TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN MÔN HỌC ĐỀ TÀI GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN SINH VIÊN THƯC HIỆN HỌ TÊN SV MSSV MÃ LỚP HÀ NỘI,THÁNG 8 NĂM 2020 MỤC LỤC PHẦN I MỞ ĐẦU 3 1 Sự cần. TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN MÔN HỌCĐỀ TÀI : GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: ………………………………………………. SINH VIÊN THƯC HIỆN:HỌ TÊN SVMSSVMÃ LỚP……………………………..………………………………………………………………………..………………………………………………………………………..………………………………………………………………………..………………………………………… HÀ NỘI,THÁNG 8 NĂM 2020 MỤC LỤCPHẦN I: MỞ ĐẦU31.Sự cần thiết của đề tài32.Đối tượng nghiên cứu43.Phạm vi nghiên cứu44.Phương pháp nghiên cứu45.Giới thiệu nội dung nghiên cứu4PHẦN II: NỘI DUNG5CHƯƠNG I: Lý luận của học thuyết Kinh tế5Mác Lenin về hai phương pháp sản xuất giá trị5thặng dư51.1. Tư bản và giá trị thặng dư61.2. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối61.3. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối7CHƯƠNG II: SỰ HOẠT ĐỘNG CỦA 2 PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM82.1 Giai đoạn trước đổi mới năm 198682.1.1 Mô hình kinh tế trước năm 198682.1.2 Sự hoạt động của phương pháp sản xuất giá trị thặng dư trước năm 198692.1.3 Sự phát triển của nền kinh tế trước năm 198692.2. Giai đoạn đổi mới từ 1986 đến nay102.2.1 Mô hình kinh tế sau năm 1986102.2.2. Sự hoạt động của phương pháp sản xuất giá trị thặng dư sau năm 198611CHƯƠNG III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỚI TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP CỦA VIỆT NAM , TRONG BỐI CẢNH CHỦ NGHĨA TƯ BẢN ĐỘC QUYỀN ĐANG PHỔ BIẾN TRÊN TOÀN THẾ GIỚI143.1. Mục tiêu143.2. Một số khuyến nghị Đối với Nhà nước14PHẦN III: KẾT LUẬN17 PHẦN I: MỞ ĐẦU 1.Sự cần thiết của đề tài Sau hơn ba mươi năm đổi mới, đất nước ta đã gặt hái được nhiều thành tựu như kinh tế ngày càng phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện, uy tín Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Tuy nhiên, với xuất phát điểm từ nông nghiệp nên nền kinh tế nước ta có quy mô nhỏ, quá trình hòa nhập quốc tế đang gặp phải nhiều khó khăn. Vì vậy, để khắc phục thực trạng yếu kém và phát huy thế mạnh hiện có nước ta đã phát triển nền kinh tế thị trường để hiện đại hóa đất nước. Trong đó, việc vận dụng các quy luật kinh tế mà đặc biệt là học thuyết giá trị thặng dư đã và đang là một hướng áp dụng có hiệu quả trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay. Giá trị thặng dư là một trong những phát hiện vĩ đại của C.Mác và theo như V.I.Lênin nhận xét thì “ Học thuyết giá trị thặng dư là viên đá tảng của học thuyết kinh tế của Mác ”Giá trị thặng dư đã mang lại những bước phát triển cho nước ta trong giai đoạn hiện nay.Tính tất yếu khách quan về việc vận dụng giá trị thặng dư vào Việt Nam đã được thông qua trong các văn kiện Đại hội của Đảng nhưng trong một chừng mực nào đó vẫn còn tồn tại các thành kiến với các thành phần kinh tế tư nhân, tư bản coi thành phần kinh tế này là bốc lột và nhận thức này không chỉ xảy ra với một số cán bộ là Đảng viên làm công tác quản lý mà còn xảy ra ngay trong những người trực tiếp làm kinh tế tư nhân ở nước ta. Trong bối cảnh đó, việc học tập và nghiên cứu môn kinh tế chính trị mà đặc biệt là học thuyết giá trị thặng dư sẽ góp phần giải quyết những vướng mắc trong quá trình phát triển các thành phần kinh tế cũng như quá trình vận dụng giá trị thặng dư vào việc phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay với mong muốn có thể khắc phục sự lạc hậu về lý luận kinh tế, sự giáo điều, tách rời lý luận và cuộc sống và góp phần hình thành tư duy kinh tế mới, tạo điều kiện thuận lợi nhằm thúc đẩy nhanh quá trình công nghiếp hóa – hiện đại hóa. 2.Đối tượng nghiên cứu Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư Nền kinh tế thị trường của Việt Nam 3. Phạm vi nghiên cứu Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung của Việt Nam từ trước năm 1986 và nền kinh tế thị trường Việt Nam từ năm 1986 đến nay 4.Phương pháp nghiên cứu • Nghiên cứu lí thuyết : quan điểm toàn diện của học thuyết kinh tế Mác – Lênin, các khái niệm và tác động của nền kinh tế thị trường. • Nghiên cứu thực tiễn: nghiên cứu về nền kinh tế thị trường của Việt Nam, thông qua việc thu thập thông tin về vấn đề nghiên cứu, xử lí, phân tích các số liệu và kiểm tra trong thực tiễn. 5.Giới thiệu nội dung nghiên cứu Chương 1: Lý luận của học thuyết kinh tế Mác – Lênin về hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư Chương 2: Sự hoạt động của hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư trong nền kinh tế Việt Nam PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CỦA HỌC THUYẾT KINH TẾ MÁC LENIN VỀ HAI PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ Theo Mác, tư bản nẩy sinh từ tiền vào đầu thế kỷ XVI. Khi ông phân tích những hình thái kinh tế trong đó quá trình lưu thông hàng hoá, thì tiền là hình thái cuối cùng. Sản vật cuối cùng ấy của lưu thông hàng hoá là hình thái biểu hiện đầu tiên của tư bản. Xét về mặt lịch sử thì đâu đâu tư bản cũng đối lập với sở hữu ruộng đất, trước tiên là dưới hình thái tiền, với tư cách là tài sản bằng tiền, tư bản của thương nhân và tư bản cho vay nặng lãi... Lịch sử ấy hàng ngày đang diễn ra trước mắt chúng ta. Khi mới xuất hiện lần đầu tiên trên vũ đài, tức là trên thị trường, thị trường hàng hoá, thị trường lao động hay thị trường tiền tệ, thì mỗi một tư bản bao giờ cũng xuất hiện dưới dạng tiền, số tiền này phải được chuyển hoá thành tư bản thông qua những quá trình nhất định. Sau đó Mác tiếp tục nghiên cứu những quá trình nhờ chúng mà tiền biến thành tư bản, và trước hết ông thấy rằng hình thức trong đó tiền lưu thông với tư cách là tư bản (T H T’), và một hình thức ngược lại với hình thức trên, tiền lưu thông với tư cách là vật ngang giá chung của các hàng hoá (HTH’). Một người chủ hàng hoá giản đơn thì bán để mua; anh ta bán cái mà anh ta không cần dùng, và với tiền thu được, anh ta mua cái mà anh ta cần dùng. Còn nhà tư bản bắt tay vào công việc thì thoạt tiên mua cái mà bản thân hắn không cần đến; hắn mua để bán, hơn nữa lại để bán đắt hơn, nhằm thu trở lại giá trị của số tiền đã bỏ ra lúc ban đầu để mua, cộng với số tiền tăng thêm nào đó, Mác gọi là giá trị thặng dư. Nhà tư bản sản xuất ra hàng hóa có giá trị sử dụng, giá trị sử dụng là nội dung vật chất của hàng hóa, là vật mang tới giá trị và giá trị thặng dư (T’>T). Đây cũng là quá trình nhà tư bản sử dụng hàng hóa sức lao động và tư liệu sản xuất để tạo ra giá trị thặng dư. Bởi thế mỗi sản phẩm được làm ra đều được kiểm soát bởi nhà tư bản và thuộc sở hữu của nhà tư bản. Trong quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, bằng lao động cụ thể của mình, công nhân lao động làm thuê sử dụng tư liệu sản xuất và chuyển giá trị của chúng vào hàng hoá, bằng lao động trừu tượng công nhân tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động, phần lớn hơn đó là giá trị thặng dư. Như vậy, giá trị thặng dư là giá rơi ra ngoài sức lao động do công nhân sáng tạo ra và nhà tư bản chiếm không.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN MÔN HỌC ĐỀ TÀI : GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: ……….
SINH VIÊN THƯC HIỆN: HỌ TÊN SV MSSV MÃ LỚP ……… ……… ………
……… ……… ………
……… ……… ………
……… ……… ………
HÀ NỘI,THÁNG 8 NĂM 2020
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU 3
1 Sự cần thiết của đề tài 3
2 Đối tượng nghiên cứu 4
3 Phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Giới thiệu nội dung nghiên cứu 4
PHẦN II: NỘI DUNG 5
CHƯƠNG I: Lý luận của học thuyết Kinh tế 5
Mác Lenin về hai phương pháp sản xuất giá trị 5
thặng dư 5
1.1 Tư bản và giá trị thặng dư 6
1.2 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối 6
1.3 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối 7
CHƯƠNG II: SỰ HOẠT ĐỘNG CỦA 2 PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 8
2.1 Giai đoạn trước đổi mới năm 1986 8
2.1.1 Mô hình kinh tế trước năm 1986 8
2.1.2 Sự hoạt động của phương pháp sản xuất giá trị thặng dư trước năm 1986 9
2.1.3 Sự phát triển của nền kinh tế trước năm 1986 9
2.2 Giai đoạn đổi mới từ 1986 đến nay 10
2.2.1 Mô hình kinh tế sau năm 1986 10
2.2.2 Sự hoạt động của phương pháp sản xuất giá trị thặng dư sau năm 1986 11
Trang 3CHƯƠNG III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỚI TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP CỦA VIỆT NAM , TRONG BỐI CẢNH CHỦ NGHĨA TƯ BẢN ĐỘC
QUYỀN ĐANG PHỔ BIẾN TRÊN TOÀN THẾ GIỚI 14
3.1 Mục tiêu 14
3.2 Một số khuyến nghị Đối với Nhà nước 14
PHẦN III: KẾT LUẬN 17
Trang 4PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Sau hơn ba mươi năm đổi mới, đất nước ta đã gặt hái được nhiều thành tựu như kinh tế ngày càng phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện, uy tín Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao Tuy nhiên, với xuất phát điểm
từ nông nghiệp nên nền kinh tế nước ta có quy mô nhỏ, quá trình hòa nhập quốc tế đang gặp phải nhiều khó khăn Vì vậy, để khắc phục thực trạng yếu kém và phát huy thế mạnh hiện có nước ta đã phát triển nền kinh tế thị trường
để hiện đại hóa đất nước Trong đó, việc vận dụng các quy luật kinh tế mà đặc biệt là học thuyết giá trị thặng dư đã và đang là một hướng áp dụng có hiệu quả trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay Giá trị thặng dư là một trong những phát hiện vĩ đại của C.Mác và theo như V.I.Lênin nhận xét thì “ Học thuyết giá trị thặng dư là viên đá tảng của học thuyết kinh tế của Mác ”Giá trị thặng dư đã mang lại những bước phát triển cho nước ta trong giai đoạn hiện nay.Tính tất yếu khách quan về việc vận dụng giá trị thặng dư vào Việt Nam đã được thông qua trong các văn kiện Đại hội của Đảng nhưng trong một chừng mực nào đó vẫn còn tồn tại các thành kiến với các thành phần kinh tế tư nhân, tư bản coi thành phần kinh tế này là bốc lột và nhận thức này không chỉ xảy ra với một số cán bộ là Đảng viên làm công tác quản lý mà còn xảy ra ngay trong những người trực tiếp làm kinh tế tư nhân ở nước ta Trong bối cảnh đó, việc học tập và nghiên cứu môn kinh tế chính trị mà đặc biệt là học thuyết giá trị thặng dư sẽ góp phần giải quyết những vướng mắc trong quá trình phát triển các thành phần kinh tế cũng như quá trình vận dụng giá trị thặng dư vào việc phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay với mong muốn có thể khắc phục sự lạc hậu về
lý luận kinh tế, sự giáo điều, tách rời lý luận và cuộc sống và góp phần hình thành tư duy kinh tế mới, tạo điều kiện thuận lợi nhằm thúc đẩy nhanh quá trình công nghiếp hóa – hiện đại hóa
Trang 52 Đối tượng nghiên cứu
Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
Nền kinh tế thị trường của Việt Nam
3 Phạm vi nghiên cứu
Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung của Việt Nam từ trước năm 1986 và nền kinh tế thị trường Việt Nam từ năm 1986 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
• Nghiên cứu lí thuyết : quan điểm toàn diện của học thuyết kinh tế Mác – Lê-nin, các khái niệm và tác động của nền kinh tế thị trường
• Nghiên cứu thực tiễn: nghiên cứu về nền kinh tế thị trường của Việt Nam, thông qua việc thu thập thông tin về vấn đề nghiên cứu, xử lí, phân tích các số liệu và kiểm tra trong thực tiễn
5 Giới thiệu nội dung nghiên cứu
Chương 1: Lý luận của học thuyết kinh tế Mác – Lê-nin về hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
Chương 2: Sự hoạt động của hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư trong nền kinh tế Việt Nam
Trang 6PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CỦA HỌC THUYẾT KINH TẾ MÁC LENIN VỀ HAI PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ
THẶNG DƯ
Theo Mác, tư bản nẩy sinh từ tiền vào đầu thế kỷ XVI Khi ông phân tích những hình thái kinh tế trong đó quá trình lưu thông hàng hoá, thì tiền là hình thái cuối cùng "Sản vật cuối cùng ấy của lưu thông hàng hoá là hình thái biểu hiện đầu tiên của tư bản Xét về mặt lịch sử thì đâu đâu tư bản cũng đối lập với sở hữu ruộng đất, trước tiên là dưới hình thái tiền, với tư cách là tài sản bằng tiền, tư bản của thương nhân và tư bản cho vay nặng lãi Lịch sử ấy hàng ngày đang diễn ra trước mắt chúng ta Khi mới xuất hiện lần đầu tiên trên vũ đài, tức là trên thị trường, - thị trường hàng hoá, thị trường lao động hay thị trường tiền tệ, - thì mỗi một tư bản bao giờ cũng xuất hiện dưới dạng tiền, số tiền này phải được chuyển hoá thành tư bản thông qua những quá trình nhất định" Sau đó Mác tiếp tục nghiên cứu những quá trình nhờ chúng mà tiền biến thành tư bản, và trước hết ông thấy rằng hình thức trong đó tiền lưu thông với tư cách là tư bản (T H T’), và một hình thức ngược lại với hình thức trên, tiền lưu thông với tư cách là vật ngang giá chung của các hàng hoá (H-T-H’) Một người chủ hàng hoá giản đơn thì bán để mua; anh ta bán cái mà anh ta không cần dùng, và với tiền thu được, anh ta mua cái mà anh ta cần dùng Còn nhà tư bản bắt tay vào công việc thì thoạt tiên mua cái mà bản thân hắn không cần đến; hắn mua để bán, hơn nữa lại để bán đắt hơn, nhằm thu trở lại giá trị của số tiền đã bỏ ra lúc ban đầu để mua, cộng với số tiền tăng thêm nào đó, Mác gọi là giá trị thặng dư Nhà tư bản sản xuất ra hàng hóa có giá trị
Trang 7sử dụng, giá trị sử dụng là nội dung vật chất của hàng hóa, là vật mang tới giá trị và giá trị thặng dư (T’>T) Đây cũng là quá trình nhà tư bản sử dụng hàng hóa sức lao động và tư liệu sản xuất để tạo ra giá trị thặng dư Bởi thế mỗi sản phẩm được làm ra đều được kiểm soát bởi nhà tư bản và thuộc sở hữu của nhà
tư bản Trong quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, bằng lao động cụ thể của mình, công nhân lao động làm thuê sử dụng tư liệu sản xuất và chuyển giá trị của chúng vào hàng hoá, bằng lao động trừu tượng công nhân tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động, phần lớn hơn đó là giá trị thặng dư Như vậy, giá trị thặng dư là giá rơi ra ngoài sức lao động do công nhân sáng tạo ra và nhà tư bản chiếm không
1.1 Tư bản và giá trị thặng dư
Đã có nhiều phương pháp được dùng để tạo ra giá trị thặng dư, nhưng hai phương pháp được sử dụng chủ yếu là phương pháp giá trị thặng dưtuyệt đối và phương pháp giá trị thặng dư tương đối Mỗi phương pháp đại 5 diện cho một trình độ khác nhau của giai cấp tư sản, cũng như những giai đoạn lịch sử khác nhau của xã hội
1.2 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài thời gian lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: Bất cứ nhà tư bản nào cũng muốn kéo dài ngày công lao động của công nhân, nhưng việc kéo dài đó không thể vượt qua giới hạn sinh lý của công nhân Bởi vì, người công nhân cần có thời gian ăn, ngủ, nghỉ ngơi, giải trí để phục hồi sức khỏe Do vậy, việc kéo dài thời gian lao động gặp sự phản kháng gay gắt của giai cấp công nhân đòi giảm giờ làm Khi độ dài ngày lao động không thể kéo dài thêm, vì lợi nhuận của mình, nhà
tư bản lại tìm cách tăng cường độ lao động của người công nhân Vì tăng cường độ lao động có nghĩa là chi phí nhiều sức lao động hơn trong một
Trang 8khoảng thời gian nhất định Nên tăng cường độ lao động về thực chất cũng tương tự như kéo dài ngày lao động Vì vậy, kéo dài thời gian lao động hay tăng cường độ lao động đều để sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối Phương pháp này chủ yếu áp dụng trong thời kỳ đầu nền sản xuất tư bản, với việc phổ biến sử dụng lao động thủ công và năng suất lao động thấp
1.3 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Khái niệm: Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách nâng cao năng suất lao động trong ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt để hạ thấp giá trị sức lao động, nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao động, cường độ lao động vẫn như cũ Điểm mấu chốt của phương pháp này là phải hạ thấp giá trị sức lao động Điều đó đồng nghĩa với giảm giá trị các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết cho công nhân Muốn vậy phải tăng năng suất lao động xã hội trong các ngành sản xuất tư liệu tiêu dùng và các ngành sản xuất tư liệu sản xuất để trang bị cho ngành sản xuất ra các tư liệu tiêu dùng Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản phát triển nhưng lúc đầu chỉ một số nhà tư bản làm được vì điều kiện khoa học, kỹ thuật chưa cho phép Khi đó, các nhà tư bản này tăng được năng suất lao động nên thu được giá trị thặng dư siêu ngạch Khi các nhà tư bản đều cải tiến kỹ thuật, giá trị thặng dư siêu ngạch sẽ không còn Tất cả sẽ thu được giá trị thặng dư tương đối Do đó giá trị thặng dư siêu ngạch là biến tướng của giá trị thặng dư tương đối
Trang 9CHƯƠNG II: SỰ HOẠT ĐỘNG CỦA 2 PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
2.1 Giai đoạn trước đổi mới năm 1986
2.1.1 Mô hình kinh tế trước năm 1986
Giai đoạn kinh tế trước năm 1986, hay còn gọi là Thời kì bao cấp, là giai đoạn áp dụng mô hình kinh tế cũ - kinh tế kế hoạch hóa tập trung ở miền Bắc cho cả nước sau thống nhất
Thứ nhất, nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chi tiêu pháp lệnh chi tiết từ trên xuống dưới Các doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao Tất cả phương hướng sản xuất, nguồn vật tư, tiền vốn, định giá sản phẩm, tổ chức bộ máy, nhân sự, tiền lương… đều do các cấp có thẩm quyền quyết định Nhà nước giao chỉ tiêu kế hoạch, cấp phát vốn, vật tư cho doanh nghiệp, doanh nghiệp giao nộp sản phẩm cho Nhà nước Lỗ thì Nhà nước bù, lãi thì Nhà nước thu
Thứ hai, các cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chất đối với các quyết định của mình Những thiệt hại vật chất do các quyết định không đúng gây ra thì ngân sách Nhà nước phải gánh chịu
Thứ ba, quan hệ hàng hóa – tiền tệ bị coi nhẹ, chỉ là hình thức, quan hệ hiện vật là chủ yếu Nhà nước quản lý kinh tế thông qua chế độ “cấp phát – giao nộp” Hạch toán kinh tế chỉ là hình thức Cơ chế bao cấp trong thời kì này thể hiện chủ yếu qua 3 hình thức sau:
+ Bao cấp qua giá: Nhà nước quyết định giá trị tài sản, thiết bị, vật tư, hàng hóa thấp hơn giá trị thực của chúng nhiều lần so với giá trị thị trường Với giá thấp như vậy, coi như một phần những thứ đó được cho không Do
đó, hạch toán kinh tế chỉ là hình thức
Trang 10+ Bao cấp qua chế độ tem phiếu (tiền lương hiện vật): Nhà nước quy định chế độ phân phối vật phẩm tiêu dùng cho cán bộ, công nhân viên, công nhân theo định mức qua hình thức tem phiếu Chế độ tem phiếu với mức giá khác xa so với giá thị trường đã biến chế độ tiền lương thành lương hiện vật, thủ tiêu động lực kích thích người lao động và phá vỡ nguyên tắc phân phối theo lao động
+ Bao cấp qua chế độ cấp phát vốn của ngân sách, nhưng không có chế tài ràng buộc trách nhiệm vật chất đối với các đơn vị được cấp vốn Điều đó vừa làm tăng gánh nặng đối với ngân sách vừa làm cho sử dụng vốn
kém hiệu quả, nảy sinh cơ chế “xin cho”
2.1.2 Sự hoạt động của phương pháp sản xuất giá trị thặng dư trước năm
1986
Với việc Nhà nước kiểm soát toàn bộ hoạt động sản xuất, khiến cho kinh tế tư nhân không có điều kiện phát triển, điều đó dẫn tới việc phương thức sản xuất giá trị thặng dư cơ bản không tồn tại ở Việt Nam giai đoạn này
2.1.3 Sự phát triển của nền kinh tế trước năm 1986
Trong giai đoạn này, Nhà nước liên tục thực hiện 2 kế hoạch đổi mới kinh tế: kế hoạch 5 năm giai đoạn 1976-1980 và 1981-1986 Tuy nhiên trong những năm đầu của kế hoạch 5 năm này cơ chế cũ chưa mất đi, cơ chế mới chưa hình thành nên Đổi mới chưa có hiệu quả đáng kể Trong giai đoạn 5 năm lần thứ nhất, kế hoạch có nhiều điểm duy ý chí nên phần lớn chỉ tiêu đều không đạt Sản xuất đình trệ, tăng trưởng chỉ đạt 0,4 %/ năm (kế hoạch là
13-14 %) trong khi tỷ lệ tăng dân số hàng năm trên 2,3 % Tình trạng thiếu lương thực diễn ra gay gắt, năm 1980 phải nhập 1,576 triệu tấn lương thực Ngân sách thiếu hụt lớn, giá cả tăng hàng năm 20 %, nhập khẩu nhiều gấp 4-5 lần xuất khẩu Nhà nước thiếu vốn đầu tư cho nền kinh tế, nhiều công trình phải
bỏ dở, hàng tiêu dùng thiết yếu thiếu trầm trọng
Trang 112.2 Giai đoạn đổi mới từ 1986 đến nay
2.2.1 Mô hình kinh tế sau năm 1986
Năm 1986, Việt Nam bắt đầu công cuộc “Đổi mới” chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đa dạng hóa và đa phương hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại, thực hiện mở cửa, hội nhập quốc tế -Thực hiện mạnh mẽ chính sách dân chủ hoá về kinh tế trên cơ sở các nguyên tắc hiến định là tự do kinh doanh, tự do khế ước trong khuôn khổ pháp luật Mọi công dân Việt Nam có đủ điều kiện theo luật định đều có quyền tự mình hoặc liên kết với những người khác thành lập doanh nghiệp hoặc kinh doanh trên mọi lĩnh vực, ngành nghề mà pháp luật không cấm
Trên cơ sở đó, một nền kinh tế nhiều thành phần, không chỉ có quốc doanh và tập thể như trước đây đã hình thành; nhiều loại hình sở hữu về tư liệu sản xuất đã ra đời, trong đó có các loại hình sở hữu hỗn hợp đan xen nhau giữa các thành phần kinh tế Các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, được tự do cạnh tranh với nhau theo một “luật chơi’’ chung của kinh tế thị trường -Nhà nước thực hiện cổ phần hóa các danh nghiệp nhà nước trao một phần quyền kiểm soát đến các doanh nghiệp tư nhân.Tuy nhiên, để bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế quốc dân, Nhà nước sẽ định
ra một số ngành nghề then chốt mà kinh tế quốc doanh nắm độc quyền giữ vai trò chủ đạo - Từng bước xoá bỏ, đi đến xoá bỏ hoàn toàn cơ chế quản lý kinh tế cũ theo lối hành chính, mệnh lệnh và kế hoạch hoá tập trung cao độ trên cơ
sở thiết lập từng bước vững chắc cơ chế thị trường, Nhà nước vẫn giữ vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế quốc dân bằng các chính sách và công cụ kinh tế, chấm dứt sự can thiệp theo lối mệnh lệnh hành chính vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, ngay cả đối với các doanh nghiệp nhà nước