1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tieu luan ktct lý luận giá trị thặng dư trong bộ tư bản

18 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý luận giá trị thặng dư trong bộ tư bản
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế chính trị
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 38,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I PHẦN MỞ ĐÂU Bộ tư bản của Mác trình bày lý luận về chủ nghĩa tư bản thời kỳ tự do cạnh tranh dựa trên sự tổng kết tài liệu thực tiễn của nước Anh, trình bày sự phát sinh, phát triển của phương thức[.]

Trang 1

I PHẦN MỞ ĐÂU

Bộ tư bản của Mác trình bày lý luận về chủ nghĩa tư bản thời kỳ tự do cạnh tranh dựa trên sự tổng kết tài liệu thực tiễn của nước Anh, trình bày sự phát sinh, phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và vạch rõ những mâu thuẫn trong lòng chủ nghĩa tư bản tất yếu sẽ thúc đẩy nó quá độ lên một phương thức sản xuất cao hơn

Ngày nay tình hình đã thay đổi nhất nhiều so với khi Mác viết tác phẩm

“Tư bản”, vì vậy, nhiều tư liêu lịch sử cụ thể lúc bấy giờ là đúng thì bây giờ lại không thích hợp nữa Nhưng nhiều nguyên lý, nhiều quy luật kinh tế của Mác đã đõi phát hiện, như những quy luật về sản xuất và lưu thông hàng hoá, về sản xuất giá trị thặng dư, (GTTD), về lợi nhuận (P), về thương nghiệp, tín dụng, ngân hàng, về cơ chế thị trường tự do cạnh tranh, về khủng hoảng kinh tế,v.v đến nay vẫn mang tính khoa học và có ý nghĩa thực tiến đến tận bây giờ

Mọi cái đều trôi qua, mọi cái đều biến đổi Ngày nay đối với yêu câu người đọc bộ “Tư bản” cũng phải thay đổi Trước đây với chủ đích đơn thuận vạch trận bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản người đọc thường thiên về việc khai thác quan hệ bóc lột giá trị thặng dư, vạch ra mâu thuẫn giai cấp Ngày nay, người nghiên cứu không thể coi nhẹ những điểm nói trên, nhưng đã quan tâm tìm hiểu trong tác phẩm này nhiều tri thức bổ ích khác, về cơ chế thị trường, về kinh tế hàng hoá, về tiền tệ tín dụng, về tăng sức sản xuất của lao động, v.v

Mục đích của đề này là phác thảo điểm chủ yếu nhất trong tác phẩm bộ

“Tư bản”, dưới góc độ kinh tế chính trị, nhằm giúp người nghiên cứu làm quen bước đầu với công trình khoa học vĩ đại nói trên, để rồi sau này tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm một cách thuận lợi hơn, nhằm nhận thức tròn vẹn từng học

Trang 2

“Tư bản” là công trình khoa học nghiên cứu nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa thời kỳ tự do cạnh tranh ở nước Anh từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XIX Nhưng nội dung của nó cũng cấp cho người nghiên cứu không chỉ những tri thức về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, về kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, mà cả nhiều tri thức chung về kinh tế chính trị, về triết học và xã hội học,

Đối tượng nghiên cứu tác phẩm này: là phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tức là nghiên cứu cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội

tư bản, nhưng nhấn mạnh quan hệ sản xuất và quan hệ trao đổi, nhưng quan hệ này ra đời một cách khách quan phù hợp với trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất, đối lập với ý muốn của còn người Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành “cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cơ sở thực tại của xã hội trên đó xây dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị” Quan hệ sản xuất là hình thức phát triển của lực lượng sản xuất khi nó phù hợp với lực lượng sản xuất và nó trở thành xiềng xích trói buộc lực lượng sản xuất khi không còn phù hợp nữa

Nhận thức về việc khai thác, những tư tưởng của Mác- Ăngghen về lý luận giá trị thặng dư trong tác phẩm bộ tư bản Trong đó vấn đề cần khai thác và nghiên cứu là chất giá trị thặng dư, lượng giá trị thặng dư, và quy luật giá trị thặng dư, cùng với thực tiễn trên nhiều năm đổi mới, chúng ta đã thu được thắng lợi to lớn, song bên cạnh đó cũng còn bóc lột nhiều nhược điểm cần phải

đi sâu nghiên cứu, phân tích đánh giá, so sánh học tập kinh nghiệm của các nước

đi trước để rút ra nền kinh tế thị trường, với khuôn khổ một đề tài tiểu luận, với kiến thức còn hạn chế Do vậy, bản thân em chỉ xin đề cập đến chất giá trị thặng

dư, lượng giá trị thặng dư, và quy luật giá trị thặng dư với tính cách nhằm phát triển cao hơn nữa

Trang 3

II PHẦN NỘI DUNG.

I SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TUYỆT ĐỐI (PHẦN III, Q1 T1 GỒM 5 CHƯƠNG)

Tổng quan tiền tệ có một số chức năng mới (tiền trở thành tư bản) là nhờ thứ hàng hoá mới: hàng hoá- SLĐ Mua hàng hoá- SLĐ là điều kiện cơ bản để tiền trở thành tư bản Nhưng sau khi mua hàng hoá sức lao động thì phải tiêu dùng nó, nếu không sẽ không thu được M Như vậy là phải rời lĩnh vực lưu thông đi vào lĩnh vực sản xuất để xem xét cái “bí mật” của tư bản

Đời sống của tư bản không chỉ đóng khung ở công thức: T-H-T’, vì công thức này chỉ miêu tả các giai đoạn lưu thông Cần phải có công thức miêu tả được cả quá trình sản xuất và quá trình lưu thông (Mác nêu ra ở Q2, Bộ tư bản)

Trong công thức này: T-H là giai đoạn lưu thông I, nhờ nó mà tiền chuyển hoá thành sức lao động(SLĐ) và tư liệu sản xuất Giai đoạn này đã được xem xét ở phần I- sự chuyển hoá của tiền thành tư bản

sản xuất đó là giai đoạn sản xuất, quá trình sản xuất, quá trình gián đoạn của lưu thông Ta sẽ nghiên cứu ở phần này

H’-T’, giai đoạn lưu thông II, hàng hoá chuyển hoá thành tiền, sẽ nghiên cứu ở Q2 “Bọ tư bản”

Nhưng lưu ý rằng: do phương thức bóc lột tư bản chủ nghĩa chỉ khác các phương thức bóc lột trước đó, chẳng hạn, phương thức bóc lột ở chế độ chiếm hữu nô lệ: cướp đoạt bằng sự cưỡng bức trực tiếp Phương thức bóc lột tư bản chủ nghĩa cũng là sự cướp đoạt nhưng qua khâu trung gian: mua bán sức lao động (SLĐ) một cách tự nguyện Vì vậy, sản xuất m tuyệt đối chỉ đòi hỏi sự phụ

Trang 4

Sản xuất giảtị thặng dư tuyệt đối được xem xét dưới 2 góc độ vừa là hình thái chung, vừa là hình thái đặc biệt của sản xuất giá trị thặng dư (m)

Vì vậy, phải nghiên cứu lần lượt các vấn đề sau đây:

- Quá trình lao động và quá trình tăng giá trị

- Tư bản bất biến và tư bản khả biến

- Tỷ suất giá trị thặng dư

- Ngày lao động

1 Quá trình lao động và quá trình làm tăng giá trị (chương V)

a sản xuất tư bản chủ nghĩa là quá trình thống nhất, đối lập giữa sản xuất GTSD và GTTD.

- Hàng hoá có hai thuộc tính: giá trị sử dụng ( GTSD) và giá trị (GT)

- Sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa cũng là sản xuất hàng hoá, nhưng là loại sản xuất hàng hoá phát triển cao Là sản xuất hàng hoá nên đối với các nhà

tư bản thì trước hết, phải sản xuất ra một vật có ích, có giá trị, một vật dùng để bán, một hàng hoá, sau nữa nhà tư bản muốn sản xuất ra không những một vật

có ích, mà còn muốn sản xuất ra một giá trị và giá trị thặng dư (tr 350)

Mác viết: “ Khi sản xuất hàng hoá biểu hiện không những chỉ là sự thống nhất giữa lao động có ích và lao động sáng tạo ra giá trị, mà còn biểu hiện là sự thống nhất giữa lao động có ích va lao động sáng tạo ra giá trị thặng dư( GTTD) thì sản xuất hàng hoá trở thành sản xuất tư bản chủ nghĩa, tức là sản xuất hàng hoá dưới hình thái tư bản chủ nghĩa” (SĐD tr 368-369)

b Sự sản xuất ra giá trị sức lao động ( GTSD), (quá trình lao động).

- Phân tích quá trình lao động chỉ vì nó là quá trình tăng thêm giá trị ở đây sự vận động được xem xét về mặt chất lượng, trong phương thức đặc biệt của nó, trong mục đích và nội dung của nó Trong quá trình tạo ra giá trị thì cũng chính quá trình lao động đó lại chỉ biểu hiện ra về mặt số lượng mà thôi (tr 366)

Trang 5

Việc nghiên cứu quá trình lao động nhằm mục đích tìm ra các yếu tố của quá trình lao động và vai trò của các yếu tố đó

Các yếu tố của quá trình lao động, bao gồm: lao động của con người, đối tượng lao động và tư liệu lao động

Bất kỳ nền sản xuất xã hội nào cũng phải có hai yếu tố vật chất: khách quan- tư liệu sản xuất; chủ quan: sức lao động Trong hai loại yếu tố này: lao động sống có vai trò quyết định

- Sử dụng và sáng tạo ra tư liệu lao động

- Nắm lấy tư liệu sản xuất, cải tử hoàn sinh nó, biến nó từ những công dụng dưới dạng khả năng thành công dụng hiện thực

Trên cơ sở xem xét quá trình lao động nói chung, Mác chỉ rõ quá trình sản xuất giá trị giá trị sử dụng (GTSD) trong xã hội tư bản có hai đặc điểm quan trọng:

- Người công nhân lao động dưới sự kiểm soát của các nhà tư bản Lao động của anh ta thuộc về nhà tư bản

- Sản phẩm là vật sở hữu của nhà tư bản chứ không phải là của người sản xuất trực tiếp (của người lao động)

c Quá trình sản xuất ra giá trị thặnt dư.

Sản xuất tư bản chủ nghĩa là sản xuất hàng hoá đặc biệt– sản xuất ra giá trị thăngh dư c(GTTD) Nghiên cứu tư bản chủ nghĩa phải nghiên cứu quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư ( GTTD) hay quá trình tạo giá trị và tăng giá trị

Ở phần 1, Q1, tập 1, Mác đã nghiên cứu tỉ mỷ về giá trị Ở đây Mác trở lại vấn đề này, cốt để xem xét nó dưới một khái cạnh hơi khác để làm rõ thực chất của sản xuất giá trị thặng dư ( GTTD) Ở phần 1, Mác nghiên cứu giá trị về mặt lưu thông, Mác xem giá trị như là lao động vật hoá biểu hiện trong giá trị trao đổi

Trang 6

Nghiên cứu quá trình sản xuất GTTD ở đây, chủ yếu là rõ mặt lượng của quá trình lao động (tr 366)

Nghiên cứu quá trình sản xuất ra GTTD, Mác giả định:

+ Tư liệu sản xuất phải thực sự dùng để sản xuất giá trị sử dụng

+ Chỉ dùng thời gian lao động tấy yếu trong điều kiện sản xuất bình thường, tức là:

- Sức lao động phải hoạt động trong điều kiện bình thường, tính chất bình thường của hoạt động của sức lao động(SLĐ) là: trình độ tạo thành thao trung bình, cương độ lao động trung bình

- Tư liệu sản xuất phải được tiêu dùng ở mức bình thường bởi vì lãnh phí công cụ lao động, nguyên liệu là sự hao phí vỏ ích không được tính vào sản phẩm và không thêm giá thị vào sản phẩm

+ Phải tuân theo những quy luật của trao đổi ngang giá

* Quá trình sản xuất ra giá trịvà tăng giá trị.

Sản phẩm sở hữu của nhà tư bản- là một giá trị sử dụng nhất định, đồng thời là vật mang giá trị trao đổi, một vật dụng để bán, nghĩa là một hàng hoá Nhà tư bản muốn sản xuất ra hàng hoá có giá trị lớn hơn tổng số gía trị những hàng hoá cần thiết để sản xuất ra nó, tức là lớn hơn tổng số giá trị những tư liệu sản xuất và sức lao động mà hắn phải ứng trước tiền mặt ra mua trên thị trường hàng hoá

Nguồn gốc của giá trị thặng dư (GTTD) là sự tiêu dùng sức lao động kéo dài ngoài thời gian tái sản xuất ra giá trị của nó Mác tóm tắt như sau: “Nếu chúng ta so sánh quá trình tạo ra giá trị và quá trình làm tăng thêm giá trị, thì ta thấy rằng quá trình làm tăng giá trị không phải là cái gì khác, mà là quá trình tạo

ra gía trị được kéo dài qua một thời điểm nào đó Nếu quá trình tạo ra giá trị chỉ kéo dài đến cái điểm mà ở đó giá trị sức lao động do tư bản trả, được hoàn lại bằng một vật ngang giá mới thì đó chỉ là một quá trình giản đơn tạo ra giá trị mà

Trang 7

thôi Còn nếu như quá trình tạo ra giá trị vẫn được tiếp diễn qua một điểm nào

đó, thì nó trở thành một quá trình làm tăng giá trị” (tr 366)

“Tư bản sản xuất ra giá trị thặng dư ( GTTD) trước hết bằng cách đơn thuần kéo dài ngày lao động quá cái thời gian lao động cần thiết (cần thiết để bù đắp giá trị sức lao động”

Trong điều kiện kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản (giai đoạn đầu) còn thấp và tiến bộ tương đối chậm thì việc tăng giảtị thặng dư (GTTD) chủ yếu biểu hiện bằng kéo dài ngày lao động và tăng cường độ lao động

2 Tư bản bất biến và tư bản khả biến (chương VI).

Ở chương V, Mác nghiên cứu sự sản xuất giá trị thặng dư (GTTD) về mặt

là một hình thái do lao động qui định và quá trình sản xuất của cải vật chất sở dĩ mang hình thái đó là lao động đã trở thành lao động làm thuê

Để sản xuất giá trị thặng dư (GTTD), nhà tư bản phải ứng tư bản ra để mua tư liệu sản xuất va sức lao động, tức là phải chuyển hoá tư bản tiền tệ thành

tư bản sản xuất Mỗi bộ phận khác nhau của tư bản sản xuất có vai trò như thế nào đối với việc sản xuất giá trị thặng dư (GTTD)

*Bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất có nhiều, nhưng quy lại thành 2 loại chính:

- Máy móc, thiết bị, nhà xường và các tư liệu lao động Bộ phận này có đặc tính là khi sử dụng thì nó được sử dụng toàn bộ, nhưng chỉ hao mòn dần và chuyển từng phần gái trị của nó vào sản phẩm mới

- Nguyên liệu, vật liệu phụ, nhiên liệu, các đối tượng lao động khác, có đặc điểm là khi sử dụng thì nó được tiêu dùng toàn bộ, giá trị của chúng được chuyển hết vào sản phẩm mới một lần

* Bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất.

* Bộ phận tư bản tiêu dùng để mua hàng hoá sức lao động thì lại khác.

Trang 8

Tóm lại: Bộ phận tư bản biến thành sức lao động (SLĐ) lại thay đổi gái

trị của nó trong quá trình sản xuất, nó tái sản xuất ra một ngang với bản thân nó

và ngoại ra còn có m cho nhà tư bản, m này có thể thay đổi (lớn hay nhỏ) Từ một đại lượng bất biến bộ phận này của tư bản không ngừng chuyển hoá thành một đại lượng khả biến Vì thế Mác gọi nó là bộ phận khả biến của tư bản hay là

tư bản khả biến (v)- (Vriab capital)

Mác viết: “ muốn làm cho một bộ phận của tư bản đi chuyển thành SLĐ

mà có thêm được giá trị, thì một bộ phận tư bản khác cần phải chuyển hoá thành

tư liệu sản xuất, muốn cho tư bản khả biến hoạt động được, phải có một tư bản bất biến đã được ứng trước có những tỷ lệ thích ứng với tính chất kỹ thuật nhất định của quá trình lao động”

3 Tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư GTTD (C VII và C IX).

Ở tiết 1 và 2 ta đã nghiên cứu mặt chất của giá trị thặng dư ( GTTD), điểm

3 này sẽ nghiên cứu mặt lượng của giá trị thặng dư (GTTD)

Để biểu hiện đẩy đủ mặt lượng của quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa, Mác dùng 2 phạm trù: tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư

a tỷ suất giá trị thặng dư.

Phân biệt tỷ số lột và tỷ suất giá trị thặng dư(GTTD)

- Sự bóc lột đã từng có trứơc chủ nghĩa tư bản Bởi thế thời gian lao động của người lao động bị bóc lột, lúc đó cũng chia làm hai phần: thời gian lao động cần thiết và thời gian lao động thặng dư (sự phân biệt để phân tích về lý luận)

Do đó, tỷ số bóc lột được biểu thị

Tỷ số bóc lột =

TGLDCT TGLDTD

- Đặc điểm của chủ nghĩa tư bản, không phải là ở sự bóc lột, không chỉ ở

sự tồn tại thời gian lao động thặng dư, mặc dù sự thống trị của tư bản thì độ bóc lột tăng lên rất cao, nhưng đó vẫn không phải là đặc điểm bóc lột của chủ nghĩa

Trang 9

tư bản Đặc điểm bóc lột của chủ nghĩa tư bản: bóc lột dưới hình thái giá trị, trên

cơ sở bóc lột giá trị thặng dư (GTTD) là rất tinh vi và không có giới hạn Do đó,

tỷ lệ

TGLDTY

m

v =

GTTD TBKB

Quan hệ bóc lột bị vật hoá, bị che lấp bởi quan hệ vật với vật

Như vậy, tỷ số bóc lột và tỷ suất giá trị thặng dư (GTTD) có sự khác nhau:

+ Tỷ suất bóc lột là phạm trù của một thời đại có đối kháng giai cấp, mọi thời đại dựa trên sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác, nó biểu hiện dưới hình thái lao động đang hoạt động, không bị cái vỏ vật chất che lấp và tồn tại trong mọi xã hội có giai cấp

+ Tỷ suất giấ trị thặng dư (GTTD) là phạm trù riêng của chủ nghĩa tư bản,

nó thể hiện chính xác trình độ nhà tư bản bóc lột công nhân làm thuê, nó biểu hiện dưới hình thái lao động vật hoá, tồn tại dưới hình thái quan hệ vật với vật

Tỷ số bóc lột và tỷ suất: giá trị thặng dư cùng biểu hiện một quan hệ nhưng dưới hình thức khác nhau Khi thì dưới dạng hình thái lao động vật hoá khi thì dưới hình thái lao động sống đang hoạt động

Tỷ suất giá trị thặng dư (GTTD):

m’ =

m

v X 100%

Phản ánh chính xác trình độ bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân làm thuê, chỉ rõ trong tổng số giá trị mới do sức lao động của công nhân làm thuê tạo

ra thì công nhân được bao nhiêu, nhà tư bản được bao nhiêu: nó còn chỉ rõ một ngày lao động thì thời gian lao động thiết yếu (TGLĐTY) và thời gian lao động (TGLĐ) là bao nhiêu: vì thế có thể biểu thị:

Trang 10

m’ =

t'

t x 100% (t’: TGLĐTD, t: TGLĐTY) Nếu xét dưới góc độ kinh tế thì m’ là một chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của việc sử dụng sức lao động hay “mức sinh lời của tiền công” Chẳng hạn nếu m’= 100% thì có nghĩa là nhà tư bản cứ bỏ ra 100 để trả công thì thu được 100 giá trị thặng dư (GTTD)

b Khối lượng gia trị thặng dư.

Khối lượng giá trị thặng dư nói lên trình độ bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân làm thuê, chưa nói lên qui mô bóc lột Để làm rõ khối lượng, qui mô bóc lột, Mác dùng phạm trù: khối lượng giá trị thặng dư ký hiệu M

M =

m

v x V (trong đó V: tổng số tư bản khả biến) Hoặc M= k x

t'

t x n

Trong đó k: gía trị của mộ sức lao động (SLĐ) trung bình; n: số công nhân

Nếu xác định được m’ và V thì xác định được M Nếu M không thay đổi thì khi m’ tăng thì V phải giảm Trong xây dựng tư bản, M tăng thì có thể hoặc tăng m’ hoặc tăng V, hoặc cả hai đều tăng m’ tăng hoặc V tăng thì khối lượng GTTD tăng, điều đó nói lên: nhà tư bản bóc lột công nhân theo chiều sâu (m’ tăng) và bề rộng (V tăng)

4 Ngày lao động (chương VIII).

Khi kết thúc nói về m’ (tr 427) Mác viết: tổng số lao động cần thiết và lao động thặng dư, tức là những khoảng thời gian trong đó, người công nhân sản xuất ra cái giá trị bù lại SLĐ của mình và sản xuất ra m, hợp thành đại lượng

Ngày đăng: 22/01/2023, 22:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w