MỤC LỤC PHẦN I LỜI MỞ ĐẦU 2 PHẦN II NỘI DUNG 3 CHƯƠNG I MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ 3 1 1 Khái niệm 3 1 2 Nội dung của hội nhập kinh tế quốc tế 3 1 3 Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế đối.MỤC LỤCPHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU2PHẦN II: NỘI DUNG3CHƯƠNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ31.1. Khái niệm.31.2. Nội dung của hội nhập kinh tế quốc tế.31.3. Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam.41.4. Thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.5CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM82.1. Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam82.2. Một số thành tựu và vấn đề đặt ra trong quá trình hội nhập kinh tế11CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỘI NHẬP KINH TẾ CỦA VIỆT NAM – HỘI NHẬP NHƯNG KHÔNG HÒA TAN163.1. Tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức163.2. Nâng cao năng lực cạnh tranh173.3. Giải quyết mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế183.4. Nhất quán chủ động, tích cực hội nhập quốc tế đi đôi với giữ vững độc lập, tự chủ và bản sắc dân tộc20KẾT LUẬN21TÀI LIỆU THAM KHẢO22 PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦUCục diện kinh tế thế giới hiện nay đang làm thay đổi nền tảng của kinh tế thế giới. Một số quốc gia trước kia vốn đi đầu trong việc ủng hộ tự do hóa thương mại nay lại trở thành yếu tố ảnh hưởng tới sự ổn định của hệ thống thương mại đa phương nói riêng và của cả quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế trên toàn thế giới nói chung. Đáng lưu ý là xung đột thương mại giữa Mỹ với một số đối tác, đặc biệt với Trung Quốc vẫn tiếp tục có những diễn biến khó lường. Những sự kiện, diễn biến trên đang có ảnh hưởng lớn đến tình hình kinh tế, chính trị thế giới và động thái chính sách của các nước, trong đó có Việt Nam. Việt Nam bước vào giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện, đặt ra những yêu cầu hoàn toàn mới đối với các cơ quan, địa phương và doanh nghiệp. Do đó, vấn đề cần thiết là nhận thức đầy đủ hơn những điểm mới của hội nhập kinh tế quốc tế, xác định các giải pháp để tham gia, đóng góp đối với tiến trình này, nhằm nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế và hạn chế thách thức, thiết thực phục vụ đổi mới đồng bộ và toàn diện, phát triển bền vững. Bài viết này phân tích những thành tựu, hạn chế trong hội nhập kinh tế quốc của Việt Nam trong bối cảnh cục diện kinh tế thế giới mới; nêu giải pháp nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế.Do đó, sau một thời gian tìm hiểu, tôi đã lựa chọn đề tài” Phân tích tiến trình hội nhập kinh tế của Việt Nam. Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam cần làm gì để hòa nhập mà không hòa tan vào kinh tế thế giới” làm đề tài của mình. PHẦN II: NỘI DUNGCHƯƠNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ1.1. Khái niệm. Hội nhập quốc tế là giai đoạn phát triển cao của hợp tác quốc tế, là quá trình áp dụng và tham gia xây dựng các quy tắc và luật lệ chung của cộng đồng quốc tế, phù hợp với lợi ích quốc gia, dân tộc của Việt Nam. Hơn nữa hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình gắn kết nền kinh tế của các quốc gia vào các tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu, trong đó các nước thành viên chịu sự ràng buộc theo những quy định chung của cả khối.1.2. Nội dung của hội nhập kinh tế quốc tế. 1.2.1. Nguyên tắc của hội nhập kinh tế quốc tế. Bất kì một quốc gia nào khi tham gia vào các tổ chức kinh tế trong khu vực cũng như trên thế giới đều phải tuân thủ theo những nguyên tắc của các tổ chức đó nói riêng và nguyên tắc của hội nhập kinh tế nói chung. Sau đây là một số nguyên tắc của hội nhập kinh tế quốc tế:•Không phân biệt đối xử giữa các quốc gia; tiếp cận thị trường các nước, cạnh tranh công bằng, áp dụng các hành động khẩn cấp trong trường hợp cần thiết, dành ưu đãi cho các nước đang và chậm phát triển.Đối với từng tổ chức có nguyên tắc cụ thể riêng biệt.1.2.2. Nội dung của hội nhập (WTO). Nội dung của hội nhập kinh tế quốc tế là mở cửa thị trường cho nhau, thực hiện thuận lợi hóa, tự do hóa thương mại và đầu tư:•Về thương mại hàng hóa: các nước cam kết bãi bỏ hàng rào phi thuế quan như QUOTA, giấy phép xuất khẩu,… biểu thuế nhập khẩu được giữ hiện hành và giảm dần theo lịch thỏa thuận…•Về thương mại dịch vụ: các nước mở cửa thị trường cho nhau với cả bốn phương thức: cung cấp qua biên giới, sử dụng dịch vụ ngoài lãnh thổ, thông qua liên doanh, hiện diện.•Về thị trường đầu tư: không áp dụng đối với đầu tư nước ngoài yêu cầu về tỉ lệ nội địa hóa, cân bằng xuất nhập khẩu và hạn chế tiếp cận nguồn ngoại tệ, khuyến khích tự do hóa đầu tư…1.3. Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam. Trong thời đại ngày nay, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế đã và đang là một trong những vấn đề thời sự đối với hầu hết các nước. Nước nào đóng cửa với thế giới là đi ngược xu thế chung của thời đại, khó tránh khỏi rơi vào lạc hậu. Trái lại, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế tuy có phải trả giá nhất định song đó là yêu cầu tất yếu đối với sự phát triển của mỗi nước. Bởi với những tiến độ trên lĩnh vực khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ truyền thông và tin học, thì giữa các quốc gia ngày càng có mối liên kết chặt chẽ, nhất là trên lĩnh vực kinh tế. Xu hướng toàn cầu hóa được thể hiện rõ ở sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế thế giới. Là một nước nghèo trên thế giới, sau nhiều năm bị chiến tranh tàn phá, Việt Nam bắt đầu thực hiện chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, từ một nền kinh tế tự túc nghèo nàn bắt đầu mở cửa tiếp xúc với nền kinh tế thị trường rộng lớn đầy rẫy những sức ép, khó khăn. Nhưng không vì thế mà chúng ta bỏ cuộc, đứng trước xu thế phát triển tất yếu, nhận thức được những cơ hôin và thách thức mà hội nhập đem lại, Việt Nam, một bộ phận của cộng đồng quốc tế không thể khước từ hội nhập. Chỉ có hội nhập Việt Nam mới khai thác hết những nội lực sẵn có của mình để tạo ra những thuận lợi phát triển kinh tế. Chính vì vậy mà đại hội Đảng VII của Đảng Cộng Sản Việt Nam năm 1991 đã đề ra đường lối chiến lược: “ Thực hiện đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại ”. Đến đại hội đảng VIII, nghị quyết TW4 đã đề ra nhiệm vụ: “ Giữ vững độc lập tự chủ, đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực từ bên ngoài, xây dựng một nền kinh tế mới, hội nhập với khu vực và thế giới ”. Hội nhập kinh tế đã giúp Việt Nam phát triển, giải quyết những vấn đề nghiêm trọng và hơn cả là đạt được những thành tựu lớn: •Hội nhập kinh tế góp phần mở rộng thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam.•Hội nhập kinh tế quốc tế cũng góp phần tăng thu hút đầu tư nước ngoài, viện trợ phát triển chính thức và giải quyết vấn đề nợ quốc tế.•Tham gia hội nhập kinh tế quốc tế cũng tạo điều kiện cho ta tiếp thu khoa học công nghệ tiên tiến, đào tạo cán bộ quản lý và cán bộ kinh doanh.•Hội nhập kinh tế quốc tế góp phần duy trì hòa bình ổn định, tạo dựng môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế, nâng cao vị trí Việt Nam trên trường quốc tế. Đây là thành tựu lớn nhất sau hơn một thập niên triển khai các hoạt động hội nhập.•Hội nhập kinh tế quốc tế tạo cơ hội mở rộng giao lưu các nguồn lực nước ta với các nước khác.1.4. Thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ mang lại những lợi ích mà còn đặt nước ta trước nhiều thử thách. Nếu chúng ta không có biện pháp ứng phó tốt thì sự thua thiệt về kinh tế và xã hội có thể rất lớn. Ngược lại, nếu chúng ta có chiến lược thông minh, chính sách khôn khéo thì sẽ hạn chế được thua thiệt, giành được nhiều lợi ích hơn cho đất nước.4.1. Hiện trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay. Việt Nam là một nước có nền kinh tế đang phát triển, mặc dù có những bước tiến quan trọng về tăng trưởng kinh tế nhưng chất lượng tăng trưởng; hiệu quả sản xuất; sức cạnh tranh của các sản phẩm, các doanh nghiệp và của nền kinh tế còn thấp. Tình trạng phổ biến hiện nay là sản xuất còn mang tính tự phát, chưa bám sát như cầu thị trường. Nhiều sản phẩm làm ra chất lượng thấp, giá thành cao nên giá trị gia tăng thấp, khả năng tiêu thụ sản phẩm khó khăn, thậm chí có nhiều sản phẩm cung vượt quá cầu dẫn đến số lượng hàng tồn kho lớn. Năng lực cạnh tranh hàng hóa, dịch vụ nước ta nói chung còn thấp do trang thiết bị và công nghệ của nhiều doanh nghiệp còn yếu kém, lạc hậu so với mặt bằng chung của thế giới từ 10 đến 30 năm. Bên cạnh đó còn có vấn đề về khâu quản lý còn yếu kém, môi trường đầu tư kinh doanh và thủ tục hành chính chưa thông thoáng, chính phủ đầu tư quá cao so với các nước trong khu vực, hạn chế về cung cấp thông tin xúc tiến thương mại. Hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước chưa cao, tỉ lệ số doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ lớn; tình trạng thiếu vốn, nợ nần kéo dài, tổng số nợ phải thu của các doanh nghiệp chiếm 24% doanh thu, nợ phải trả chiếm 133% tổng số vốn nhà nước đầu tư cho các doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp không xác định tự lực phấn đấu vươn lên mà còn dựa vào sự hỗ trợ, bảo hộ của nhà nước, chưa tích cực chuẩn bị theo yêu cầu tiến trình hội nhập khu vực và thế giới. Tuy nhiên không thể đổ lỗi hoàn toàn cho các doanh nghiệp mà nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác. Chi phí sản xuất của các doanh nghiệp còn lớn đang làm giảm sức cạnh tranh của các sản phẩm của họ. Các doanh nghiệp chỉ có thể giảm chi phí đầu vào bằng cách đầu tư các công nghệ mới, thay đổi phương thức quản lý triệt để để tiết kiệm. Nhưng họ không thể ngăn cản được sự gia tăng của chi phí đầu vào do sự leo thang giá cả của không ít loại vật tư, nguyên liệu, điện nước, cước phí giao thông, viễn thông. Nhất là cước phí của các ngành có tính độc quyền. Chẳng hạn như giá truy cập Internet trực tiếp có mức cước cao hơn các nước trong khu vực là 139%, thêm vào đó hầu hết các sản phẩm của ta dù để xuất khẩu hay tiêu dùng đều phải nhập ngoại nguyên, phụ liệu nên chi phí đầu vào cao. Đã vậy hàng nhập khẩu ngoài việc phải chịu thuế nhập khẩu còn phải chịu thêm thuế VAT dù chưa có giá trị tăng thêm. Trong khi đó thời gian hoàn thuế giá trị gia tăng lại chậm, do vậy làm khó khăn cho các doanh nghiệp về vòng quay vốn, chịu lãi suất ngân hàng. Ngoài ra các doanh nghiệp còn chịu chi phí do sự sách nhiễu của một số cán bộ nhà nước thoái hóa biến chất. Thêm vào đó là sự rườm rà, chậm trễ về thủ tục hành chính, thanh kiểm tra chồng chéo. Điều đáng lo ngại hiện nay là mặc dù thời điểm hội nhập với khu vực và thế giới đang đến gần, song tư tưởng đòi bảo hộ, chưa tích cực chuẩn bị còn phổ biến ở nhiều doanh nghiệp. Theo điều tra của phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam mới có 84% doanh nghiệp điều tra trả lời là có nhận được tin về hội nhập, 16% doanh nghiệp còn lại chưa có hiểu biết về quá trình hội nhập. Trong các doanh nghiệp sản xuất hàng công nghiệp chỉ có 23,8% doanh nghiệp có hàng hóa xuất khẩu, 13,7% doanh nghiệp có triển vọng xuất khẩu và 62,5% doanh nghiệp hoàn toàn không có khả năng xuất khẩu. Nguồn nhân lực Việt Nam dồi dào nhưng tay nghề kém, lợi thế về lao động rẻ đang có xu hướng mất dần. 4.2. Những nguy cơ của Việt Nam khi tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực.•Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ ảnh hưởng đến quyền độc lập tự chủ của một quốc gia.•Hội nhập kinh tế quốc tế ảnh hưởng đến bản sắc dân tộc. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM2.1. Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt NamSau 35 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới, đất nước ta đã từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, mở rộng và làm sâu sắc hơn quan hệ với các nước, tham gia tích cực và có trách nhiệm tại các diễn đàn, tổ chức quốc tế. Chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước được hiện thực hóa một cách sinh động: Trước hết, Việt Nam đã mở rộng quan hệ kinh tế với hàng loạt quốc gia và khu vực, trở thành thành viên của các tổ chức kinh tế, thương mại chủ chốt, tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng hiệu quả hơn. Nối lại các quan hệ với các nước lớn: Trung Quốc, Hoa Kỳ, kết quả Chính phủ Mỹ tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận đối với Việt
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU 2
PHẦN II: NỘI DUNG 3
CHƯƠNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ 3
1.1 Khái niệm 3
1.2 Nội dung của hội nhập kinh tế quốc tế 3
1.3 Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam 4
1.4 Thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 5
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM 8
2.1 Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam 8
2.2 Một số thành tựu và vấn đề đặt ra trong quá trình hội nhập kinh tế 11
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỘI NHẬP KINH TẾ CỦA VIỆT NAM – HỘI NHẬP NHƯNG KHÔNG HÒA TAN 16
3.1 Tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức 16
3.2 Nâng cao năng lực cạnh tranh 17
3.3 Giải quyết mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế 18
3.4 Nhất quán chủ động, tích cực hội nhập quốc tế đi đôi với giữ vững độc lập, tự chủ và bản sắc dân tộc 20
KẾT LUẬN 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
Trang 2PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU
Cục diện kinh tế thế giới hiện nay đang làm thay đổi nền tảng của kinh
tế thế giới Một số quốc gia trước kia vốn đi đầu trong việc ủng hộ tự do hóathương mại nay lại trở thành yếu tố ảnh hưởng tới sự ổn định của hệ thốngthương mại đa phương nói riêng và của cả quá trình toàn cầu hóa và hội nhậpkinh tế quốc tế trên toàn thế giới nói chung Đáng lưu ý là xung đột thươngmại giữa Mỹ với một số đối tác, đặc biệt với Trung Quốc vẫn tiếp tục cónhững diễn biến khó lường Những sự kiện, diễn biến trên đang có ảnh hưởnglớn đến tình hình kinh tế, chính trị thế giới và động thái chính sách của cácnước, trong đó có Việt Nam Việt Nam bước vào giai đoạn hội nhập quốc tếsâu rộng và toàn diện, đặt ra những yêu cầu hoàn toàn mới đối với các cơquan, địa phương và doanh nghiệp Do đó, vấn đề cần thiết là nhận thức đầy
đủ hơn những điểm mới của hội nhập kinh tế quốc tế, xác định các giải pháp
để tham gia, đóng góp đối với tiến trình này, nhằm nâng cao hiệu quả hộinhập kinh tế quốc tế và hạn chế thách thức, thiết thực phục vụ đổi mới đồng
bộ và toàn diện, phát triển bền vững Bài viết này phân tích những thành tựu,hạn chế trong hội nhập kinh tế quốc của Việt Nam trong bối cảnh cục diệnkinh tế thế giới mới; nêu giải pháp nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốctế
Do đó, sau một thời gian tìm hiểu, tôi đã lựa chọn đề tài” Phân tích tiến trình hội nhập kinh tế của Việt Nam Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam cần làm gì để hòa nhập mà không hòa tan vào kinh tế thế giới” làm
đề tài của mình
Trang 3PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ 1.1 Khái niệm.
Hội nhập quốc tế là giai đoạn phát triển cao của hợp tác quốc tế, là quátrình áp dụng và tham gia xây dựng các quy tắc và luật lệ chung của cộngđồng quốc tế, phù hợp với lợi ích quốc gia, dân tộc của Việt Nam Hơn nữahội nhập kinh tế quốc tế là quá trình gắn kết nền kinh tế của các quốc gia vàocác tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu, trong đó các nước thành viên chịu sựràng buộc theo những quy định chung của cả khối
1.2 Nội dung của hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.1 Nguyên tắc của hội nhập kinh tế quốc tế.
Bất kì một quốc gia nào khi tham gia vào các tổ chức kinh tế trong khu vựccũng như trên thế giới đều phải tuân thủ theo những nguyên tắc của các tổchức đó nói riêng và nguyên tắc của hội nhập kinh tế nói chung
Sau đây là một số nguyên tắc của hội nhập kinh tế quốc tế:
• Không phân biệt đối xử giữa các quốc gia; tiếp cận thị trường các nước,cạnh tranh công bằng, áp dụng các hành động khẩn cấp trong trường hợp cầnthiết, dành ưu đãi cho các nước đang và chậm phát triển
Đối với từng tổ chức có nguyên tắc cụ thể riêng biệt
1.2.2 Nội dung của hội nhập (WTO).
Nội dung của hội nhập kinh tế quốc tế là mở cửa thị trường cho nhau, thựchiện thuận lợi hóa, tự do hóa thương mại và đầu tư:
• Về thương mại hàng hóa: các nước cam kết bãi bỏ hàng rào phi thuếquan như QUOTA, giấy phép xuất khẩu,… biểu thuế nhập khẩu được giữhiện hành và giảm dần theo lịch thỏa thuận…
Trang 4• Về thương mại dịch vụ: các nước mở cửa thị trường cho nhau với cảbốn phương thức: cung cấp qua biên giới, sử dụng dịch vụ ngoài lãnh thổ,thông qua liên doanh, hiện diện.
• Về thị trường đầu tư: không áp dụng đối với đầu tư nước ngoài yêu cầu
về tỉ lệ nội địa hóa, cân bằng xuất nhập khẩu và hạn chế tiếp cận nguồn ngoại
tệ, khuyến khích tự do hóa đầu tư…
1.3 Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam.
Trong thời đại ngày nay, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế đã và đang làmột trong những vấn đề thời sự đối với hầu hết các nước Nước nào đóng cửavới thế giới là đi ngược xu thế chung của thời đại, khó tránh khỏi rơi vào lạchậu Trái lại, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế tuy có phải trả giá nhất địnhsong đó là yêu cầu tất yếu đối với sự phát triển của mỗi nước Bởi với nhữngtiến độ trên lĩnh vực khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ truyền thông
và tin học, thì giữa các quốc gia ngày càng có mối liên kết chặt chẽ, nhất làtrên lĩnh vực kinh tế Xu hướng toàn cầu hóa được thể hiện rõ ở sự phát triểnvượt bậc của nền kinh tế thế giới
Là một nước nghèo trên thế giới, sau nhiều năm bị chiến tranh tàn phá, ViệtNam bắt đầu thực hiện chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơchế thị trường, từ một nền kinh tế tự túc nghèo nàn bắt đầu mở cửa tiếp xúcvới nền kinh tế thị trường rộng lớn đầy rẫy những sức ép, khó khăn Nhưngkhông vì thế mà chúng ta bỏ cuộc, đứng trước xu thế phát triển tất yếu, nhậnthức được những cơ hôin và thách thức mà hội nhập đem lại, Việt Nam, một
bộ phận của cộng đồng quốc tế không thể khước từ hội nhập Chỉ có hội nhậpViệt Nam mới khai thác hết những nội lực sẵn có của mình để tạo ra nhữngthuận lợi phát triển kinh tế
Chính vì vậy mà đại hội Đảng VII của Đảng Cộng Sản Việt Nam năm 1991
đã đề ra đường lối chiến lược: “ Thực hiện đa dạng hóa, đa phương hóa quan
Trang 5hệ quốc tế, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại ” Đến đại hội đảng VIII, nghịquyết TW4 đã đề ra nhiệm vụ: “ Giữ vững độc lập tự chủ, đi đôi với tranh thủtối đa nguồn lực từ bên ngoài, xây dựng một nền kinh tế mới, hội nhập vớikhu vực và thế giới ”.
Hội nhập kinh tế đã giúp Việt Nam phát triển, giải quyết những vấn đềnghiêm trọng và hơn cả là đạt được những thành tựu lớn:
• Hội nhập kinh tế góp phần mở rộng thị trường xuất nhập khẩu của ViệtNam
• Hội nhập kinh tế quốc tế cũng góp phần tăng thu hút đầu tư nước ngoài,viện trợ phát triển chính thức và giải quyết vấn đề nợ quốc tế
• Tham gia hội nhập kinh tế quốc tế cũng tạo điều kiện cho ta tiếp thukhoa học công nghệ tiên tiến, đào tạo cán bộ quản lý và cán bộ kinh doanh
• Hội nhập kinh tế quốc tế góp phần duy trì hòa bình ổn định, tạo dựngmôi trường thuận lợi để phát triển kinh tế, nâng cao vị trí Việt Nam trêntrường quốc tế Đây là thành tựu lớn nhất sau hơn một thập niên triển khai cáchoạt động hội nhập
• Hội nhập kinh tế quốc tế tạo cơ hội mở rộng giao lưu các nguồn lựcnước ta với các nước khác
1.4 Thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ mang lại những lợi ích mà cònđặt nước ta trước nhiều thử thách Nếu chúng ta không có biện pháp ứng phótốt thì sự thua thiệt về kinh tế và xã hội có thể rất lớn Ngược lại, nếu chúng ta
có chiến lược thông minh, chính sách khôn khéo thì sẽ hạn chế được thuathiệt, giành được nhiều lợi ích hơn cho đất nước
4.1 Hiện trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay
Trang 6Việt Nam là một nước có nền kinh tế đang phát triển, mặc dù có nhữngbước tiến quan trọng về tăng trưởng kinh tế nhưng chất lượng tăng trưởng;hiệu quả sản xuất; sức cạnh tranh của các sản phẩm, các doanh nghiệp và củanền kinh tế còn thấp.
Tình trạng phổ biến hiện nay là sản xuất còn mang tính tự phát, chưa bámsát như cầu thị trường Nhiều sản phẩm làm ra chất lượng thấp, giá thành caonên giá trị gia tăng thấp, khả năng tiêu thụ sản phẩm khó khăn, thậm chí cónhiều sản phẩm cung vượt quá cầu dẫn đến số lượng hàng tồn kho lớn Nănglực cạnh tranh hàng hóa, dịch vụ nước ta nói chung còn thấp do trang thiết bị
và công nghệ của nhiều doanh nghiệp còn yếu kém, lạc hậu so với mặt bằngchung của thế giới từ 10 đến 30 năm Bên cạnh đó còn có vấn đề về khâuquản lý còn yếu kém, môi trường đầu tư kinh doanh và thủ tục hành chínhchưa thông thoáng, chính phủ đầu tư quá cao so với các nước trong khu vực,hạn chế về cung cấp thông tin xúc tiến thương mại
Hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước chưa cao, tỉ lệ sốdoanh nghiệp kinh doanh thua lỗ lớn; tình trạng thiếu vốn, nợ nần kéo dài,tổng số nợ phải thu của các doanh nghiệp chiếm 24% doanh thu, nợ phải trảchiếm 133% tổng số vốn nhà nước đầu tư cho các doanh nghiệp Nhiều doanhnghiệp không xác định tự lực phấn đấu vươn lên mà còn dựa vào sự hỗ trợ,bảo hộ của nhà nước, chưa tích cực chuẩn bị theo yêu cầu tiến trình hội nhậpkhu vực và thế giới
Tuy nhiên không thể đổ lỗi hoàn toàn cho các doanh nghiệp mà nó còn phụthuộc vào nhiều yếu tố khác Chi phí sản xuất của các doanh nghiệp còn lớnđang làm giảm sức cạnh tranh của các sản phẩm của họ Các doanh nghiệp chỉ
có thể giảm chi phí đầu vào bằng cách đầu tư các công nghệ mới, thay đổiphương thức quản lý triệt để để tiết kiệm Nhưng họ không thể ngăn cản được
sự gia tăng của chi phí đầu vào do sự leo thang giá cả của không ít loại vật tư,nguyên liệu, điện nước, cước phí giao thông, viễn thông Nhất là cước phí của
Trang 7các ngành có tính độc quyền Chẳng hạn như giá truy cập Internet trực tiếp cómức cước cao hơn các nước trong khu vực là 139%, thêm vào đó hầu hết cácsản phẩm của ta dù để xuất khẩu hay tiêu dùng đều phải nhập ngoại nguyên,phụ liệu nên chi phí đầu vào cao Đã vậy hàng nhập khẩu ngoài việc phải chịuthuế nhập khẩu còn phải chịu thêm thuế VAT dù chưa có giá trị tăng thêm.Trong khi đó thời gian hoàn thuế giá trị gia tăng lại chậm, do vậy làm khókhăn cho các doanh nghiệp về vòng quay vốn, chịu lãi suất ngân hàng Ngoài
ra các doanh nghiệp còn chịu chi phí do sự sách nhiễu của một số cán bộ nhànước thoái hóa biến chất Thêm vào đó là sự rườm rà, chậm trễ về thủ tụchành chính, thanh kiểm tra chồng chéo
Điều đáng lo ngại hiện nay là mặc dù thời điểm hội nhập với khu vực vàthế giới đang đến gần, song tư tưởng đòi bảo hộ, chưa tích cực chuẩn bị cònphổ biến ở nhiều doanh nghiệp Theo điều tra của phòng Thương Mại vàCông Nghiệp Việt Nam mới có 84% doanh nghiệp điều tra trả lời là có nhậnđược tin về hội nhập, 16% doanh nghiệp còn lại chưa có hiểu biết về quá trìnhhội nhập Trong các doanh nghiệp sản xuất hàng công nghiệp chỉ có 23,8%doanh nghiệp có hàng hóa xuất khẩu, 13,7% doanh nghiệp có triển vọng xuấtkhẩu và 62,5% doanh nghiệp hoàn toàn không có khả năng xuất khẩu
Nguồn nhân lực Việt Nam dồi dào nhưng tay nghề kém, lợi thế về lao động
Trang 8CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM 2.1 Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Sau 35 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới, đất nước ta đã từng bước hộinhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, mở rộng và làm sâu sắc hơn quan
hệ với các nước, tham gia tích cực và có trách nhiệm tại các diễn đàn, tổ chứcquốc tế Chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước đượchiện thực hóa một cách sinh động:
Trước hết, Việt Nam đã mở rộng quan hệ kinh tế với hàng loạt quốc gia
và khu vực, trở thành thành viên của các tổ chức kinh tế, thương mại chủchốt, tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng hiệu quảhơn Nối lại các quan hệ với các nước lớn: Trung Quốc, Hoa Kỳ, kết quảChính phủ Mỹ tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận đối với Việt
Nam năm 1994, Tổng thống Mỹ tuyên bố chính thức bình thường hóaquan hệ với Việt Nam năm 1995, tháng 7/2000, ký Hiệp định Thương mạiViệt Nam - Hoa Kỳ Khai thông và phát triển quan hệ với Nhật Bản và năm
1992 Chính phủ Nhật nối lại viện trợ ODA cho Việt Nam Năm 1991, Chínhphủ
Australia bãi bỏ lệnh cấm vận buôn bán với Việt Nam Năm 1992, ViệtNam - Hàn Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ
Về quan hệ hợp tác song phương, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoạigiao với hầu hết các nước trong tổ chức Liên hiệp quốc và có quan hệ kinh tế
- thương mại, gần 60 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 Hiệp địnhchống đánh thuế hai lần và nhiều Hiệp định hợp tác về văn hóa song phươngvới các nước và các tổ chức quốc tế Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệthương mại với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, được xem là một trong
Trang 9những nước có nền kinh tế hướng xuất khẩu mạnh mẽ nhất trong khối cácnước ASEAN7
Về hợp tác đa phương và khu vực: Việt Nam đã có mối quan hệ tíchcực với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như Ngân hàng phát triển châu Á(ADB), Quỹ tiền tệ thế giới, Ngân hàng thế giới Tiến trình hội nhập kinh tếquốc tế của Việt Nam được đẩy mạnh và đưa lên một tầm cao hơn bằng việctham gia các tổ chức kinh tế, thương mại khu vực và thế giới, ký kết các hiệpđịnh hợp tác kinh tế đa phương
Năm 1995, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN vàtham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), từ tháng 1 năm 1996 bắtđầu thực hiện nghĩa vụ và các cam kết trong chương trình ưu đãi thuế quan cóhiệu lực chung (CEPT) của AFTA, theo đó đến 1/1/2006, Việt Nam phải thựchiện đầy đủ các cam kết với mức thuế nhập khẩu còn 0 - 5% (trừ một số mặthàng nông sản nhạy cảm sẽ thực hiện vào năm 2010), ngoài ra Việt Nam còntham gia đàm phán các hiệp định, chương trình như: Hiệp định về thươngmại, dịch vụ, chương trình hợp tác trong các lĩnh vực giao thông, nôngnghiệp Tháng 3 năm 1996, Việt Nam là thành viên sáng lập Diễn đàn hợptác Á - Âu (ASEM), nội dung hợp tác chủ yếu là tập trung vào quá trình tự dohóa thương mại, đầu tư và hợp tác giữa các nhà doanh nghiệp Á - Âu Tháng
6 năm 1996, Việt Nam gửi đơn xin gia nhập Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á
- Thái Bình Dương (APEC), đến cuối năm 1998 được công nhận chính thức làthành viên của tổ chức này Đây là Diễn đàn hợp tác kinh tế được thành lập từnăm 1998, đến nay có 21 nền kinh tế thành viên ở châu Á, châu Mỹ và châuĐại Dương Tổng số dân của các thành viên APEC là 2,67 tỷ người, chiếm41% dân số thế giới; tổng GDP khoảng 31,6 ngàn tỷ USD, bằng 57% GDPthế giới; tổng giá trị thương mại khoảng 5,5 ngàn tỷ USD, bằng khoảng 50%thương mại thế giới Việt Nam đã chủ động, tích cực tham gia các hoạt độngcủa Diễn đàn này một cách có hiệu quả
Trang 10Tháng 11-2006, sau một tuần Việt Nam gia nhập WTO, nước ta đãđăng cai tổ chức Tuần lễ cấp cao APEC lần thứ 14 rất thành công, tạo đượctiếng vang lớn với nhiều ấn tượng tốt đẹp về một Việt Nam đang phát triển ổnđịnh, giàu lòng mến khách và là một điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tưnước ngoài, tạo nên sự tăng trưởng ngoạn mục trong thu hút FDI trong cácnăm 2007 và 2008
Đặc biệt, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã có mộtbước đi quan trọng khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTOvào ngày 11 tháng 01 năm 2007 sau 11 năm đàm phán gia nhập Tổ chức này.Đây là sự kiện đánh dấu sự hội nhập toàn diện của Việt Nam vào kinh tế thếgiới Với việc gia nhập WTO, Việt Nam đã tiến hành nhiều cải cách chínhsách kinh tế, thương mại, đầu tư đồng bộ, theo hướng minh bạch và tự do hóahơn, góp phần quan trọng cho việc xây dựng một nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, thế giới đang được chứng kiến sự gia tăngnhanh chóng của các Hiệp định thương mại tự do để thiết lập các Khu vựcthương mại tự do Phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế của thế giới
và khu vực, tiến trình đàm phán và ký kết các FTA của Việt Nam đã đượckhởi động và triển khai cùng với tiến trình gia nhập các tổ chức quốc tế vàkhu vực Đến nay, Việt Nam đã tham gia thiết lập FTA với 15 nước trongkhung khổ của 6 FTA khu vực, bao gồm:
ASEAN – Trung Quốc vào năm 2004, ASEAN – Hàn Quốc vào năm
2006, ASEAN – Nhật Bản năm 2008, ASEAN – Ôt-xtrây-lia và ASEAN –Niu-Di-lân vào năm 2009, ASEAN – Ấn Độ năm 2009
Ngoài việc ký kết và tham gia các Hiệp định Thương mại tự do với tưcách là thành viên khối ASEAN thì Hiệp định Thương mại tự do đầu tiên màViệt Nam ký kết với tư cách là một bên độc lập là Hiệp định đối tác kinh tế
Trang 11Việt Nam – Nhật Bản (2008), tiếp đó là Hiệp định Thương mại tự do ViệtNam – Chi Lê (11/11/2011) Ngoài ra, Việt Nam cũng tích cực chủ động thamgia sâu vào diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
(APEC), đã đăng cai năm APEC 2006 và tiến tới sẽ đăng cai APECnăm 2017 với hàng trăm cuộc họp từ cấp chuyên viên đến cấp cao
Điểm nổi bật hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam là tháng 10/2015Việt Nam đã hoàn tất đàm phán để ký kết Hiệp định Đối tác xuyên Thái BìnhDương (TPP) vào tháng 02/2016 Đây là một Hiệp định được kỳ vọng sẽ trởthành một khuôn khổ thương mại toàn diện, có chất lượng cao và là khuônmẫu cho các Hiệp định thế kỷ 21 Việc tham gia vào Hiệp định TPP sẽ giúpViệt Nam nắm bắt và tận dụng tốt hơn các cơ hội do quá trình hội nhập kinh
tế khu vực đem lại, đồng thời Việt Nam có thêm điều kiện, tranh thủ hợp tácquốc tế để phục vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, triển khai chiến lượchội nhập quốc tế nói chung và chiến lược đối ngoại ở khu vực châu Á - TháiBình Dương nói riêng
2.2 Một số thành tựu và vấn đề đặt ra trong quá trình hội nhập kinh tế
2.2.1 Một số thành tựu đạt được
Trong 35 năm đổi mới, các chủ trương cơ bản về hội nhập kinh tế quốc
tế (HNKTQT) được đề cập tại nhiều nghị quyết, chỉ thị quan trọng của Đảng
và Nhà nước, cụ thể tại Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của BộChính trị (khóa XI) về hội nhập quốc tế (trong đó xác định HNKTQT là trọngtâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế)
và Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 5/11/2016 của Hội nghị lần thứ tư BanChấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về thực hiện có hiệu quả tiến trìnhHNKTQT, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh Việt Nam thamgia các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới