1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tieu luan kinh tế chính trị, quá trình phát triển của ASEAN và cơ hội cho việt nam và lào

20 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiêu luận kinh tế chính trị, quá trình phát triển của ASEAN và cơ hội cho Việt Nam và Lào
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế Chính trị
Thể loại Bài luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 33,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. PHẦN MỞ ĐẦU • Lý do chọn đề tài. Lịch sử phát triển xã hội loại người đã chứng tỏ rằng: nền văn minh nhân loại càng phát triển thì người ta nhận thức sâu sắc về việc nâng cao phát triển hợp tác , phát triển trên mọi lĩnh vực. Trong những thập kỷ gần đây cuộc sống cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới đã tác động sâu sắc đến tất cả các lĩnh vực khi nước ta chuyển hướng mới vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đặc biệt là từ khi phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa... đặt ra đòi hỏi cần thiết như : đầu tư, đổi mới công nghệ và môi trường sản xuất kinh doanh. đặc biệt là trong nghị quyết Đai Hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ đã chỉ rõ; tăng cường quản lý vĩ mô của Nhà nước nhằm định hướng ra chỉ đạo của sự phát triển của toàn bộ kinh tế xã hội và muốn làm được như vậy thì chúng ta phải có sự trao đổi, hợp tác kinh nghiệp giúp đỡ lớn nhau về mặt phát triển kinh tế giữ vững ổn định chính trị, phát huy mặt tích cực , họ sẽ thấy được khuôn mặt mới của đất nước ta một đất nước nhỏ bé , đổi mới, đưa đất nước ra khỏi khuảng hoảng kinh tế xã hội. củng cố vị thế của dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế. Nhận thức về việc thực hiện hội nhập ASEAN là một vấn đề hết sức quan trọng thu được nhiều thành qủa trong việc hợp tác nhưng trong đó không thể chối được vấn đề nhược điểm cần phải đi nghiên cứu , phân tích , đánh gia, so sánh , học tập kinh nghiệp của các nước đi trước để rút ra vấn đề mang tính quy luận trong quá trình trao đổi hợp tác. Với khuôn mặt đề tài tiêu luận với kiến thức còn hạn chế. Do vậy bản thân em đã sử dụng những tài liệu tham khảo sau:

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

 Lý do chọn đề tài

Lịch sử phát triển xã hội loại người đã chứng tỏ rằng: nền văn minh nhân loại càng phát triển thì người ta nhận thức sâu sắc về việc nâng cao phát triển hợp tác , phát triển trên mọi lĩnh vực Trong những thập kỷ gần đây cuộc sống cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới đã tác động sâu sắc đến tất cả các lĩnh vực khi nước ta chuyển hướng mới vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đặc biệt là từ khi phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đặt ra đòi hỏi cần thiết như : đầu tư, đổi mới công nghệ và môi trường sản xuất kinh doanh đặc biệt là trong nghị quyết Đai Hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ đã chỉ rõ; tăng cường quản

lý vĩ mô của Nhà nước nhằm định hướng ra chỉ đạo của sự phát triển của toàn bộ kinh tế xã hội và muốn làm được như vậy thì chúng ta phải có sự trao đổi, hợp tác kinh nghiệp giúp đỡ lớn nhau về mặt phát triển kinh tế giữ vững ổn định chính trị, phát huy mặt tích cực , họ sẽ thấy được khuôn mặt mới của đất nước ta một đất nước nhỏ bé , đổi mới, đưa đất nước ra khỏi khuảng hoảng kinh tế xã hội củng cố vị thế của dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế

Nhận thức về việc thực hiện hội nhập ASEAN là một vấn đề hết sức quan trọng thu được nhiều thành qủa trong việc hợp tác nhưng trong đó không thể chối được vấn đề nhược điểm cần phải đi nghiên cứu , phân tích , đánh gia, so sánh , học tập kinh nghiệp của các nước đi trước để rút ra vấn

đề mang tính quy luận trong quá trình trao đổi hợp tác Với khuôn mặt đề tài tiêu luận với kiến thức còn hạn chế Do vậy bản thân em đã sử dụng những tài liệu tham khảo sau:

Trang 3

B PHẦN NỘI DUNG Chương I: Những đặc điểm về điều kiện tự nhiên của khu

vực ĐÔNG NAM Á.

I Những đặc điểm về điều kiện tự nhiên của khu vực ĐÔNG NAM Á.

ĐÔNG NAM Á là khu vực nằm ở vùng ĐÔNG NAM lục địa châu á bao gồm 10 quốc gia các nước năm trên bán đảo TRUNG ẤN gồm Việt Nam, Lào, Cămpuchia, Miênma, Thailan Các nước đảonhư Inđônêxia, Malêxia, Pilippin, Xingapo, Brunay Tổng diện tích ĐÔNG NAM Ágồm 4,5 triệu km2, dân số gồm 5oo người ĐÔNG NAM Á là một thực thể lịch sử văn hoá các quốc gia dân tộc trong vùng có chung nhiều bản sắc, phong tục tập quán, chính trị văn hoá trên cơ sở thống nhất văn hoá bền chắt và tác động của hàng luật nhân tổ khác, ĐÔNG NAM Á nổi lên như là một thực thể địa khinh tế và địa chính trị vừa thống nhất vừa đa dạng trong lịch sử hiện đại

Như chúng ta đã biết khu vực ĐÔNG NAM Á nằm trong vùng nhiết đời gió mua.Vì vậy của khu vực là hậu hết các quốc gia, nằm trận dư các đường hàng hải quốc tế nổi Ẩn Độ Dương với Thái Bình Dương với các quốc gia thuộc Châu địa Dương ĐÔNG NAM Á có vị trí chiến lược rất quan trọng nằm giữa Ẩn Độ với Trung Quốc gần Nhật Bản tiết giáp Úc và

có hải cảng quan trọng như Ma lắc ca, Xin ga po, Đã Nẵng với vị trí chiến lược của mìnhcũng vớitiềm năng phát triển hải quan rất lớn của nhiều quốc gia trong khu vực, nó trở thành một vùng địa chính trị hết sức nhạy cảm trong toán tính chiến lượccủa các cường quốc Khí hậu ĐÔNG NAM Á nằm bắt ngày từ 28 độ Bắc xuống 11 độ Nam và trải rộng từ 96-140 độ khí hậu

Trang 4

bao trùm và chịu ảnh hưởng chủ yếu của gió mùa, tạo nên 2 mùa tương đối

rõ rệt: mùa khô lạnh, mát và mùa tương đối nóng ẩm Chính gió mùa và khí hậu biển làm cho vùng ĐÔNG NAM Á đáng lẽ phải khô cắn

Núi và đồng bằng là hai yếu tổ địa hình chủ yếu tại khu vực này Các dãy núi Arecan (tây Mien ma) Trường Sơn (dọc biến giới Việt Nam) đều chạy theo hướng Bắc- Nam: các dãy núi ở Inđônêxia chạy theo hình cánh cung ( cung Xcôngđo) Trên bản đảo Trung Ấn có các đồng bằng khá rộng : châu thổ sông Hồng Hà, Cửu Long(Việt Nam) Mê nam (Thái Lan) Xaiuen; Irauađi (Mian ma); ở Inđonexia, và Philippin có các dải đồng bằng hẹp ven biển

ĐÔNG NAM Á nổi tiếng là vùng giàu khoáng sản Đáng kế nhất là thiếc, ni ken , cô ban và dầu mỏ Ngoài ra còn có than đá, quẳng, đồng, chì, kãm, bô xit, vônphrem, măng gan, vàng, bạc…

Trong khu vực ĐÔNG NAM Á có những cánh rừng nhiệt đới phong phú, rừng bao phủ trên 60% diện tích toàn khu vực tổng diện tích chiếm trên

275 triệu ha Nhưng vì lợi ích kinh tế đặc biệt của nó mà nguồn rừng nhiệt đới của ĐÔNG NAM Á đã bị khai thác mạnh mẽ đến mức mà hầu hết các khu rừng trong khu vực đã bị tàn phá nặng nề Thì rừng chỉ còn là “đất rừng” và phần còn lại người ta cũng khó còn có thể nhận ra độ mặt “nguyên sinh” hay thậm chí đến “thứ sinh” của nó nữa Khu vực ĐÔNG NAM Á là một khuvực nông nghiệp trồng lúa mà ở hầu khấp các quốc gia ĐÔNG NAM Á hiện vẫn dang day trí một phương thức trồng trọt truyền thống là đất rừng để lấy đất làm nông nghiệp ( như phương thức “ la day ” ở Malaixia hay “ hoả canh” ở Việt Nam) cũng đã góp phần tàn phá các khu vực rừng ĐÔNG NAM Á

Mạng lưới sông ngoi ĐÔNG NAM Á dày đặc, trữ lượng nước dồi

Trang 5

thuỷ điện và bồi đắp phù sa lớn Thức vật tự nhiên rất phong phú, phát triển

và xanh tốt quanh năm Các khu rừng tạp, rừng thuần nhất, rừng ngập mặn đều có kinh tế cao ĐÔNG NAM Á đã từng là nơi cung cấp nguồn nguyên liệu quan trọng của thế giới Vùng này chiếm 90% tổng sản lương cao su, dừa, đay, gai… của thế giới và chiếm vị trí quan trọng về các nông sản khác như gạo, chè, cà phê, bông, hương liệu

Nguồn nước của ĐÔNG NAM Á có thể thoả nãm nhu cầu của con người và các nền kinh tế quốc dân trong một tương lai xa.Tuy nhiên, chỉ trong mấy thập kỷ qua, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp (huyện kim, khai khoáng, dầu mỏ, hoá chất…), là hàng loạt các nhân

tố khác đã ảnh hưởng rất lớn đến môi trường ĐÔNG NAM Á , thậm chí ảnh hưởng đến cả môi trường của biển nội địa và địa dương Nguyên do chủ yếu

là những nhân tố sau:

- Mất đi 60% diện tích phủ rừngtrong các quốc gia;

- Sự tăng không ngừng về nhu cầu các nước trong sinh hoạt, trong công nghiệp, nông nghiệp và chăn nuôi;

- Sử dụng một cách lãng phívà không hợp lý tài nguyên nước;

- Ô nhiễm công nghiệp và nông nghiệp (chất thải);

- Qua trình đô thị vớinhịp độ cao

Đó dà một số nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng làm cạn kiệt và ô nhiễm các nguồn nước của ĐÔNG NAM Á Không riêng gì ĐÔNG NAM

Á , tình trạng các nguồn nước bị nhiễm bần có tính chất toàn cầu Nhiều nhà khoa học đã đưa ra những dự bảo át bi quan về vẫn đề nước Chẳng hạn như gần đay, Xinhgapo đã đưa dự báo cần thiết là phải mua hoặc thuê lại tất cả những khu rừng bao quanh nguồn nước cung cấp cho họ tậi các nước lãng riềng để báo vệ nguồn nước của họ Đó là một nghĩ tích cực tong sự tiêu cực

Trang 6

về nguồn nước khu vực mà bược các nhà lãnh đạo trong mỗi quốc gia cần phải có một sự nhìn nhận nghiêm túc về vẫn đề tài nguồn nước

II Những vẫn đề dân cư, sự gia tăng dân số xã hội của khu vực.

1 vẫn đề chung về dân cư xã hội của khu vực.

Dân cư của ĐÔNG NAM Á: Tổng dân số ĐÔNG NAM Á có khoảng 500 triệu người (theo số liệu năm 2002 ), 86% dân số khu vực tập trung vào 4 nước: Inđônêxia, Việt Nam, Thái Lan, Philippin, các nước có dân số trên

50 triệu người Nước có dân số ít nhất trong khu vực là Brunây, khoảng 336 nghìn người Mật độ trung bình của khu vực là 100 người/km2 ,

tuy nhiên, mật độ phân bố dân cư giữa các nước không đều: Xinhgapo cao nhất 4.647 người/km2 , trong Lào chỉ coa 16,5 người/km2 , dưới mức trung

bình thế giới Nhìn chung , phần dan cư số ở các dải đồng bằng Tại các

vùng trung du và niềm núi, dân cư thưa thớt có tới 70% dân số ĐÔNG NAM

Á sống nghề nông ĐÔNG NAM Á là khu vực cửtú của nhiều dân tộc có nguồn gốc, tiếng nói, tôn giao khác nhau Trong đó đa số thuốc chủng tộc Mông gô lô it phương Nam pha trộn với người Ôxtralôit, hình thành nên một

số tiểu chủng riêng biệt nhưng cơ bản có 2 nhóm chính: Anhđônêđiêng ( mang nhiều yếu tốcủa địa chủngda đen ) và Nam Á (mang đậm yếu tốda vàng ) Một đáng chủ ý là trong cư dân ĐÔNG NAM Á 20 triệu Hoa Kiều

và người gốc Hoa Họ chủ yếu sống ở thành thị

Ngôn ngữ của ĐÔNG NAM Á : Mỗi tộc người hình thành riêng cho mình một ngôn ngữ, trong quá trình phát triển lịch sử ở các nước ĐÔNG NAM Á sinh sống nhiều dân tộc khác nhau, ngôn ngữ ở đây vô cung đa dạng Nhìn chung, khu vực có hệ ngôn ngữ Nam Á ( hay Môn – Khơ

Trang 7

me ),Việt - Mương, Thái - Ka đai, Tạng - Miếm và Nam Đảo Các hệ ngôn ngữ này lại chịa ra làm nhiều nhóm ngôn ngữ, các ngôn ngữ của từng tộc người

Tôn giáo của ĐÔNG NAM Á : ĐÔNG NAM Á trở thành các nơi tiếp nhận gần như toàn bộ các tôn giáo lớn trên thế giới Cả 3 tôn giáo lớn: Phất giáo, ấn Độ giáo và Hội giáo đã gặp nhau và cũng tồn tại ở nơi đây, và chung đều có những biến đổi nhất định phù hợp với văn hoá của từng địa phương, tạo nên của nền văn hoá riêng của khu vực ĐÔNG NAM Á

Đặc điẻm về xã hội của ĐÔNG NAM Á gắn với cội nguồn văn hoá, lịch sử Châu Á và thế giới: ĐÔNG NAM Á có tầm quan trọng ngày càng lớn trong chiến lược ảnh hưởng của các cường quốc gia thế giới Chế độ kinh tế –xã hội của các quốc gia ĐÔNG NAM Á rất đa dạng Nếu Việt Nam, Lào có chế độ kinh tế - xã hội xã hội chủ nghĩa, thì các nước còn lại phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa Sự thống nhất trong đa dạng là nét đặc trưng nhất của ĐÔNG NAM Á và nó được thể hiện ở trình độ phát triển kinh tế –xã hội Về chế độ xã hội, đại đa số các nước ĐÔNG NAM Á (ngoài trừ Việt Nam – Lào), đều có sự phân chia giai cấp rõ rệt, quan hệ giữa các giai tầng với tư liệu sản xuất và quyền lực nhà nước rất khác nhau Giai cấp tư sản nắm quyền thống trị về kinh tế và chính trị

Khu vực ĐÔNG NAM Á gồm hai nhóm nước khác nhau : sáu nước ASEAN cũ phát triển hơn (ASEAN 6) và bốn nước ASEAN mới (ASEAN 4) còn nghèo nan, lạc hậu Hiện nay tại, ASEAN 6 bỏ xa ASEAN 4 trong lĩnh vực phát triển Trên lĩnh vực kinh tế, năm 1997 tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của ASEAN 6 là 652 tỉ USD còn (GDP) của ASEAN 4 chỉ là 45 tỉ USD Chênh lệch phát triển giữa các vùng trong một quốc gia vẫn còn phổ biến Nghèo khổ là bức tranh chung của vùng nông thôn Thái Lan và Philippin do chính sách tập trung nguồn lực cho các trung tâm độ thị Trên

Trang 8

phương diện bình đẳng giới, phụ nữ với bị phân biệt đối xử và là nhóm người nghèo nhất trong số những người nghèo Hiện nay tại nhiều nước ASEAN , thành thị vẫn đang được ưu tiên phát triển hơn nông thôn năng suốt lao động trong nông nghiệp vẫn kém xa công nghiệp, tình trạng bóc lột phụ nữ bón rút của công và tham những trong các tầng lớp trên của xã hội vẫn còn phổ biến

2 Sự gia tăng dân số và sự phát nguồn nhân lực của khu vực.

Dân số của ASEAN có sự gia tăng mạnh mẽ tình trạng tăng dân số diện ra trong suốt 50 năm qua trong điều kiện nền kinh tế khu vực còn thấp kém và sự phân bố dân cư lại không đều theo lãnh thổ Theo các tai liệu thống kê dân số học thì từ cuối thế kỷ XVIII sang thế kỷ XIX, tổng sốdân của toàn khu vực ĐÔNG NAM Á chỉ vào khoảng 40.000.000 người (thấp hơn Trung Quốc và Ấn Độ từ 6 đến 7 lần ) Nhưng chỉ đến đầu thế kỷ XX thì dân số ĐÔNG NAM Á chỉ kém Trung Quốc 2 lần và ấn Độ khoảng 2,9 lần (nguyên do là cùng với sự sinh đẻ còn có các làn sóng di cư khác vào vùng ĐÔNG NAM Á ), trong thế kỷ XIX, nhịp độ tăng dân số trong các quốc gia ĐÔNG NAM Á đã rất mạnh mẽ: từ 0,5 – 0,75 % (1800 – 1850), 0,9% (1850- 1900), 1,1%(1900 – 1950), 2,5% (1950 – 1970) Kết quả đến năm 1970 mật độ dân số của Trung Quốc (64 so với 77 người/km2), thấp hơn Ấn Độ 2,4 lần (64 so với 152 người/km2) Vào năm 1965 , thống kê số dân số ĐÔNG NAM Á so với diện tích đất đai trong toàn khu vực còn rất lạc quan (246 triệu/4452000 km2) Nhưng đến năm 1989, dân số ĐÔNG NAM Á đã tăng vọt lên 444 triệu người (nghãi là tăng 170 triệu người / km2) , vào năm 1965 , thống kê dân số ĐÔNG NAM Á so với diện tích đất trong toàn khu vực còn rất lạc quan Trong thời gian năm 1970 – 1980 nhiệt độ

Trang 9

tăng trung bình của dân số toàn khu vực là 2,9% trong đó Phi li pin 3,5%, Thái lan 3,3%, Ma lê xia 2,8%, In đô nê xia hơn 2,4%… đến giai đoạn

1980-1990 tỷ lệ tăng trong các quốc gia vẫn tiếp tục tăng lên trong đó In đô nê xia 3,4%, Ma lai xia 3,7%… theo dự báo của Bauer và Ma xon (1990) thì sự gia tăng dân số tong cộng đồng người Mã Lai và người Hoa sẽ còn tăng lên cao hơn trong những năm 2000 và 2005 và sự gia tăng này sẽ ảnh hưởng mạnh

mẽ đến sự phát triển, sự phát triển nguồn nhân lực là năng lực nội sinh quan trọng là yếu tố cần quan tâm hàng đầu trong quá trình phát triển kinh tê - xã hội Vấn đề then chốt của cạnh tranh kinh tế hiện nay là cạnh tranh khoa học công nghệ, thực chất của nó là cạnh tranh về nhân tài, vì con người là yếu tố năng động nhất, cách mạng nhất trong lực lượng sản xuất Chính vì vậy, tìm hiểu hiện trạng và triển vọng phát triển nguồn nhân lực của các nước ASEAN trong bối cạnh cuộc khủng hoang hiện nay càng trở nên cấp thiết để đáp ứng những yêu cầu phát triển, xấy dựng ASEAN Thành công đồng các quốc gia phát triển bền vững Nhìn chung trong toàn khu vực thì quy mô dân

số lớn, tốc độ tăng dân số nhanh, dân số trong độ tuổi từ không đến 14 và trong độ tuổi lao động từ 14 đến 60 chiếm tỷ trọng cao, từ đố ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nhân lực: Quy mô lớn, tốc độ nhanh, lực lượng trẻ chiếm đa

số Một số nước như Bru nây, Ma lai xia, Xinh ga po dân số nhỏ thì thiếu lao động, còn các nước đông dân như: In đô nê xia, Phi líp pin, Việt Nam thì dư thừa lao động Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá cả về mặt thế lực và trí lực của nhân lực Những chính sách phát triển nguồn nhân lực khá đa dạng về chính sách dân số Các nước đã chú ý đến chíh sách y tế, phúc lợi xã hội và chính sách giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực và đã đạt được một số kết quả khả quan tuy giữa các nước vẫn còn tồn tại những khoảng cách khá lớn Ví dụ:

Trang 10

các chỉ số về y tế, giáo dục của Xinh ga po gần đạt được tiêu chuẩn của các nước phát triển, nhưng nhiều nước các chỉ số này vẫn rất thấp

3 Sự phân bố dân cư của khu vực.

Cùng với sự phát triển nhân lực và sự gia tăng dân dân hàng năm rất đáng kể như vừa nêu trên, ở Đông Nam Á còn một hiện tượng khác, do đó là

sự phân bố dân cư trong khu vực lại không đều theo lãnh thổ ta có thể chia

ra hai kiểu quần cư chỉ ở hậu khắp lãnh thổ ĐÔNG NAM Á: là một tiểu quần cư ở vùng núi và hai là kiểu quần cư ở vung đồng bằng châu thổ Một

độ dân cư ở vùng núi thường là thấp Đôi khi rất thấp Trong khi ở vùng đồng bằng châu thổ nhiều khi lại rất cao, chẳng hạn trong lưu vực sông Mê Công Mê Nam, I Ra Va Di, sông Hồng mật độ dân cư nhiều khi đến 1500 –

1800 người/km2 Do trình trạng có sự phân bố dân cư không đều lãnh thổ và phát triển dân cư với nhịp độ nhanh nên ở ĐÔNG NAM Á do nảy sinh hiện tượng siêu dân số nông nghiệp Siêu dân số là một hiện tượng không lành mạnh đối với đời sống của mỗi quốc gia và của cả khu vực Nó sẽ kéo theo nhiều hiện tượng phức táp khác làm ảnh hưởng đến đời sống nông nghiệp, công nghiệp, quá trình đô thị hoá, văn hoá - xã hội môi trường sinh thái nhân văn trong những năm gần đây mặc dù chính phủ các nước đã có nhất nhiều

cố gắng trong việc hạn chế sinh đẻ Đặc biệt là Việt Nam còn dùng biện pháp: mỗi gia đình chỉ được phép đẻ hai con cái Còn đối với Lào của chún tôi vấn đề sinh đẻ lại càng quan trọng vì đất nước của chúng tôi so sánh về diện tích thì dân số còn ít

Ngày đăng: 22/01/2023, 23:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w