1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

3 hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư và ý nghĩa của việc phát huy hai phương pháp đó trong nền kinh tế thị trường ở việt nam

23 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề 3 hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư và ý nghĩa của việc phát huy hai phương pháp đó trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Trường học Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế chính trị
Thể loại Báo cáo khoa học
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 42,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 1 Sự cần thiết của đề tài 1 2 Đối tượng nghiên cứu 1 3 Phạm vi nghiên cứu 2 4 Phương pháp nghiên cứu 2 5 Giới thiệu nội dung nghiên cứu 2 NỘI DUNG 3 CHƯƠNG I Lý luận.C LỤCMỞ ĐẦU11.Sự cần thiết của đề tài12.Đối tượng nghiên cứu13.Phạm vi nghiên cứu24.Phương pháp nghiên cứu25.Giới thiệu nội dung nghiên cứu2NỘI DUNG3CHƯƠNG I: Lý luận của học thuyết Kinh tế Mác Lenin về hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư31.1. Tư bản và giá trị thặng dư31.1.1. Nguồn gốc31.1.2. Khái niệm31.1.3. Hình thái biểu hiện của giá trị thặng dư41.2. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối61.3. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối6CHƯƠNG II: Sự hoạt động của 2 phương pháp sản xuất Giá trị thặng dư trong nền kinh tế Việt Nam82.1 Giai đoạn trước đổi mới82.1.1 Mô hình kinh tế82.1.2 Sự hoạt động của phương pháp sản xuất giá trị thặng dư trước năm 198692.1.3 Sự phát triển của nền kinh tế trước năm 198692.2. Giai đoạn sau đổi mới đến nay102.2.1 Đặc điểm mô hình kinh tế nhiều thành phần102.2.2. Sự hoạt động của phương pháp sản xuất giá trị thặng dư sau năm 198613CHƯƠNG III: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM PHÁT HUY TÁC DỤNG TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA HAI PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TẠI VIỆT NAM153.1. Mục tiêu153.2. Một số khuyến nghị163.2.1. Đối với Nhà nước163.2.2. Đối với doanh nghiệp17KẾT LUẬN19TÀI LIỆU THAM KHẢO20 MỞ ĐẦU 1.Sự cần thiết của đề tàiHọc thuyết giá trị thặng dư nghiên cứu quá trình sản xuất và phân phối giá trị thặng dư trong điều kiện nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh tư bản chủ nghĩa, hình thái đầu tiên của nền kinh tế thị trường trong lịch sử phát triển của nhân loại. Học thuyết giá trị thặng dư được coi là“viên đá tảng” của kinh tế chính trị MácLênin. Việt Nam đang thực hiện chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sau hơn 30 năm đổi mới, phát triển bên cạnh những thành công vẫn còn một số hạn chế. Bài báo này, trên cơ sở phân tích một số nội dung cơ bản của học thuyết giá trị thặng dư và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế thị trường từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm thúc đẩy sự phát triển nền kinh tếthị trường Việt Nam.Mỗi phương thức sản xuất có một quy luật kinh tế tuyệt đối, quy luật phản ánh mối quan hệ kinh tế bản chất nhất của phương thức sản xuất đó. Theo C.Mác, tạo ra giá trị thặng dư, đó là quy luật tuyệt đối của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.Thật vậy, giá trị thặng dư – phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không, phản ánh mối quan hệ kinh tế bản chất nhất của chủ nghĩa tư bản quan hệ tư bản bóc lột lao động làm thuê. Giá trị thặng dư do lao động không công của công nhân tạo ra là nguồn gốc làm giàu của các nhà tư bản. Do đó, trong quá trình học tập và tìm hiểu tác giả đã chọn đề tài “ Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư và ý nghĩa của việc phát huy hai phương pháp đó trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”.2. Đối tượng nghiên cứu Bài tiểu luận tập trung nghiên cứu về: Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư, Nền kinh tế thị trường của Việt Nam và một số giải pháp vận dụng biện pháp sản xuất giá trị thặng dư.3. Phạm vi nghiên cứu Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung của Việt Nam từ trước năm 1986 và nền kinh tế thị trường Việt Nam từ năm 1986 đến nay 4.Phương pháp nghiên cứu Về phương pháp luận, tiểu luận sử dụng những phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài này bao gồm phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp và đối chiếu.5.Giới thiệu nội dung nghiên cứu Chương I: Lý Luận Của Học Thuyết Kinh Tế Mác – LêNin Về Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Chương II: Sự Hoạt Động Của Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Trong Nền Kinh Tế Việt Nam Chương III: Một Số Khuyến Nghị Nhằm Phát Huy Tác Dụng Tích Cực Và Hạn Chế Ảnh Hưởng Tiêu Cực Của Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tại Việt Nam NỘI DUNG CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CỦA HỌC THUYẾT KINH TẾ MÁC LENIN VỀ HAI PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ1.1. Tư bản và giá trị thặng dư 1.1.1. Nguồn gốcĐể tiến hành sản xuất, nhà tư bản phải mua sức lao động và tư liệu sản xuất. Vì tư liệu sản xuất và sức lao động do nhà tư bản mua, nên trong quá trình sản xuất, người công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản và sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản.Sản xuất tư bản chủ nghĩa là quá trình tạo ra giá trị tăng thêm cho nhà tư bản khi năng suất lao động đạt tới trình độ nhất định – chỉ cẩn một phần của ngày lao động người công nhân làm thuê đã tạo ra giá trị bằng giá trị sức lao động của chính mình.Bằng lao động cụ thể của mình, công nhân sử dụng các tư liệu sản xuất và chuyển giá trị của chúng vào sản phẩm; và bằng lao động trừu tượng, công nhân tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động, phần lớn hơn đó được gọi là giá trị thặng dư.Giá trị hàng hóa (W) được sản xuất ra gồm hai phần: giá trị những tư liệu sản xuất đã hao phí được lao động cụ thể bảo tồn và chuyển vào sản phẩm (giá trị cũ, ký hiệu c) và giá trị mới (v+m) do lao động trìu tượng của công nhân tạo ra (lớn hơn giá trị hàng hóa sức lao động). Phần giá trị mới do lao động sống tạo thêm ra ngoài giá trị hàng hóa sức lao động, được nhà tư bản thu lấy mà không trả cho người lao động, được gọi là giá trị thặng dư (m).1.1.2. Khái niệm Nội hàm khái niệm giá trị thặng dư được tiếp nhận từ lý luận kinh tế của Mác có thể gói gọn trong định nghĩa rằng: Giá trị thặng dư là giá trị do lao động của công nhân làm thuê sản sinh ra vượt quá giá trị sức lao động của họ và bị nhà tư bản chiếm đoạt toàn bộ. Việc sản sinh và chiếm đoạt giá trị thặng dư là sự phản ánh quan hệ sản xuất căn bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, phản ánh quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản.

Trang 1

MỤC LỤ

MỞ ĐẦU 1

1 Sự cần thiết của đề tài 1

2 Đối tượng nghiên cứu 1

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Giới thiệu nội dung nghiên cứu 2

NỘI DUNG 3

CHƯƠNG I: Lý luận của học thuyết Kinh tế Mác Lenin về hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư 3

1.1 Tư bản và giá trị thặng dư 3

1.1.1 Nguồn gốc 3

1.1.2 Khái niệm 3

1.1.3 Hình thái biểu hiện của giá trị thặng dư 4

1.2 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối 6

1.3 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối 6

CHƯƠNG II: Sự hoạt động của 2 phương pháp sản xuất Giá trị thặng dư trong nền kinh tế Việt Nam 8

2.1 Giai đoạn trước đổi mới 8

2.1.1 Mô hình kinh tế 8

2.1.2 Sự hoạt động của phương pháp sản xuất giá trị thặng dư trước năm 1986 9

2.1.3 Sự phát triển của nền kinh tế trước năm 1986 9

2.2 Giai đoạn sau đổi mới đến nay 10

Trang 2

2.2.1 Đặc điểm mô hình kinh tế nhiều thành phần 10

2.2.2 Sự hoạt động của phương pháp sản xuất giá trị thặng dư sau năm 1986 13

CHƯƠNG III: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM PHÁT HUY TÁC DỤNG TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA HAI PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TẠI VIỆT NAM 15

3.1 Mục tiêu 15

3.2 Một số khuyến nghị 16

3.2.1 Đối với Nhà nước 16

3.2.2 Đối với doanh nghiệp 17

KẾT LUẬN 19

TÀI LIỆU THAM KHẢO 20

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Học thuyết giá trị thặng dư nghiên cứu quá trình sản xuất và phân phối giátrị thặng dư trong điều kiện nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh tư bản chủnghĩa, hình thái đầu tiên của nền kinh tế thị trường trong lịch sử phát triển củanhân loại Học thuyết giá trị thặng dư được coi là“viên đá tảng” của kinh tếchính trị Mác-Lênin Việt Nam đang thực hiện chính sách phát triển nền kinhtế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Sau hơn 30 năm đổi mới, phát triểnbên cạnh những thành công vẫn còn một số hạn chế Bài báo này, trên cơ sởphân tích một số nội dung cơ bản của học thuyết giá trị thặng dư và quanđiểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế thị trường từ đó đềxuất một số kiến nghị nhằm thúc đẩy sự phát triển nền kinh tếthị trường ViệtNam

Mỗi phương thức sản xuất có một quy luật kinh tế tuyệt đối, quy luật phảnánh mối quan hệ kinh tế bản chất nhất của phương thức sản xuất đó TheoC.Mác, tạo ra giá trị thặng dư, đó là quy luật tuyệt đối của phương thức sảnxuất tư bản chủ nghĩa

Thật vậy, giá trị thặng dư – phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức laođộng do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không, phản ánhmối quan hệ kinh tế bản chất nhất của chủ nghĩa tư bản - quan hệ tư bản bóclột lao động làm thuê Giá trị thặng dư do lao động không công của công nhântạo ra là nguồn gốc làm giàu của các nhà tư bản Do đó, trong quá trình học

tập và tìm hiểu tác giả đã chọn đề tài “ Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư và ý nghĩa của việc phát huy hai phương pháp đó trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”.

Trang 4

2 Đối tượng nghiên cứu

Bài tiểu luận tập trung nghiên cứu về: Hai phương pháp sản xuất giá trịthặng dư, Nền kinh tế thị trường của Việt Nam và một số giải pháp vận dụngbiện pháp sản xuất giá trị thặng dư

3 Phạm vi nghiên cứu

Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung của Việt Nam từ trước năm 1986 vànền kinh tế thị trường Việt Nam từ năm 1986 đến nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Về phương pháp luận, tiểu luận sử dụng những phương pháp luận duyvật biện chứng và duy vật lịch sử Phương pháp nghiên cứu được sử dụngtrong đề tài này bao gồm phương pháp thống kê, phương pháp so sánh,phương pháp phân tích tổng hợp và đối chiếu

5 Giới thiệu nội dung nghiên cứu

Chương I: Lý Luận Của Học Thuyết Kinh Tế Mác – Lê-Nin Về HaiPhương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư

Chương II: Sự Hoạt Động Của Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng

Dư Trong Nền Kinh Tế Việt Nam

Chương III: Một Số Khuyến Nghị Nhằm Phát Huy Tác Dụng Tích CựcVà Hạn Chế Ảnh Hưởng Tiêu Cực Của Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá TrịThặng Dư Tại Việt Nam

Trang 5

NỘI DUNG CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CỦA HỌC THUYẾT KINH TẾ MÁC LENIN VỀ HAI PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG

DƯ 1.1 Tư bản và giá trị thặng dư

1.1.1 Nguồn gốc

Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản phải mua sức lao động và tư liệu sảnxuất Vì tư liệu sản xuất và sức lao động do nhà tư bản mua, nên trong quátrình sản xuất, người công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản vàsản phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản

Sản xuất tư bản chủ nghĩa là quá trình tạo ra giá trị tăng thêm cho nhà

tư bản khi năng suất lao động đạt tới trình độ nhất định – chỉ cẩn một phầncủa ngày lao động người công nhân làm thuê đã tạo ra giá trị bằng giá trị sứclao động của chính mình

Bằng lao động cụ thể của mình, công nhân sử dụng các tư liệu sản xuấtvà chuyển giá trị của chúng vào sản phẩm; và bằng lao động trừu tượng, côngnhân tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động, phần lớn hơn đó được gọilà giá trị thặng dư

Giá trị hàng hóa (W) được sản xuất ra gồm hai phần: giá trị những tưliệu sản xuất đã hao phí được lao động cụ thể bảo tồn và chuyển vào sảnphẩm (giá trị cũ, ký hiệu c) và giá trị mới (v+m) do lao động trìu tượng củacông nhân tạo ra (lớn hơn giá trị hàng hóa sức lao động) Phần giá trị mới dolao động sống tạo thêm ra ngoài giá trị hàng hóa sức lao động, được nhà tưbản thu lấy mà không trả cho người lao động, được gọi là giá trị thặng dư (m)

1.1.2 Khái niệm

Nội hàm khái niệm giá trị thặng dư được tiếp nhận từ lý luận kinh tếcủa Mác có thể gói gọn trong định nghĩa rằng: Giá trị thặng dư là giá trị do

Trang 6

lao động của công nhân làm thuê sản sinh ra vượt quá giá trị sức lao động của

họ và bị nhà tư bản chiếm đoạt toàn bộ Việc sản sinh và chiếm đoạt giá trịthặng dư là sự phản ánh quan hệ sản xuất căn bản của phương thức sản xuất

tư bản chủ nghĩa, phản ánh quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản

1.1.3 Hình thái biểu hiện của giá trị thặng dư

Sự hình thành phạm trù chi phí sản xuất cùng với việc giá cả sức laođộng biểu hiện ra dưới hình thái chuyển hóa là tiền công, là nguyên nhân làmcho giá trị thặng dư biểu hiện ra dưới hình thái chuyển hóa là lợi nhuận (p).Khi xuất hiện phạm trù lợi nhuận thì giá trị hàng hóa sẽ biểu hiện thành W = k+ p

C.Mác nêu ra định nghĩa lợi nhuận: “Giá trị thặng dư, được quan niệmlà con đẻ của toàn bộ tư bản ứng trước, mang hình thái chuyển hóa là lợinhuận”

Lợi nhuận của tư bản thương nghiệp

Sự hình thành lợi nhuận thương nghiệp do chênh lệch giữa giá bán vớigiá mua hàng hoá của tư bản thương nghiệp Lợi nhuận thương nghiệp là mộtphần giá trị thặng dư được tạo ra trong sản xuất do nhà tư bản công nghiệp

“nhường” cho nhà tư bản thương nghiệp

Lợi tức của tư bản cho vay và lợi nhuận ngân hàng

Tư bản cho vay (TBCV) là một bộ phận của tư bản tiền tệ tạm thờinhàn rỗi trong quá trình tuần hoàn của TBCN được tách ra và vận động độc

Trang 7

lập với TBCN TBCV là tư bản tiền tệ mà người chủ của nó nhường cho mộtngười khác sử dụng trong một thời gian để nhận được một số lời nào đó.

Số lời đó gọi là lợi tức (Z) Hình thức vận động của TBCV T – T’.Lợi nhuận ngân hàng = (Z cho vay + thu khác) – (Z đi vay + chi phínghiệp vụ)

Địa tô tuyệt đối là địa tô mà tất cả các nhà tư bản kinh doanh nôngnghiệp đều phải nộp cho địa chủ dù ruộng đất tốt hay xấu Đây là loại tô thutrên tất cả mọi thứ ruộng đất Địa tô tuyệt đối cũng là một loại lợi nhuận siêungạch ngoài lợi nhuận bình quân, hình thành do cấu tạo hữu cơ của tư bảntrong nông nghiệp thấp hơn trong công nghiệp, mà bất cứ nhà tư bản thuê loạiruộng đất nào đều phải nộp cho địa chủ Tính chất lịch sử của địa tô tuyệt đốigắn liền với quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất, với tính chất lạc hậu tươngđối của sản xuất nông nghiệp so với sản xuất công nghiệp

Trang 8

1.2 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối

Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài thờigian lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất laođộng, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi.Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: Bất cứ nhà tư bản nào cũngmuốn kéo dài ngày công lao động của công nhân, nhưng việc kéo dài đókhông thể vượt qua giới hạn sinh lý của công nhân Bởi vì, người công nhâncần có thời gian ăn, ngủ, nghỉ ngơi, giải trí để phục hồi sức khỏe Do vậy, việckéo dài thời gian lao động gặp sự phản kháng gay gắt của giai cấp công nhânđòi giảm giờ làm Khi độ dài ngày lao động không thể kéo dài thêm, vì lợinhuận của mình, nhà tư bản lại tìm cách tăng cường độ lao động của ngườicông nhân Vì tăng cường độ lao động có nghĩa là chi phí nhiều sức lao độnghơn trong một khoảng thời gian nhất định Nên tăng cường độ lao động vềthực chất cũng tương tự như kéo dài ngày lao động Vì vậy, kéo dài thời gianlao động hay tăng cường độ lao động đều để sản xuất giá trị thặng dư tuyệtđối Phương pháp này chủ yếu áp dụng trong thời kỳ đầu nền sản xuất tư bản,với việc phổ biến sử dụng lao động thủ công và năng suất lao động thấp

1.3 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối

Khái niệm: Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được dorút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách nâng cao năng suất lao độngtrong ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt để hạ thấp giá trị sức lao động, nhờ

đó tăng thời gian lao động thặng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày laođộng, cường độ lao động vẫn như cũ Điểm mấu chốt của phương pháp này làphải hạ thấp giá trị sức lao động Điều đó đồng nghĩa với giảm giá trị các tưliệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết cho công nhân Muốn vậy phải tăng năngsuất lao động xã hội trong các ngành sản xuất tư liệu tiêu dùng và các ngànhsản xuất tư liệu sản xuất để trang bị cho ngành sản xuất ra các tư liệu tiêudùng

Trang 9

Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong giai đoạn chủ nghĩa tưbản phát triển nhưng lúc đầu chỉ một số nhà tư bản làm được vì điều kiệnkhoa học, kỹ thuật chưa cho phép Khi đó, các nhà tư bản này tăng được năngsuất lao động nên thu được giá trị thặng dư siêu ngạch Khi các nhà tư bảnđều cải tiến kỹ thuật, giá trị thặng dư siêu ngạch sẽ không còn Tất cả sẽ thuđược giá trị thặng dư tương đối Do đó giá trị thặng dư siêu ngạch là biếntướng của giá trị thặng dư tương đối

Trang 10

CHƯƠNG II: SỰ HOẠT ĐỘNG CỦA 2 PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 2.1 Giai đoạn trước đổi mới

2.1.1 Mô hình kinh tế

Giai đoạn kinh tế trước năm 1986, hay còn gọi là Thời kì bao cấp, làgiai đoạn áp dụng mô hình kinh tế cũ - kinh tế kế hoạch hóa tập trung ở miềnBắc cho cả nước sau thống nhất

Thứ nhất, nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hànhchính dựa trên hệ thống chi tiêu pháp lệnh chi tiết từ trên xuống dưới Cácdoanh nghiệp hoạt động trên cơ sở các quyết định của cơ quan nhà nước cóthẩm quyền và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao Tất cả phương hướng sảnxuất, nguồn vật tư, tiền vốn, định giá sản phẩm, tổ chức bộ máy, nhân sự, tiềnlương… đều do các cấp có thẩm quyền quyết định Nhà nước giao chỉ tiêu kếhoạch, cấp phát vốn, vật tư cho doanh nghiệp, doanh nghiệp giao nộp sảnphẩm cho Nhà nước Lỗ thì Nhà nước bù, lãi thì Nhà nước thu

Thứ hai, các cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sảnxuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm gìvề vật chất đối với các quyết định của mình Những thiệt hại vật chất do cácquyết định không đúng gây ra thì ngân sách Nhà nước phải gánh chịu

Thứ ba, quan hệ hàng hóa – tiền tệ bị coi nhẹ, chỉ là hình thức, quan hệhiện vật là chủ yếu Nhà nước quản lý kinh tế thông qua chế độ “cấp phát –giao nộp” Hạch toán kinh tế chỉ là hình thức Cơ chế bao cấp trong thời kìnày thể hiện chủ yếu qua 3 hình thức sau:

+ Bao cấp qua giá: Nhà nước quyết định giá trị tài sản, thiết bị, vật tư,hàng hóa thấp hơn giá trị thực của chúng nhiều lần so với giá trị thị trường.Với giá thấp như vậy, coi như một phần những thứ đó được cho không Do

đó, hạch toán kinh tế chỉ là hình thức

Trang 11

+ Bao cấp qua chế độ tem phiếu (tiền lương hiện vật): Nhà nước quyđịnh chế độ phân phối vật phẩm tiêu dùng cho cán bộ, công nhân viên, côngnhân theo định mức qua hình thức tem phiếu Chế độ tem phiếu với mức giákhác xa so với giá thị trường đã biến chế độ tiền lương thành lương hiện vật,thủ tiêu động lực kích thích người lao động và phá vỡ nguyên tắc phân phốitheo lao động

+ Bao cấp qua chế độ cấp phát vốn của ngân sách, nhưng không có chếtài ràng buộc trách nhiệm vật chất đối với các đơn vị được cấp vốn Điều đóvừa làm tăng gánh nặng đối với ngân sách vừa làm cho sử dụng vốn

kém hiệu quả, nảy sinh cơ chế “xin cho”

2.1.2 Sự hoạt động của phương pháp sản xuất giá trị thặng dư trước năm

1986

Với việc Nhà nước kiểm soát toàn bộ hoạt động sản xuất, khiến chokinh tế tư nhân không có điều kiện phát triển, điều đó dẫn tới việc phươngthức sản xuất giá trị thặng dư cơ bản không tồn tại ở Việt Nam giai đoạn này

2.1.3 Sự phát triển của nền kinh tế trước năm 1986

Trong giai đoạn này, Nhà nước liên tục thực hiện 2 kế hoạch đổi mớikinh tế: kế hoạch 5 năm giai đoạn 1976-1980 và 1981-1986 Tuy nhiên trongnhững năm đầu của kế hoạch 5 năm này cơ chế cũ chưa mất đi, cơ chế mớichưa hình thành nên Đổi mới chưa có hiệu quả đáng kể Trong giai đoạn 5năm lần thứ nhất, kế hoạch có nhiều điểm duy ý chí nên phần lớn chỉ tiêu đềukhông đạt Sản xuất đình trệ, tăng trưởng chỉ đạt 0,4 %/ năm (kế hoạch là 13-

14 %) trong khi tỷ lệ tăng dân số hàng năm trên 2,3 % Tình trạng thiếu lươngthực diễn ra gay gắt, năm 1980 phải nhập 1,576 triệu tấn lương thực Ngânsách thiếu hụt lớn, giá cả tăng hàng năm 20 %, nhập khẩu nhiều gấp 4-5 lầnxuất khẩu Nhà nước thiếu vốn đầu tư cho nền kinh tế, nhiều công trình phải

bỏ dở, hàng tiêu dùng thiết yếu thiếu trầm trọng Sau đó vào năm 1982, Đại

Trang 12

hội V của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thừa nhận kinh tế Việt Nam trong thời

kỳ 1976-1980 là: "kết quả sản xuất không tương xứng với sức lao động vàvốn đầu tư bỏ ra, những mất cân đối lớn của nền kinh tế vẫn trầm trọng, thunhập quốc dân chưa bảo đảm được tiêu dùng của xã hội trong khi dân số tăngnhanh; thị trường, vật giá, tài chính, tiền tệ không ổn định, đời sống của nhândân lao động còn nhiều khó khăn" Tại Đại hội IV ĐCS VN đã quyết định cảitạo XHCN trong cả nước với mục tiêu lớn: xây dựng chế độ làm chủ tập thểvà sản xuất lớn Do các mục tiêu đề ra quá lớn nên trong kế hoạch 5 năm lầnthứ II (1981-1985) nền kinh tế vẫn thiếu cân đối và lâm vào khủng hoảngtrầm trọng Sản xuất đình trệ thể hiện trên tất cả các lĩnh vực Nạn lạm pháttăng nhanh, đầu những năm 80 tăng khoảng 30-50 % hàng năm, cuối năm

1985 lên đến 587,2 % và siêu lạm phát đạt đến đỉnh cao vào năm 1986, với774,7 % (Cái này có biểu đồ lạm phát của Việt Nam đó Nhìn chung, nền kinhtế còn hết sức khó khăn trì trệ, đời sống nhân dân khổ cực, năng suốt lao độngthấp do thiếu động lực phát triển

2.2 Giai đoạn sau đổi mới đến nay

2.2.1 Đặc điểm mô hình kinh tế nhiều thành phần

Trong nền kinh tế quá độ của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ởnước ta hiện nay do trình độ phát triển chưa cao, chưa đồng đều của lực lượngsản xuất mà còn tồn tại khách quan cả chế độ sở hữu tư nhân (chế độ tư hữu)với nhiều hình thức sở hữu như: hình thức sở hữu tư nhân của cá thể, của hộgia đình, của tiểu chủ, của nhà tư bản (sở hữu tư nhân tư bản), của tập đoàn tưbản… và cả chế độ sở hữu xã hội (chế độ công hữu) với các hình thức sở hữunhư: sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể…, đồng thời còn cóhình thức sở hữu hỗn hợp là hình thức sở hữu đan xen các hình thức sở hữutrong cùng một đơn vị kinh tế Đó là cơ sở tồn tại của nhiều thành phần kinhtế

Ngày đăng: 21/01/2023, 14:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w