn đề tìm hiểu những khái niệm

và mệnh đề Nho giáo đã được Hồ Chí Minh sử dụng trong Hồ Chí Minh toàn tập (12 tập) thì vấn đề này đồng thời cũng là tiêu chí để thống kê Còn nếu

muốn tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về con người thì tiến hành thống kê trắc lượng là để phục vụ cho việc làm sáng tỏ khái niệm này

-Bước tiếp theo là tách bạch các đơn vị phân tích Thí dụ, muốn đối

chiếu tư tưởng Hồ Chí Minh với các quan điểm của các nhà kinh điển mác xítcần xác định các đơn vị phân tích phù hợp, như khái niệm giai cấp, dân tộc,chuyên chính vô sản, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế.v.v

Cuối cùng là xác định các đơn vị tính toán Cũng ở để tài trên có thể

xác định các đơn vị tính toán là: số lần nhắc đến khái niệm giai cấp, dân tộc,con người, chủ nghĩa yêu nước, chuyên chính vô sản, vấn đề bạo lực.v.v

Qua đó có thể thấy phương pháp thống kê - trắc lượng về nguyên tắcphải gắn bó với các phương pháp khác, nếu không thì việc thống kê - trắclượng hầu như không có mục đích Mặc dù gắn bó với các phương pháp khácnhưng phương pháp này có vai trò độc lập tương đối của nó, vì chỉ có nó mớigiúp lượng hóa được thông tin một cách chính xác Nhờ có phương pháp

Trang 13

thông kê - trắc lượng mà kết quả nghiên cứu sinh động hơn, khách quan hơn

về quá trình hoạt động cách mạng phong phú của Người, về bề rộng của hoạtđộng tư tưởng và thực tiễn của Người Rõ ràng ở đây, phương pháp thống kê

- trắc lượng đã định hướng, đã gợi mở cho việc vận dụng các phương phápkhác

Nếu chỉ đưa ra thông tin rằng, Hồ Chí Minh có chừng 150 tên, bút danh

và bí danh khác1 thì thông tin này gần như thuần túy mang ý nghĩa thống kê trắc lượng Nhưng kèm với thông tin đó là việc xác định được ý nghĩa nhữngtên và bút danh của Bác, hoàn cảnh ra đời, thời gian sử dụng chúng thì thôngtin đó có sức thuyết phục hơn, và gợi mở ra nhiều ý tưởng, phương phápnghiên cứu khác

-Thứ dụ, năm 1911, khi xuống tàu Amiral latouche Tresville để ra nướcngoài tìm con đường giải phóng dân tộc, Bác mang các tên Văn Ba, Ba Từsau năm 1911, khi sang tới nước Pháp, nước Anh và nhiều nước khác, cho tớikhi rời nước Pháp, ngày 13/6/1923, Bác mang các tên và bút danh: Nguyễn

Ái Quốc, Chú Nguyễn, Nguyễn A.Q., Ng.A.Q, N.A.Q, V.L, Lê Ba, N.K,Wang, A.F Từ sau ngày 13/6/1923 đến năm 1940, Bác manh tên, bút danh

và bí danh: Trần Vương (Chen Vang), Lý Thụy, Vương, Vương Sơn Nhi,Vương Đạt Nhân, Nilốpxki, Thầu Chín, Tống Văn Sơ, Li nốp, Lin, HồQuang.v.v phù hợp với các nơi Bác hoạt động ở Trung Quốc, Liên Xô, TháiLan v.v Từ năm 1941, sau khi trở về Tổ quốc cho đến lúc qua đời (1969),bác thường mang tên, bút danh và bí danh: Già Thu, Thu Sơn, Ông Ké, Q.Th,

Trang 14

Tân Sinh, C.B, Đ.X, Trần Lực, Chiến Sĩ, v.v phù hợp với cách gọi tên ở ViệtNam.

Như vậy, từ việc thống kê sơ lược một số tên gọi, bút danh, bí danh củaNgười với mỗi địa bàn (nước, vùng) hoạt động của Người đã gợi ra một sốhướng nghiên cứu về phân kỳ các giai đoạn hoạt động cách mạng của Người,tính chất hoạt động ở mỗi quốc gia, mỗi vùng cụ thể trong cuộc đời và hoạtđộng cách mạng sôi nổi của Người

Nếu đi sâu vào phân tích các bút danh của Người, với các thể loại báochí, chắc chắn cũng sẽ gợi ra nhiều vấn đề hấp dẫn Xem thế đủ thấy rằng,phương pháp thống kê - trắc lượng, theo đúng nghĩa của nó, không chỉ đơnthuần là thống kê những con số “chết”, mà cần phải có sự phân tích Đươngnhiên, liều lượng phân tích ở đây phải trên cơ sở của sự thống kê số liệu, cứliệu, sự kiện Nếu ngược lại thì sẽ làm mất bản chất của phương pháp thống

kê - trắc lượng

Hiểu đúng bản chất của phương pháp này và sử dụng nó kết hợp vớicác phương pháp khác, việc nghiên cứu Hồ Chí Minh sẽ thu được nhiều kếtquả khả quan Chỉ riêng việc thống kê được tần số xuất hiện, hoàn cảnh xuấthiện những trích dẫn lời của C Mác, V.I Lênin, Khổng Tử, Tôn Dật Tiên,v.v., đã góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề về bản chất lý luận, phương phápluận của tư tưởng Hồ Chí Minh Còn nếu áp dụng được phương pháp này mộtcách hệ thống từ địa danh, nhân chứng, sự kiện, ngôn ngữ, tên, bút danh, bídanh, số lượng bài báo, bài nói và viết, các chủ đề mà Người quan tâm, thì

có thể dựng được một sơ đồ tổng quát, một bức tranh mạch lạc về Hồ ChíMinh trên nhiều phương diện khác nhau: cuộc đời, hoạt động, tư tưởng, đạođức, phương pháp, phong cách,.v.v Thí dụ, chỉ thống kê trong 10 năm, từ

1955 - 1965, Hồ Chí Minh đã thực hiện hơn 700 lượt đi xuống cơ sở, thămcác địa phương, công trường, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị bộ đội, từ miềnngược đến miền xuôi, từ biên giới đến hải đảo, Tính ra mỗi năm có hơn 70lần Người đi xuống cơ sở, mỗi tháng có 6 lần Người gặp gỡ quần chúng Chỉ

Trang 15

với con số đó, thấy rõ phong cách của một lãnh tụ suốt đời gắn bó với quầnchúng, một phong cách Lênin nít mẫu mực Tóm lại, từ bức tranh bằng sốliệu, cứ liệu, sự kiện này sẽ gợi ý nhiều hướng nghiên cứu mới về Hồ ChíMinh.

Song khó khăn của phương pháp này là khó thống kê được đầy đủ,chính xác toàn bộ số liệu, cứ liệu, sự kiện về Người Không phải phươngpháp này đòi hỏi những phương tiện kỹ thuật đắt tiền, những máy tính điện

tử Đơn giản là vì hoạt động của Người rải ra gần khắp năm châu bốn biển,

có giai đoạn tiền sử đến nay vẫn chưa được biết thật rõ Nhiều tác phẩm củaNgười vẫn chưa được sưu tầm đầy đủ, nhiều tư liệu về Người vẫn chưa đượccông bố rộng rãi Vì vậy, việc áp dụng đầy đủ phương pháp thống kê - trắclượng tưởng rất dễ, nhưng thực ra phải được thực hiện từng bước một, do cáckhó khăn khách quan vừa nêu và do cả những hạn chế vốn có của các nhànghiên cứu

3 Phương pháp kết hợp lịch sử với lôgic

Đây là phương pháp thông dụng đối với tất cả các chuyên ngành khoahọc xã hội, và có thể được sử dụng ngay từ khi thi nghén của mỗi chuyênngành này, kể cả trong nghiên cứu tư tưởng, nhân cách văn hóa Hồ Chí Minh.Trong nghiên cứu Hồ Chí Minh phải nắm vững bản chất, quy luật vàquá trình phát sinh, phát triển và biến hóa của nó Quá trình đó biểu hiện ratrong toàn bộ tính cụ thể muôn hình muôn vẻ với những vận động quanh co,phức tạp và cả sự phát triển tất yếu

Trong thời kỳ đổi mới, phương pháp lịch sử hầu như đã tiếp cận và phảnánh phần lớn quá trình lịch sử của sự vận động, phát triển tư tưởng Hồ ChíMinh Đồng thời phương pháp lôgic đã phản ánh được cái chung, cái quyluật, phổ biến khách quan của tư tưởng Hồ Chí Minh So với phương pháplịch sử, phương pháp lôgic có ưu thế hơn ở chỗ: nó phản ánh được lịch sửphát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh ở kết cấu, bản chất, tính quy luật nội tại

và tính khách quan của nó

Trang 16

Đánh giá chung trong nghiên cứu Hồ Chí Minh, cho đến nay, rõ ràngphương pháp lịch sử - lôgic đã được sử dụng phổ biến và là phương pháp chủyếu Kết quả bước đầu đã phản ánh được khá toàn diện bức tranh lịch sử tưtưởng Hồ Chí Minh Và bằng hai con đường suy luận diễn dịch và suy luậnquy nạp, ở chừng mực nào đó đã phản ánh được lôgic của tư tưởng Hồ ChíMinh.

Tuy vậy, sự phản ánh lôgic này lại hầu như bằng cách phân tích, mô tảquá trình lịch sử Tính triết lý về bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh và tínhtổng hòa các quan hệ xã hội trong nhân cách văn hóa Hồ Chí Minh trên cơ sở

kế thừa, phát huy truyền thống tư tưởng, văn hóa Việt Nam, do đó, còn mờnhạt Từ đó, nảy sinh một cảm nhận khá phổ biến hiện nay là coi bộ môn tưtưởng Hồ Chí Minh gần như một chuyên ngành tư tưởng chính trị Cácphương pháp khác như phương pháp so sánh, thống kê - trắc lượng cho đếnnay được sử dụng chỉ để minh họa cho phương pháp lịch sử - lôgic Vì thế,phương pháp hiện nay là chú trọng sử dụng, phát triển các phương pháp khácnhau, đồng thời khắc phục phương pháp “biên niên sử” để hướng vào phươngpháp “triết - sử” trong nghiên cứu về Hồ Chí Minh

Phạm trù lịch sử nghiên cứu quá trình ra đời, lớn lên và mất đi của conngười Hồ Chí Minh nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển tư tưởng,phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh

Phạm trù lôgic nghiên cứu đặc trưng bản chất, tính quy luật của côngdân, sự nghiệp, tư tưởng, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh

Kết hợp lịch sử với lôgic, lôgic với lịch sử giúp người nghiên cứu cóđược những tư liệu cần thiết nhưng không rơi vào tình trạng liệt kê sự kiện,

kể lể tràn lan, vừa hình thành một hệ thống luận điểm lý luận mang tính kháiquát cô động về tư tưởng, tiểu sử, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh

Trang 17

4 Phương pháp liên ngành

Ở nước ta cho đến nay, phương pháp liên ngành vẫn còn là một hiệntượng mới mẻ của lĩnh vực phương pháp và phương pháp luận, mức độ phổcập còn hạn chế, thực chất là chưa được sáng tỏ hoàn toàn Do đó, trước khibàn việc vận dụng phương pháp liên ngành vào nghiên cứu Hồ Chí Minh, cầnthiết thống nhất một số quan niệm cơ bản về thực chất, đặc điểm và phạm vivận dụng của nó

Chương trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước về tư tưởng Hồ ChíMinh (KX O2) là một chương trình nghiên cứu liên ngành Trong toàn bộ 13

đề tài của chương trình KX O2, không đề tài nào chỉ do viện nghiên cứuchuyên ngành tự mình có thể giải quyết được trọn vẹn, sâu sắc mà không cónhững sự tham gia hợp tác của chuyên gia các ngành hữu quan

Thí dụ, đề tài số 1 là đề tài tổng quan về “Tư tưởng Hồ Chí Minh vàcon đường cách mạng Việt Nam” Những nội dung lớn mà đề tài phải giảiquyết như: nguồn gốc và quá trình hình thành của tư tưởng Hồ Chí Minh; tưtưởng Hồ Chí Minh về xây dựng hệ thống chính trị (Đảng, Mặt trận, Quânđội, Nhà nước); về chiến lược và sách lược cách mạng, v.v đều là những vấn

đề lớn, mang tính tổng hợp, quan hệ đến nhiều ngành triết học, sử học, vănhóa học, chính trị học, khoa học quân sự, v.v Chỉ có trên cơ sở hội thảochuyên gia, tiến đến tổ chức nghiên cứu liên ngành thì mới làm sáng tỏ, cóchiều sâu về mỗi nội dung lớn của đề tài nói trên

Phương thức vận dụng phương pháp liên ngành vào nghiên cứu Hồ ChíMinh có hai phương thức chính:

4.1 Hợp tác chuyên gia nhiều ngành cùng nghiên cứu một đề tài cụ thể

Đây là phương thức phổ biến, được hầu hết các đề tài vận dụng và đãđạt được kết quả nhất định

Thí dụ, để nghiên cứu đề tài “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh”, trướchết cần tìm hiểu xem những nhân tố nào đã góp phần hình thành nên tư tưởngđó: truyền thống đạo đức dân tộc, tư tưởng đạo đức phương Đông (như đạo

Trang 18

đức Nho giáo, Phật giáo, ) Trước khi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, HồChí Minh có nhiều năm sống ở các nước phương Tây, tiếp thu học thuyết đạođức mácxít, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh có chịu ảnh hưởng gì của tưtưởng đạo đức phương Tây? (lòng thương người của chúa Jesus, những yếu

tố nhân đạo và dân chủ trong tư tưởng đạo đức của các nhà Khai sáng, ).Ngoài ra, Người còn học hỏi và tiếp thu những gì trong nhân cách, đạo đứccủa những nhân lỗi lạc khác như Lênin, Gandhi, Tôn Dật Tiên, Để trả lờisáng tỏ những câu hỏi đó, cần có sự nghiên cứu, tìm hiểu và giải đáp bằngnhững căn cứ cụ thể, có sức thuyết phục của chuyên gia nhiều ngành, chứkhông thể khẳng định một cách chung chung, võ đoán

Nghiên cứu tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là để vận dụng vào việcxây dựng, giáo dục đạo đức mới, khắc phục những vấn đề nóng bỏng đangđặt ra trong đời sống đạo đức của xã hội ta hiện nay, khi mặt trái của cơ chếthị trường đang tác oai, tác quái, đang xâm nhập lũng đoạn, làm băng hoạikhông ít những giá trị truyền thống văn hóa - đạo đức - tinh thần của xã hội

ta Muốn đề xuất, kiến nghị được những phương án giải quyết hữu hiệu, khảthi về những vấn đề trên cần phải tiến hành điều tra cơ bản tình hình đạo đứctrong một số tầng lớp xã hội cơ bản (cán bộ, đảng viên, thanh niên, côngnhân, người buôn bán và dịch vụ, ), ở một số địa bàn khác nhau (thành phốlớn, khu công nghiệp, nông thôn, miền núi, vùng có đạo, ), tức là phải vậndụng phương pháp xã hội học kết hợp với phương pháp của khoa học hình

sự Để hình thành đạo đức mới, ngoài phát triển kinh tế là điều kiện cơ bản,phải nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của các nhân tố ngoài kinh tế, phải kếthợp đồng bộ giữa kinh tế với luật pháp và giáo dục, tức là cần vận dụng cácphương pháp luật học, văn hóa học, của tổ chức và quản lý hành chính

Tóm lại, đạo đức là một nội dung lớn của chiến lược phát triển kinh tế

-xã hội, hướng vào mục tiêu xây dựng -xã hội công bằng, văn minh Đó là mộtchiến lược tổng hợp, chỉ riêng các nhà nghiên cứu đạo đức học không đủ sứcgiải quyết nổi, mà cần có sự hợp tác liên ngành

Ngày đăng: 23/01/2023, 00:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w