Chapter 2 Regional Planning 2 ppt CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUY HOẠCH VÙNG LÃNH THỔ TS 8 = LT 6 + TL 2 2 1 Các yếu tố cơ bản của sản xuất xã hội Trong tiến trình phát triển của sản xuất xã hội cho đ[.]
Trang 1CHƯƠNG 2:
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUY
HOẠCH VÙNG LÃNH THỔ
TS: 8 = LT: 6 + TL: 2
Trang 22.1 Các yếu tố cơ bản của sản xuất
xã hội
Trong tiến trình phát triển của sản
xuất xã hội cho đến nay, người ta
đã xác định 5 yếu tố cơ bản của sản xuất xã hội:
Trang 32.1.1 Lao động Bước vào thập kỷ 90, nước ta có 66 triệu dân với 33 triệu người trong độ tuổi lao động, năm
2000 có khoảng 80 triệu dân với 40 triệu lao động Năm 2012 sẽ vượt trên 88 triệu người
và tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động là ~
46,48 triệu người Tỷ trọng lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 48,7% năm 2010 xuống 48,0% năm 2011; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 21,7% lên 22,4%; khu vực dịch vụ duy trì ở mức 29,6%
Trang 4• Cơ cấu dân số Việt Nam đã chuyển từ cơ cấu dân
số trẻ sang giai đoạn cơ cấu tuổi thuận lợi, với
nguồn nhân lực dồi dào nhất từ trước đến nay
(64,5% trong độ tuổi lao động)
• Một nghiên cứu của WB (3/2008) cho thấy: lao
động Việt Nam chỉ đạt 32/100 điểm Trong khi đó, những nền kinh tế có chất lượng lao động dưới 35 điểm đều có nguy cơ mất sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu
• Người Việt Nam chúng ta có những hạn chế về thể lực, kiến trúc, tay nghề, còn mang thói quen sản
xuất lạc hậu và dấu ấn của cơ chế quan liêu bao cấp, song con người Việt Nam có truyền thống yêu nước, cần cù, có khả năng nắm bắt nhanh khoa
học công nghệ, có đầu óc tìm tòi học tập và sáng tạo
Trang 5• Các tiêu chí đánh giá chất lượng lao động
do WB đưa ra bao gồm những kết quả
chung về hệ thống giáo dục và đào tạo
nhân lực; mức độ sẵn có của lao động chất lượng cao; mức độ sẵn có của nhân lực
quản lý hành chính chất lượng cao; sự
thành thạo tiếng Anh và sự thành thạo về
kỹ thuật và công nghệ tiên tiến PGS.TS
Nguyễn Đại Thành (Bộ GDĐT) khẳng định: nguồn lao động của nước ta có năng suất lao động quá thấp, đứng thứ 77/125 nước
và vùng lãnh thổ, sau cả Indonesia,
Philippine và Thái Lan.
Trang 6• Một số liệu khác cho biết: Ngay tại Thủ đô, có
chưa tới 15% lực lượng lao động biết tiếng Anh và
sử dụng thành thạo máy vi tính Tỷ lệ lao động
không có chuyên môn ở Hà Nội hiện là 41,4%, Hải Phòng 64%, Đà Nẵng 54,4%, TP.Hồ Chí Minh
55% và Bà Rịa Vũng Tàu là 62,9% Với chất
lượng lao động như vậy, chúng ta có nguy cơ thua ngay trên chính sân nhà Hiện nay, nhiều doanh
nghiệp không dám sử dụng lao động Việt Nam cho những vị trí cần kiến thức và tay nghề cao, nên sẽ
có lúc chúng ta phải nhập khẩu lao động chất
lượng cao từ nước ngoài vào
Trang 7• Trình độ lực lượng lao động viên chức: Kết quả
điều tra 195.422 cán bộ, công chức hành chính của
32 Bộ ngành Trung ương, 64 tỉnh thành phố trực
thuộc trung ương (kể cả 671 quận, huyện trong cả nước) và 192.438 cán bộ, công chức đang làm việc
ở 10.848 xã, phường, thị trấn trong cả nước cho
thấy, trong tổng số 195.422 cán bộ công chức hành chính cả nước có 56 người có trình độ tiến sĩ khoa học, 1.044 người có trình độ tiến sĩ, 4.775 thạc sĩ, 120.140 người có trình độ đại học Về trình độ lý
luận chính trị, 10,43% có trình độ cao cấp, 30,21%
có trình độ trung cấp Về ngoại ngữ, trình độ D
chiếm tỷ lệ 1,39% , trình độ C: 8,55% , trình độ B: 41,64%, người chưa học ngoại ngữ: 30,32% Về
trình độ tin học, chỉ có 1,98% có trình độ C, 40,22%
có trình độ B, 25,4% chưa học tin học
Trang 8• Về trình độ văn hoá: Trong tổng số 192.438 cán
bộ, công chức cấp xã, phường, thị trấn, 75,45%
có trình độ trung học phổ thông, trung học cơ sở chiếm 21,48% Về chuyên môn nghiệp vụ: có 9 người có trình độ tiến sĩ, 41 thạc sĩ, 14.244 người
có trình độ đại học, 3.147 người có trình độ cao đẳng, 93.816 người chưa qua đào tạo (chiếm
48,75%) Về trình độ lý luận chính trị, 4,08% có trình độ cao cấp, 38,15% có trình độ trung cấp,
22,94% có trình độ sơ cấp Trong tổng số cán bộ công chức cấp xã, số người chưa học ngoại ngữ chiếm 94,22% , chưa học tin học chiếm 87,30%
Trang 9• Kết quả đánh giá các chỉ số nhân lực ở
Việt Nam cho thấy, tình trạng thiếu hụt lao động trầm trọng vẫn tiếp tục diễn ra ở các ngành nghề dệt may, da giày, gỗ, du lịch Chỉ số cầu nguồn nhân lực của hầu hết
ngành nghề tăng đáng kể và tập trung vào các lĩnh vực đòi hỏi chuyên môn và trình
độ cao
Trang 10• Mặc dù thiếu lao động có trình độ, nhưng hiện nay ở Việt
Nam tình trạng đào tạo “thừa thầy thiếu thợ” đã xảy ra trong
những năm gần đây, do nhiều năm qua chúng ta đã duy trì một cơ cấu đào tạo bất hợp lý
• Năm 1989, cơ cấu đào tạo đại học và cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, công nhân học nghề theo tỷ lệ: 1-1,16 -
0,96
• Đến năm 1999 tỷ lệ trên là 1 - 1,13 - 0,92, trong khi đó tỷ lệ này được thế giới xác định hợp lý thường là 1- 4 -10, nghĩa
là cấu trúc đào tạo theo hình chóp
• Cơ cấu đào tạo bất hợp lý dẫn đến tình trạng sinh viên tốt nghiệp ra trường thiếu việc làm nghiêm trọng Các ngành sản xuất và chế biến công nghiệp đòi hỏi nhiều công nhân
có tay nghề cao thiếu lao động trầm trọng Tại các cơ
sở đào tạo thì số lượng giảng viên chưa đáp ứng được sự gia tăng về quy mô người học và còn nhiều hạn chế về
năng lực chuyên môn, kỹ năng thực hành và khả năng sử dụng tiếng Anh Tài liệu tham khảo cho học sinh, sinh viên rất thiếu
Trang 112.1.2 Tài nguyên thiên nhiên
• Đất:
- Tổng số vốn đất đai tự nhiên của Việt Nam là
33 triệu ha, đứng hàng thứ 58 so với các nước trên thế giới, song diện tích đất tự nhiên trên đầu người thấp: 0,5ha Đất nông nghiệp hiện có 6,9 triệu ha, chiếm 21% so với đất tự nhiên; S đất
NN/đầu người thấp 0,1 ha (thế giới: 1,2ha).
- Đất canh tác ít, khả năng mở rộng có hạn, chỉ
có thể thâm canh tăng vụ
Trang 122.1.2 Tài nguyên thiên nhiên
• Đất: (tiếp)
- Chất lượng: 20% diện tích là đất tốt (2,4 triệu ha đất đỏ Bazan ở vùng đồi núi, 3
triệu ha đất phù sa và một số diện tích là đất tốt của các loại đất khác: Đất đen, đất
đỏ vàng, đất thung lũng, ), còn lại là khô hạn, úng, mặn, phèn, nghèo chất dinh
dưỡng, quá nông
Trang 13Nhận định tổng quát về đất:
• Đất Việt Nam có nhiều loại, đa dạng cho phép
trồng được nhiều loài cây
• Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm nên một số loại đất có tầng dày, chất hữu cơ, khoáng hoá
mạnh nên hàm lượng chất dễ tiêu khá, đất thực
sự tốt đối với nhiều loài cây đặc sản nhiệt đới.
• Mặt khác cũng do khí hậu nhiệt đới ẩm, đất Việt Nam dễ bị xói mòn, mùn dễ khoáng hoá, các chất dinh dưỡng dễ bị hoà tan và rửa trôi nên kết quả
là đất thoái hoá nhanh, diện tích đất xấu nhiều
hơn đất tốt.
• Công tác quản lý sử dụng, cải tạo chưa hiệu quả
và thật hợp lý.
Trang 142.1.2 Tài nguyên thiên nhiên (tt)
Rừng:
• Diện tích đất rừng là 9,6 triệu ha, chiếm 29% so với đất
tự nhiên Cảnh quan rừng Việt Nam rất đa dạng Rừng xanh quanh năm, rừng già nguyên thủy, rừng cây lá
rộng, rừng cây lá kim, rừng cây thứ cấp, rừng cây bụi, sa van cỏ,
• Độ che phủ rừng cả nước giảm từ từ 40,7% vào 1940 xuống chỉ còn 27,7% vào1993 Có những thời gian độ che phủ chỉ còn 20%, nhiều nơi như Tây Bắc, Việt Bắc ven biển miền trung, khu IV cũ, diện tích rừng che phủ chỉ còn 7,8%
• Hiện nay độ che phủ của rừng đang tăng (bình quân
khoảng 0,5%/năm) năm 2009 là: 39,1%; 2010: 39,5%; 2011: 40%
Trang 15Rừng (tt)
• Tính đến nay khoảng 2/3 diện tích rừng tự nhiên đã bị khai thác quá lạm dụng, làm rừng giảm chất lượng và mất trữ lượng
một nửa Các diện tích rừng còn lại phần lớn là rừng nghèo kiệt, trữ lượng gỗ thấp
và hiếm có loài cây có giá trị kinh tế.
Trang 162.1.2 Tài nguyên thiên nhiên
Nước:
• Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất, nước biển Nguồn nước mặt, thường được gọi là tài nguyên nước mặt, tồn tại thường xuyên hay không thường
xuyên trong các thuỷ vực ở trên mặt đất như: sông ngòi, hồ tự nhiên, hồ chứa (hồ nhân tạo), đầm lầy, đồng ruộng và băng
tuyết Tài nguyên nước sông là thành phần chủ yếu và quan trọng nhất, được sử dụng rộng rãi trong đời sống và sản xuất
Do đó, tài nguyên nước nói chung và tài nguyên nước mặt nói riêng là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế
xã hội của một vùng lãnh thổ hay một quốc gia
• Nguồn nước Việt Nam khá dồi dào, đáp ứng được nhu cầu
phát triển sản xuất và đời sống Song việc quản lý sử dụng
chưa tốt Nguồn thủy năng có thể khai thác trên nhiều vùng, cung cấp một phần năng lượng đáng kể
Trang 17• Mức bảo đảm nước trung bình/người/năm từ 12.800
m3/người vào năm 1990, giảm còn 10.900 m3/người vào năm 2000 và có khả năng chỉ còn khoảng 8500 m3/người vào khoảng năm 2020
• Mức bảo đảm nước này > 2,7 lần so với Châu Á (3970
m3/người) và 1,4 lần so với thế giới (7650 m3/người),
nhưng nguồn nước lại phân bố không đều giữa các vùng
Do đó, mức bảo đảm nước hiện nay của một số hệ thống sông khá nhỏ: 5000 m3/người đối với các hệ thống sông Hồng, Thái Bình, Mã và chỉ đạt 2980 m3/người ở hệ thống sông Đồng Nai
• Theo Hội Nước Quốc tế (IWRA), mức bảo đảm
nước/người/năm <4000 m3/ng thì thuộc loại thiếu nước
và <2000 m3/người thì thuộc loại hiếm nước
• Theo tiêu chí này, nếu xét chung cho cả nước thì nước ta không thuộc loại thiếu nước, nhưng không ít vùng và lưu vực sông hiện nay đã thuộc loại thiếu nước và hiếm
nước, như vùng ven biển Ninh Thuận - Bình Thuận, hạ
lưu sông Đồng Nai
Trang 182.1.2 Tài nguyên thiên nhiên
Khoáng sản:
Tài nguyên khoáng sản là một nguồn lực
và lợi thế quan trọng: Dầu khí, than, bốc xít, apatít, quạng sắt, song chưa được khảo sát kỹ và mới được khai thác ở mức
thấp
Trang 19• Điểm qua về tiềm năng khoáng sản của đất
nước ta, nếu so sánh với các nước ở trong khu vực Đông Nam Á và thế giới, thì thấy
rằng: nước ta tuy có diện tích đất liền không lớn, nhưng có vị trí địa chất, địa lý thuận lợi cho sự sinh thành và phát triển khoáng sản Với nguồn tài nguyên khoáng sản đã biết thì
có thể xếp nước ta vào hàng các nước có tiềm năng khoáng sản đáng kể.
• Tuy nhiên cần phải chú ý các đặc điểm sau:
Trang 20• 1 Việt Nam không có tiềm năng lớn về các
khoáng sản năng lượng Dầu khí chỉ đảm bảo
khai thác được khoảng 30 năm nữa, do vậy cần tăng cường tìm kiếm thăm dò để tăng trữ lượng phục vụ lâu dài Than biến chất cao (Anthracit) với trữ lượng đã được đánh giá đạt nhiều tỷ tấn cần phải khai thác sâu hàng trăm mét và hơn nữa mới bảo đảm cho nhu cầu phát triển kinh tế của đất
nước Than biến chất thấp ở dưới sâu đồng bằng sông Hồng tuy dự báo có tài nguyên lớn đến vài trăm tỷ tấn nhưng ở độ sâu hàng ngàn mét dưới lòng đất, điều kiện khai thác cực kỳ khó khăn và phức tạp cả về công nghệ, cả về an sinh xã hội và môi trường Tiềm năng urani và địa nhiệt không
đáng kể và chưa được thăm dò đánh giá trữ
lượng
Trang 212 Việt Nam có nhiều khoáng sản kim loại nhưng trữ lượng
không nhiều Rất nhiều khoáng sản kim loại (vàng, bạc, đồng, chì , kẽm, thiếc v.v ) thế giới rất cần trong khi trữ lượng không
có nhiều, chỉ khai thác mấy chục năm nữa sẽ cạn kiệt không đảm bảo tiêu dùng trong nước Một số ít khoáng sản kim loại như bauxit, đất hiếm, ilmenit ta có nhiều, thế giới cũng có
nhiều, song nhu cầu hàng năm không lớn, hàng trăm năm nữa
mới cạn kiệt, nên chúng không là những khoáng sản "nóng",
khoáng sản cạnh tranh để phát triển, lại càng không thể xem là cứu cánh của nền kinh tế Việt Nam
• Trữ lượng bauxit trên thế giới là 27 tỷ tấn và với sản lượng
khai thác hàng năm trên 200 triệu tấn thì phải 135 năm nữa
mới hết bauxit
• Đất hiếm trên thế giới có trữ lượng đạt 99 triệu tấn, nhu cầu
hàng năm chỉ cần 125.000 tấn thì 700 năm nữa mới cạn kiệt loại khoáng sản này
• Thế giới có nhiều quặng titan với tổng tài nguyên đạt hơn 2 tỷ
tấn, trong đó trữ lượng đạt 730 triệu tấn Hàng năm thế giới chỉ tiêu thụ hơn 6 triệu tấn, như vậy 128 năm nữa mới hết quặng titan
Trang 223 Việt Nam có nhiều loại khoáng chất công nghiệp
và vật liệu xây dựng phục vụ tốt cho phát triển kinh
tế của đất nước và có thể xuất khẩu Tuy nhiên
chúng không phải là khoáng sản có giá trị kinh tế cao và trên thế giới cũng có nhiều đủ dùng trong
nhiều năm nữa
4 Việt Nam chưa phát hiện được kim cương - loại
khoáng sản quý có giá trị kinh tế kỹ thuật cao Các nhà địa chất đã phát hiện ở Việt Nam có Ruby chất lượng cao, nhưng trữ lượng chưa rõ, các loại đá
qúy khác cũng chưa được phát hiện nhiều Thực tế nhóm đá quý được phát hiện ở Việt Nam chưa
đóng góp gì đáng kể cho phát triển kinh tế đất
nước
Trang 23• Phân tích sâu về đặc điểm tiềm năng tài nguyên khoáng sản của Việt Nam ta thấy rõ tuy Việt Nam là nước có nhiều loại khoáng sản nhưng trữ lượng hầu hết các loại không nhiều Một số loại khoáng sản như bauxit, đất hiếm, ilmenit ta có tài nguyên trữ lượng tầm cỡ thế giới thì thế giới cũng có nhiều
và không có nhu cầu tiêu thụ lớn Điều đó có nghĩa là loại
khoáng sản thế giới cần thì ta lại không có, mà loại khoáng sản ta có nhiều thì thế giới lại không cần nhiều, không có
nhu cầu lớn
• Đây là điều cần phải được quan tâm nghiên cứu đánh giá khách quan giữa cung và cầu để có chiến lược sử dụng tài nguyên khoáng sản đúng đắn, hợp lý, phục vụ cho phát triển kinh tế của đất nước Nếu chỉ dựa đơn giản vào một số
khoáng sản có tài nguyên trữ lượng nhiều, đứng thứ hạng cao trên thế giới như bauxit, đất hiếm, ilmenit, mà đánh giá quá cao vai trò của chúng trong phát triển kinh tế của đất
nước sẽ là một sai lầm phải trả giá
Trang 24Nguồn tài nguyên (tt)
• Cơ sở vật chất kỹ thuật:
Cơ sở vật chất kỹ thuật còn thấp, thiếu đồng
bộ và phần lớn lạc hậu về công nghệ, song vẫn là vốn ban đầu để đi lên, trong đó có
một số cơ sở quan trọng.
+ Nguồn vốn thiếu và chưa được huy động + Tiềm năng khoa học kỹ thuật chưa được khai thác
Trang 252.1.3 Vốn đầu tư
Vốn và cơ sở vật chất - kỹ thuật là một trong những yếu tố
cơ bản của sản xuất xã hội
• Đầu tư vốn xây dựng vùng lãnh thổ nhằm mục đích:
- Tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc khai thác với mức độ cao nhất tiềm năng lao động, đất đai, tài nguyên, khả năng quản lý và tiến bộ khoa học công nghệ & kỹ thuật về sản
xuất về sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hoá với hiệu quả kinh tế cao nhất
- Phát triển nông lâm ngư nghiệp, công nghiệp chế biến và
công nghiệp xây dựng nền kinh tế hàng hoá trên nguyên tắc sản xuất chuyên môn hoá hàng hoá và phát triển tổng hợp
- Xây dựng nông thôn mới, xã hội mới, từng bước đô thị hoá trong vùng lãnh thổ
From p 49 - sylabus
Trang 26Thực trạng huy động vốn đầu tư và PT trong thời gian qua:
1 Tiết kiệm chính phủ:
- Nguồn vốn đầu tư từ NSNN: tăng trong các năm qua
- Vốn tín dụng đầu tư và phát triển của nhà nước
- Vốn đầu tư từ doanh nghiệp nhà nước
2 Tiết kiệm của doanh nghiệp:
- Các doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, Cty cổ phần, HTX trong nước có sự phát triển khá
3 Tiết kiệm của khu vực dân cư:
- Tỷ lệ tiết kiệm trong dân cư là tương đối cao, chiếm 15% GDP (96-2000) ½ được dùng cho đầu tư
- Phần lớn nguồn vốn đầu tư trong dân tập trung vào vàng
và ngoại tệ (~44%); chỉ ~17% gửi tiết kiệm; còn lại đầu tư vào đất đai
- Cần có chính sách khuyến khích để người dân không đầu
tư vào vàng và ngoại tệ, đất đai
Trang 27Vốn đầu tư nước ngoài
• Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): rất quan trọng và là cánh cửa cho sự phát
triển và tăng trưởng kinh tế nước ta trong thời gian đổi mới vừa qua
• FDI đóng góp 43% GDP; tạo ra 25% giá trị sản lượng ngành công nghiệp; thu hút 25 vạn lao động trực tiếp trên nhiều lãnh vực
• FDI giảm trong những năm xảy ra khủng hoảng
Trang 28Vốn đầu tư nước ngoài
• Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (ODA): tới
những năm 99 – 2000 vốn ODA viện trợ không hoàn lại chiếm 15% còn lại với lãi suất ưu đãi.
• Tình hình giải ngân (2002) chiếm 85%, đạt
khoảng 1527 triệu USD
• Các nhà tài trợ chính: WB, ADB; JBIC
• Việc giải ngân các nguồn ODA chưa đạt mục
tiêu vì quá trình thẩm định, phê duyệt dự án, kết quả đấu thầu còn chậm và qua nhiều cấp, giải phóng mặt bằng chậm; năng lực thực hiện của các ban quản lý dự án còn yếu.
Trang 29Vốn đầu tư nước ngoài
• Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng
thương mại: Vay nước ngoài của các
doanh nghiệp trực tiếp với bên cho vay và
tự vay, tự chịu trách nhiệm trả nợ hoặc
thông qua phát hành trái phiếu ra nước
ngoài
• Vốn đầu tư gián tiếp của tư nhân nước
ngoài thông qua thị trường vốn quốc tế:
thông qua việc phát hành trái phiếu quốc tế
Trang 31nước ngoài thực hiện 8 tháng năm 2012 ước tính
đạt 7,3 tỷ USD, giảm 0,3% so với cùng kỳ năm 2011
• Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 8 tháng năm nay tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp chế biến, chế
tạo với 5747,7 triệu USD, chiếm 67,8% tổng vốn đăng ký; ngành kinh doanh bất động sản đạt 1727 triệu
USD, chiếm 20,4%; các ngành còn lại đạt 1004,3 triệu USD, chiếm 11,8%
(nguồn: báo cáo 8 tháng đầu 2012 – cp)
Trang 322.1.3 Vốn đầu tư (tt)
Vốn đầu tư trực tiếp từ Nước ngoài:
• Trong số 46 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư cấp phép mới vào Việt Nam, Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất với 3598,5 triệu USD, chiếm 65,1%; tiếp đến là Xin-ga-po 420,7 triệu USD,
chiếm 7,6%; Đặc khu Hành chính Hồng Công
(TQ) 418,5 triệu USD, chiếm gần 7,6%; Hàn
Quốc 391,8 triệu USD, chiếm 7,1%; CHND
Trung Hoa 197,3 triệu USD, chiếm 3,6%;
Đài Loan 87 triệu USD, chiếm 1,6%
(nguồn: báo cáo 8 tháng đầu 2012 – cp)
Trang 332.1.4 Khoa học công nghệ
• Khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển
bền vững đất nước Đảng và Nhà nước ta đã sớm
xác định vai trò then chốt của cách mạng khoa học
và kỹ thuật Trong thời gian qua, đặc biệt là trong
thời kỳ đổi mới, nhiều văn bản quan trọng về định
hướng chiến lược và cơ chế, chính sách phát triển khoa học và công nghệ đã được ban hành: Nghị
quyết Hội nghị Trung ương 2 khoá VIII (1996); Kết
luận của Hội nghị Trung ương 6 khoá IX (2002); Luật Khoa học và Công nghệ (2000); Chiến lược phát
triển khoa học và công nghệ Việt Nam đến năm 2010 (2003); và nhiều chính sách cụ thể khác về xây dựng tiềm lực và đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ
Trang 34• Hoạt động khoa học và công nghệ đã có bước chuyển biến, đạt được một số tiến bộ và kết quả nhất định, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng của đất nước.
• Tuy nhiên, hoạt động khoa học và công nghệ của nước ta hiện nay vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhất là trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển kinh tế tri thức trên thế giới Đại hội Đảng lần thứ IX đã chỉ ra những hạn chế cơ
bản của hoạt động khoa học và công nghệ hiện nay là:
“Chưa thực sự gắn kết với nhu cầu và hoạt động của các ngành kinh tế, xã hội; chậm đưa vào ứng dụng những kết quả đã nghiên cứu được; trình độ khoa học và công nghệ của ta còn thấp nhiều so với các nước xung quanh; năng lực tạo ra công nghệ mới còn rất có hạn Các cơ quan
nghiên cứu khoa học chậm được sắp xếp cho đồng bộ, còn phân tán, thiếu phối hợp, do đó đạt hiệu quả thấp
Trang 35• Các viện nghiên cứu và các doanh nghiệp, các
trường đại học chưa gắn kết với nhau Việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật thiếu tập trung
và dứt điểm cho từng mục tiêu Cán bộ khoa học
và công nghệ có trình độ cao tuy còn ít, song chưa được sử dụng tốt.”
• Mục tiêu của Chiến lược phát triển khoa học và
công nghệ Việt Nam đến năm 2010 là: “Tập trung xây dựng nền khoa học và công nghệ nước ta theo hướng hiện đại và hội nhập, phấn đấu đạt trình độ trung bình tiên tiến trong khu vực vào năm 2010, đưa khoa học và công nghệ thực sự trở thành nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.”
Trang 36• Để đạt được mục tiêu phát triển khoa học và công nghệ nước ta đến năm 2010, phải đổi mới mạnh
mẽ cơ chế quản lý khoa học và công nghệ,
• Đề án đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công
nghệ tập trung vào các giải pháp chủ yếu: (1) Hoàn thiện cơ chế xây dựng và tổ chức thực hiện nhiệm
vụ khoa học và công nghệ; (2) Đổi mới cơ chế
quản lý và hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ; (3) Đổi mới cơ chế, chính sách đầu tư tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ; (4) Đổi mới cơ chế quản lý nhân lực khoa học và công nghệ; (5) Phát triển thị trường công nghệ; (6) Hoàn thiện cơ chế hoạt động của bộ máy quản lý nhà
nước về khoa học và công nghệ
Trang 37Thực trạng cơ chế quản lý KHCN
Những đổi mới bước đầu:
• Việc xây dựng và tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học và
công nghệ được đổi mới theo hướng có trọng tâm, trọng
điểm, bám sát hơn các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
Các chương trình, đề tài Nhà nước được bố trí tập trung hơn, cân đối hơn giữa khoa học tự nhiên và công nghệ với khoa học xã hội và nhân văn Cơ chế tuyển chọn tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo nguyên tắc cạnh tranh, dân chủ, bình đẳng và công khai
• Cơ chế quản lý các tổ chức khoa học và công nghệ đã từng
bước được đổi mới theo hướng xã hội hoá và gắn kết với sản xuất, kinh doanh Đã xuất hiện nhiều tổ chức khoa học và
công nghệ ngoài nhà nước, nhiều cơ sở sản xuất trong các viện nghiên cứu, trường đại học, góp phần đưa nhanh kết
quả nghiên cứu vào sản xuất
• Cơ chế, chính sách tài chính cho khoa học và công nghệ đã
được đổi mới theo hướng tăng dần tỷ lệ chi cho khoa học và công nghệ trong tổng chi ngân sách nhà nước và đa dạng
hoá nguồn đầu tư phát triển khoa học và công nghệ
Trang 38• Cơ chế quản lý nhân lực được đổi mới theo hướng mở rộng
hơn quyền chủ động cho cán bộ khoa học và công nghệ trong việc ký kết hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, trong hoạt động kiêm nhiệm và hoạt động hợp tác quốc
tế Có tôn vinh, khen thưởng đối với cán bộ khoa học và công nghệ
• Các thể chế hỗ trợ cho phát triển thị trường công nghệ đã
bước đầu được hình thành Các quy định pháp lý đã được
ban hành tạo điều kiện cho việc thương mại hoá các thành
quả khoa học và công nghệ Chợ công nghệ - thiết bị đã
được tổ chức, hình thành kênh giao dịch thị trường thúc đẩy hoạt động mua bán thiết bị và các sản phẩm khoa học và
công nghệ
• Việc phân công, phân cấp trong quản lý nhà nước về khoa
học và công nghệ đã được cải tiến một bước thông qua việc
hoàn thiện tổ chức bộ máy, quy định chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ và ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Trang 39NHỮNG YẾU KÉM VÀ NGUYÊN NHÂN
• Mặc dù đã có những tiến bộ nhất định, cơ chế quản lý
khoa học và công nghệ ở nước ta hiện nay còn chưa được đổi mới cơ bản, còn chưa phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với đặc thù của hoạt động khoa học và công nghệ trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
• Việc xác định và tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ chưa thực sự xuất phát từ các nhiệm vụ phát
triển kinh tế - xã hội Chưa định rõ quyền hạn, trách nhiệm của các ngành, các cấp trong việc xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ Thiếu cơ chế hữu hiệu khắc phục tình trạng trùng lặp nhiệm vụ khoa học và công nghệ giữa các ngành, các cấp, các địa phương Tiêu chuẩn lựa chọn và việc lựa chọn chuyên gia tham gia các hội đồng tư vấn để xác định, tuyển chọn tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ, đánh giá kết quả nghiên cứu còn bất cập Công tác đánh giá kết quả nghiên cứu chưa
tương hợp với chuẩn mực quốc tế
Trang 40• Cơ chế quản lý các tổ chức khoa học và công
nghệ chưa phù hợp với đặc thù của lao động sáng
tạo và cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Thiếu quy hoạch các tổ chức khoa học
và công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển các
ngành, lĩnh vực khoa học và công nghệ trọng điểm
và nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội Các tổ chức khoa học và công nghệ của Nhà nước chưa được thực hiện đầy đủ quyền tự chủ về kế hoạch, tài
chính, nhân lực và hợp tác quốc tế để phát huy tính năng động, sáng tạo và gắn kết giữa nghiên cứu, đào tạo và sản xuất, kinh doanh Chưa xây dựng được các tiêu chí cụ thể đánh giá chất lượng và
hiệu quả của hoạt động khoa học và công nghệ nói chung và các tổ chức khoa học và công nghệ nói riêng