1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tiểu luận cao học, ng tư tưởng của mác về lý luận giá trị thặng dư trong tác phẩm bộ tư bản

13 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận cao học, ng tư tưởng của mác về lý luận giá trị thặng dư trong tác phẩm bộ tư bản
Người hướng dẫn GS. Nguyễn Văn B, PTS. Trần Thị C
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội
Chuyên ngành Triết học - Kinh tế Chính trị Mác-Lênin
Thể loại Luận văn cao học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 30,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦU Các Mác viết cuốn “Các học thuyết về giá trị thặng dư” trong thời kỳ từ tháng giêng 1862 đến tháng 7 năm 1863 Có thể thấy rằng, Mác có ý định viết “Các học thuyết về giá trị thặng dư” như[.]

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Các Mác viết cuốn “Các học thuyết về giá trị thặng dư” trong thời kỳ

từ tháng giêng 1862 đến tháng 7 năm 1863.Có thể thấy rằng, Mác có ý định viết “Các học thuyết về giá trị thặng dư” như là phần lịch sử phụ thêm cho phần nghiên cứu lý luận của ông về “Tư bản nói chung” là phần giành cho vấn đề quá trình sản xuất tư bản Đó là ý định đầu tiên của Mác Nhưng trong quá trình thực hiện ý định đó, phần lịch sử nói về các học thuyết trước Mác về giá trị thặng dư đã vượt ra ngoài khuôn khổ của ý định đó rất xa.Vì tất cả các nhà kinh tế trước Mác đều phạm sai lầm là đã xét giá trị thặng dư không phải dưới hình thái thuần tuý của nó, mà chỉ xét nó với những hình thái đặc thù của lợi nhuận, địa tô và lợi tức, nên bản thân tài liệu của những học thuết được Mác nghiên cứu và phê phán cũng đòi hỏi phải mở rộng phạm vi nghiên cứu

Trong quá trình viết “Các học thuyết về giá trị thặng dư” phạm vi các vấn đề do Mác nghiên cứu ngày càng mở rộng ra Điều này cuối cùng đã dẫn Mác đến ý nghĩ cần thiết phải tách toàn bộ những tài liệu lịch sử - phê phán thành một quyền riêng, quyền thứ tư của Bộ “Tư bản”

Trong bài viết này em muốn khái quát những tư tưởng của Mác về lý luận giá trị thặng dư trong tác phẩm bộ Tư bản

Trang 2

NỘI DUNG

I Các khái niệm

1 Khái niệm giá trị thặng dư

Trước hết để hiểu giá trị thặng dư ta phải tìm hiểu giá trị là gì? giá trị được đo bằng lượng của cải “thực thể tạo ra giá trị” chứa đựng ở trong đó, bằng lượng lao động Bản thân số lượng lao động thì đo bằng thời gian lao động, còn thời gian lao động thì lại đo bằng những phần nhất định của thời gian như giờ, ngày, Nhưng cái lao động tại thành thực thể của giá trị là thứ lao động giống nhau của con người Toàn bộ sức lao động của xã hội, biểu hiện trong giá trị của thế giới hàng hoá

Giá trị thặng dư bao gồm giá trị thặng dư tuyệt đối, giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch

Giá trị thặng dư tuyệt đối: là giá trị thặng dư thu được do kéo dài thời gian lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi

Giá trị thặng dư tương đối: là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách nâng cao năng suất lao động trong ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt để hạ thấp giá trị sức lao động, nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao động, cường

độ lao động như cũ

Giá trị thặng dư siêu ngạch: là phần giá trị thặng dư thu được do áp dụng công nghệ mới sớm hơn các xí nghiệp khác làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị thị trường của nó Khi số đông các xí nghiệp đều đổi mới kỹ thuật và công nghệ một cách phổ biến thì giá trị thặng dư siêu ngạch của doanh nghiệp đó sẽ không còn nữa

2 Khái niện tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư

Trang 3

Tỷ suất giá trị thặng dư(m’) là tỷ lệ phần trăm số lượng giá trị thặng dư với tư bản khả biến (V) và được tính bằng công thức:

m’= m/v 100(%)

Tỷ suất giá trị thặng dư phản ánh mức độ bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân Nó chỉ rõ trong tổng số giá trị mới do sức lao động tạo ra thì công nhân được hưởng bao nhiêu thì nhà tư bản chiếm đoạt bấy nhiêu

Khối lượng giá trị thặng dư (M) là số lượng giá trị thặng dư mà nhà tư bản thu được trong một thời gian sản xuất nhất định và được tính bằng công thức:

M = m’ hoặc M = m/v.V

Trong đó V là tổng tư bản khả biến được sử dụng trong thời gian trên Khối lượng giá trị thặng dư thuộc vào tỷ lệ thuận vào cả hai nhân tố m’

và v

3.Khái niện tư bản bất biến và tư bản khả biến

Tư bản bất biến là trong quá trình sản xuất, giá trị của tư liệu sản xuất được lao động cụ thể người công nhân chuyển vào sản phẩm mới, lượng giá trị của chúng không đổi

Còn tư bản khả biến lại khác Trong quá trình sản xuất, bằng lao động trừu tượng của mình, người công nhân tạo ra một giá trị mới không những

bù đắp lại giá trị sức lao động của công nhân, mà còn có giá trị thặng dư cho nhà tư bản Do vậy, bộ phận tư bản đung để mua sức lao động đã có sự biến đổi về lượng trong quá trình sản xuất

II Tư tưởng của Mác về lý luận giá trị thặng dư

1/ Quá trình lao động và quá trình làm tăng giá trị

Trong thực tế ta thấy tiêu dùng sức lao động, đó chính là lao động Người mua sức lao động tiêu dùng sức đó bằng cách bắt người bán nó phải lao động Mà ta biết lao động là một quá trình diễn ra giữa con người ta và

Trang 4

tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình con người làm trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên Khi con người tác động vào tự nhiên và làm thay đổi tự nhiên thì con người cũng đồng thời làm thay đổi bản tính của nó

Quá trình lao động với tư cách là quá trình nhà tư bản tiêu dùng sức lao động với hai hiện tượng đặc trưng:

Đặc trưng thứ nhất là người công nhân lao động dưới sự kiểm soát của nhà tư bản, lao động của anh ta thuộc về nhà tư bản Nhà tư bản lúc này đóng vai trò là nhà quản lý

Đặc trưng thứ hai là sản phẩm là sở hữu của nhà tư bản, chứ không phải của người sản xuất trực tiếp, không phải của người công nhân Tức là kể từ khi anh ta bước chân vào xưởng của nhà tư bản, thì giá trị sử dụng của sức lao động của anh ta, tức là việc tiêu dùng sức lao động đó, hay lao động, là thuộc về nhà tư bản

Vậy, quá trình lao động là một quá trình diễn ra giữa những vật mà nhà

tư bản đã mua, giữa những vật thuộc về hắn Vì vậy, sản phẩm của quá trình

đó thuộc về nhà tư bản, hoàn toàn cũng giống như sản phẩm của quá trình lên men trong hầm rượu nho củanhà tư bản

Nhà tư bản vẫn thường được coi là người có lòng tham vô đáy Hắn không những muốn sản xuất ra một giá trị sử dụng, mà còn muốn sản xuất ra một hàng hoá, không những sản xuất ra một giá trị sử dụng, mà còn sản xuất

ra giá trị, không những sản xuất ra một giá trị mà còn sản xuất ra một giá trị thặng dư

Thật vậy, về ở đây chỉ nói đến sản xuất hàng hoá cho nên rõ ràng là cho đến nay chúng ta chỉ mới xét đến một mặt của quá trình mà thôi Cũng như

tư bản hàng hoá là sự thống nhất giữa giá trị sử dụng và giá trị, quá trình sản

Trang 5

xuất hàng hoá cũng phải là một sự thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình tạo ra giá trị

Do vậy, bây giờ chúng ta hãy nghiên cứu quá trình sản xuất với tư cách

là một quá trình tạo ra giá trị Chúng ta biết rằng giá trị của mỗi một hàng hoá được quy định bởi lượng lao động đã vật chất hoá trong giá trị sử dụng của hàng hoá ấy, tức là bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất

ra hàng hoá ấy Điều này cũng áp dụng cho sản phẩm mà nhà tư bản nhận được với tư cách là kết quả của quá trình lao động

Vậy quá trình làm tăng giá trị chẳng qua cũng chỉ là quá trình tạo ra giá trị được kéo dài qua một điểm nào đó Tức là đã để trở thành một quá trình làm tăng giá trị thì quá trình tạo ra giá trị vẫn được tiếp diễn qua điểm đó Mặt khác, khi chúng ta so sánh quá trình tạo ra giá trị với quá trìng lao động, thì chúng ta sẽ thấy rằng quá trình lao động là một lao động có ích, sản xuất

ra những giá trị sử dụng

2/ Tư bản bất biến và tư bản khả biến

Muốn tiến hành sản xuất, nhà tư bản phải ứng tư bản ra để mua tư liệu sản xuất và sức lao động, tức là biến tư bản tiền tệ thành các yếu tố khác nhau cuả tư bản sản xuất

Trước hết xét bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất Tư liệu sản xuất có nhiều loại, có loại được sử dụng toàn bộ trong quá trình sản xuất, nhưng chỉ hao mòn dần, có loại khi đưa vào sản xuất thì chuyển toàn

bộ giá trị của nó trong một chu kỳ sản xuất như nguyên liệu, nhiên liệu Trong khi lao động sản xuất biến những tư liệu sản xuất thành những yến tố cấu thành của một sản phẩm mới, thì giá trị của những tư liệu sản xuất đó cũng thực hiện một bước trong kiếp luân hồi Từ một cơ thể đã bị tiêu dùng rồi giá trị ấy chuyển sang một cơ thể mới hình thành Nhưng bước luân hồi đó được thực hiện hình như là đằng sau lưng lao động hiện thực

Trang 6

Người lao động không thể thêm lao động mới, nghĩa là không thể tạo ra một giá trị mới, nếu không bảo toàn những giá trị cũ, bởi vì bao giờ anh ta cũng phải kết hợp thêm lao động dưới một hình thái có ích nhất định, nhưng anh

ta lại không thể kết hợp thêm lao động dưới một hình thái có ích nếu không biến sản phẩm thành những tư liệu để sản xuất ra một sản phẩm mới, và do

đó, nếu không chuyển giá trị của chúng sang sản phẩm mới đó Vậy, bảo toàn giá trị bằng cách gắn thêm giá trị là một bẩm tính tự nhiên của sức lao động đang hoạt động, tức là của lao động sống, một bẩm tính tự nhiên không tốn kém gì cho người công nhân, nhưng lại đem lại rất nhiều cho nhà tư bản,

cụ thể là bảo toàn được giá trị tư bản hiện có cho hắn

Đối với sức lao động đang hoạt động, thì tình hình lại khác hẳn Trong khi lao động chuyển giá trị của tư liệu sản xuất vào sản phẩm và do đó mà bảo tồn được giá tri ấy nhờ các hình thái có mục đích của nó, thì mỗi một giai đoạn vận động của nó lại sáng tạo ra một giá trị phụ thêm, một giá trị mới Đó là giá trị mới duy nhất đã xuất hiện trong quá trình ấy, là phần giá trị duy nhất của sản phẩm do bản thân của quá trình ấy đề ra Như vậy, nhờ hoạt động của sức lao động không những giá trị của bản thân nó được tái sản xuất ra, mà một giá trị thặng dư cũng được sản xuất ra nữa

Cuối cùng Mác đã khái quát thành phạm trù, trong quá trình sản xuất

bộ phận tư bản biến thành tư liệu sản xuất, tức là thành nguyên liệu, vật liệu phụ và tư liệu lao động, không thay đổi đại lượng giá trị của nó Mác gọi đó

là bộ phận bất biến của tư bản, hay vắn tắt hơn, là tư bản bất biến Trái lại,

bộ phận tư bản biến thành sức lao động lại thay đổi giá trị của nó trong quá trình sản xuất Nó tái sản xuất ra vật ngang giá bới bản thân nó, và ngoài ra, lại còn sản xuất ra một số dư, tức là giá trị thặng dư, giá trị thặng dư này lại

có thể thay đổi, có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn Từ một đại lượng bất biến, bộ phận này của tư bản không ngừng chuyển hoá thành một đại lượng khả biến

Trang 7

Vì thể Mác gọi nó là bộ phận khả biến của tư bản, hay vắn tắt hơn, là tư bản khả biến Cũng như những bộ phận cấu thành ấy của tư bản, xét trên quan điểm của quá trình lao động thì phân biệt thành những nhân tố khách quan

và chủ quan, thành những tư liệu sản xuất và sức lao động, nhưng xét trên quan điểm của quá trình làm tăng giá trị thì lại phân biệt thành tư bản bất biến và tư bản khả biến

3/ Ngày lao động

Ngày lao động không phải là một đại lượng bất biến mà là một đại lượng khả biến Một bộ phận của ngày lao động quả là do thời gian lao động cần thiết để không ngừng tái sản xuất ra bản thân người công nhân quyết định, nhưng tổng đại lượng của ngày lao động lại thay đổi tuỳ theo độ dài hay thời gian của lao động thặng dư Mặc dù, ngày lao động không phải là một đại lượng cố định mà là một đại lượng thay đổi, nhưng mặt khác nó cũng chỉ có thể thay đổi trong những giới hạn nào đó thôi Tuy nhiên, không thể quy định được giới hạn tối thiểu của nó Ngược lại, ngày lao động lại có một giới hạn tối đa Nó không thể kéo dài ra quá một giới hạn nào đó được Giới hạn tối đa đó được quyết định về hai mặt Trước hết là do những giới hạn về thể chất của sức lao động quyết định Nhưng hai loại giới hạn đó lại rất co giãn và mở cho người ta một phạm vi hoạt động rộng rãi nhất

Nhà tư bản đã mua sức lao động theo đúng giá trị hàng ngày của sức lao động đó Giá trị sử dụng sức lao động đó trong một ngày thuộc về nhà tư bản Nhà tư bản thực hiện cái quyền của hắn với tư cách là người mua khi hắn ta tìm cách kéo dài ngày lao động được chừng nào hay chừng ấy, và ở nơi nào có thể thì biến một ngày lao động thành hai Mặt khác, tính chất đặc thù của hàng hoá đã bán đi lại bao hàm một giới hạn đối với việc người mua tiêu dùng nó và người công nhân thực hiện quyền người bán của mình khi

Trang 8

anh ta muốn giới hạn ngày lao động trong một đại lượng trung bình nhất định

Tư bản không hề phát minh ra lao động thặng dư Nơi nào mà một bộ phận xã hội chiếm độc quyền về những tư liệu sản xuất thì nơi đó người lao động, tự do hay không tự do, đều buộc phải thêm vào thời gian lao động cần thiết để nuôi sống bản thân mình một số thời gian lao động phụ thêm dùng

để sản xuất ra tư liệu sinh hoạt cho người chiếm hữu tư liệu sản xuất Nhưng, nhà tư bản, sự thèm khát về hạn đối với lao động thặng dư biểu hiện thành một xu hướng kéo dài vô hạn độ ngày lao động, còn ở lãnh chúa thì nó biểu hiện một cách đơn giản hơn thành việc trực tiếp đuổi theo những ngày lao dịch

4/ Tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư

Tỷ suất giá trị thặng dư là mức độ bóc lột sức lao động, việc biểu hiện giá trị sản phẩm bằng những phần tỷ lệ của sản phẩm và sản phẩm thặng dư Thật vậy, giá trị thặng dư do tư bản ứng tước (C) sản sinh ra trong quá trình sản xuất, hay số tăng lên của giá trị tư bản ứng trước, biểu hiện ra trước hết như là một số dư trong giá trị của sản phẩm so với tổng số giá trị của những yếu tố sản xuất ra sản phẩm đó Khi phân tích quá trình dưới dạng thuần tuý của nó đòi hỏi chúng ta phải hoàn toàn gạt sang một bên cái phần giá trị của sản phẩm trong đó giá trị tư bản bất biến chỉ tái hiện ra Còn phần ngày lao động trong đó việc tái sản xuất ấy diễn ra, Mác gọi là thời gian lao động cần thiết, còn lao động chi phí trong thời gian đó là lao động cần thiết Ngoài ra Mác còn gọi cái ngày lao động đó là thời gian lao động thặng dư và lao động chi phí trong thời gian đó là lao động thặng dư Nếu coi giá trị chỉ

là thời gian lao động đã cố động lại, chỉ là lao động đã vật hoá, là rất quan trọng để nhận thức được giá trị nói chung, thì việc coi giá trị thặng dư chỉ là lao động thặng dư đã vật hoá,cũng quan trọng như thế để nhận thức được giá

Trang 9

trị thặng dư Chỉ có cái hình thức trong đó người ta bóp nặn lao động thặng

dư ấy của người sản xuất trực tiếp, tức là của người công nhân mới phân biệt được những hình thái kinh tế xã hội, ví dụ: phân biệt xã hội dựa trên chế độ

nô lệ với xã hội dựa trên lao động làm thuê chẳng hạn

Vởy tỷ suất giá trị thặng dư là biểu hiện chính xác của mức độ tư bản bóc lột sức lao động, hay mức độ nhà tư bản bóc lột người công nhân

Với một giá trị sức lao động đã cho thì khối lượng giá trị thặng dư do mỗi công nhân riêng biệt sản xuất ra lại do tỷ suất giá trị thặng dư quyết định, cho nên ta cỏ thể rút ra được ba quy luật về tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư

Quy luật thứ nhất: là khối lượng giá trị thặng dư sản xuất ra bằng với đại lượng của tư bản khả biến ứng trước nhân với tỷ suất giá trị thặng dư, hay nó được quyết định bằng các tỷ lệ kép giữa số sức lao động cùng bị một nhà tư bản bóc lột trong cùng một lúc và trình độ bóc lột từng sức lao động riêng biệt

Ta có M = m/v V k.a’/a.n Trong đó, M là khối lượng giá trị thặng dư, m là giá trị thặng dư trung bình hàng ngày do từng người công nhân riêng sẽ sản xuất ra, v là tư bản khả biến, V là tổng tư bản khả biến, K là giá trị của một sức sản xuất trung bình, a’/a(lao động thặng dư/lao động cần thiết) trình độ bóc lột sức lao động, n là số công nhân sử dụng

Trong việc sản xuất ra một khối lượng giá trị nhất định, sự giảm xuống của một nhân tố này có thể bù lại bằng một nhân tố khác Nếu như tư bản khả biến giảm xuống và đồng thời tỷ suất giá trị thặng dư lại tăng lên theo cùng một tỷ lệ, thì khối lượng giá trị thặng dư sản xuất ra sẽ không thay đổi

Trang 10

Quy luật thứ hai, giới hạn tuyệt đối của ngày lao động trung bình, bản chất bao giờ cũng ít hơn 24 giờ, là cái giới hạn tuyệt đối cho việc bù lại sự giảm bớt tư bản khả biến bằng cách tăng tỷ suất giá trị thặng dư, hoặc bù lại

sự giảm bớt số lượng công nhân bị bóc lột bằng cách tăng trình độ bóc lột sức lao động Quy luật này là một quy luật quan trọng để giải thích nhiều hiện tượng bắt nguồn từ cái xu hướng của tư bản mà sau này chúng ta sẽ làm tới - xu hướng muốn giảm số lượng công nhân do thuê nó mượn, hoặc giảm

bộ phận tư bản khả biến chuyển hoá thành sức lao động xuống tới mức tối thiểu, xu hướng này mâu thuẫn với một xu hướng khác của tư bản là muốn sản xuất một khối lượng giá trị thặng dư tối đa Ngược lại, nếu khối lượng sức lao động sử dụng, hay đại lượng của tư bản khả biến tăng lên nhưng không cùng tỷ lệ với việc giảm tỷ suất giá trị thặng dư thì khối lượng giá trị thặng dư sản xuất ra sẽ giảm xuống

Quy luật ba là, quy luật bắt nguồn từ việc khối lượng giá trị thặng dư sản xuất ra được quyết định bởi hai nhân tố là tỷ suất giá trị thặng dư và đại lượng của tư bản khả biến ứng trước Do đó, với một tỷ suất giá trị thặng dư nhất định và với một giá trị sức lao động nhất định thì khối lượng giá trị thặng dư sản xuất ra tỷ lệ thuận với đại lượng của tư bản khả biến ứng trước Quy luật này mang hình thái như sau: với một giá trị sức lao động đã cho sẵn và với một trình độ bóc lột sức lao động giống nhau, thì khối lượng giá trị và giá trị thặng dư do những tư bản khác nhau sản xuất ra sẽ tỷ lệ thuận với đại lượng của bộ phận khả biến của những tư bản ấy, tức là với cái bộ phận tư bản đã được chuyển hoá thành sức lao động sống

Quy luật đó mâu thuẫn rõ rệt với tất cả mọi kinh nghiệm dựa trên những hiện tượng bề ngoài Mọi người đều biết rằng một chủ xưởng kéo sợi bông dùng một tỷ lệ tư bản bất biến tương đối nhiều và tư bản được sử dụng, nhưng không phải vì thế mà hắn ta bóc lột được ít lợi nhuận hay ít giá trị

Ngày đăng: 22/01/2023, 22:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w