1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng quy luật mâu thuẫn trong giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay

22 33 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận Dụng Quy Luật Mâu Thuẫn Trong Giải Quyết Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Tăng Trưởng Kinh Tế Và Bảo Vệ Môi Trường Ở Nước Nay
Trường học Trường Đại học Khoa Học Tự Nhiên, ĐHQG Hà Nội
Chuyên ngành Khoa Học Môi Trường
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 40,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỤC LỤC i PHẦN I LỜI MỞ ĐẦU 1 PHẦN II NỘI DUNG 2 CHƯƠNG I MỘT SỐ KHÁI NIỆM 2 1 1 Khái niệm Quy luật mâu thuẫn 2 1 1 1 Khái niệm 2 1 1 2 Đặc điểm 2 1 2 Mâu thuẫn tồn tại khách quan với sự thống.MỤC LỤCMỤC LỤCiPHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU1PHẦN II: NỘI DUNG2CHƯƠNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM21.1. Khái niệm Quy luật mâu thuẫn21.1.1. Khái niệm21.1.2. Đặc điểm21.2. Mâu thuẫn tồn tại khách quan với sự thống nhất tương đối và sự đấu tranh tuyệt đối của các mặt đối lập31.3. Về vai trò động lực của mâu thuẫn trong sự vận động và phát triển6CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG72.1. Thực trạng Kinh tế và Môi trường Việt Nam72.1.1. Thực trạng phát triển Kinh tế Việt Nam72.1.2. Thực trạng môi trường Việt Nam112.1.3. Ảnh hưởng của phát triển kinh tế xã hội đến môi trường tự nhiên122.2. Đánh giá chung152.3. Một số biện pháp vận dụng quy luật mâu thuẫn để tăng trường kinh tế đi liền với bảo vệ môi trường172.3.1. Đối với Nhà nước:172.3.2. Đối với doanh nghiệp và người tiêu dùng18PHẦN III: KẾT LUẬN19TÀI LIỆU THAM KHẢO20  PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦUHòa mình vào xu thế chung đó của thế giới, Việt Nam cũng đã và đang từng bước bắt kịp xu thế chung và tiến tới chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Đây không phải là mục tiêu mang tính nhất thời mà là nhiệm vụ mang tính sống còn đối với nền kinh tế Việt Nam hiện tại và tương lai. Bởi rằng nếu không bắt kịp xu thế chung của thế giới thì sẽ trở nên thụt lùi, lạc hậu, dễ dàng bị loại bỏ trên trường quốc tế.Để phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội, con người đã khai thác, sử dụng tài nguyên và thải vào môi trường các loại chất thải độc hại. Việc làm này đang dần hủy hoại môi trường, nơi cung cấp sự sống cho con người. Khi môi trường bị hủy hoại nó sẽ tác động ngược trở lại đến đời sống, sản xuất của con người như: ảnh hưởng tới sức khỏe, thiên tai, bão lũ, hạn hán, sóng thần. .. và các tài nguyên phục vụ cho đời sống sản xuất ngày càng cạn kiệt. Như vậy, giữa phát triển kinh tế xã hội với môi trường có mối quan hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau. Vì vậy, không cần một thứ tự ưu tiên giải quyết vấn đề nào trước, mà tất cả đều là vấn đề cần được giải quyết song hành. Tìm ra những giải pháp cấp bách hiện nay để giảm thiểu ô nhiễm môi trường đồng thời vẫn đảm bảo được phát triển bền vững là vấn đề ưu tiên hàng đầu.Với những lý do trên, sau một thời gian tìm hiểu, tác giả đã chọn đề tài “ Vận dụng quy luật mâu thuẫn trong giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay” để hiểu rõ hơn về những vấn đề liên quan. PHẦN II: NỘI DUNGCHƯƠNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1.1. Khái niệm Quy luật mâu thuẫn1.1.1. Khái niệmQuy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, thường được gọi tắt là quy luật mâu thuẫn (trong Biện chứng của tự nhiên, Ph.Ăngghen còn gọi là “Quy luật về sự xâm nhập lẫn nhau của các mặt đối lập”, là quy luật phổ quát của hiện thực, kể cả trong tư duy và sự nhận thức hiện thực đó bằng chính tư duy của con người. Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập chứa đựng thực chất và hạt nhân của phép biện chứng duy vật. Chính V.I.Lênin đã khẳng định như vậy. Ông viết: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng”. Theo V.I.Lênin, “sự phân đôi của cái thống nhất và sự nhận thức các bộ phận đối lập của nó..., đó là thực chất... của phép biện chứng”. Trong phép biện chứng, mối liên hệ giữa các mặt đối lập chính là mâu thuẫn; sự thống nhất, đấu tranh và chuyển hóa giữa các mặt đối lập chính là quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập.1.1.2. Đặc điểmMâu thuẫn không phải là tri thức của riêng chủ nghĩa duy vật biện chứng hay của chủ nghĩa Mác. Mặc dù chủ nghĩa Mác đã có công cải tạo phép biện chứng từ duy tâm trở thành duy vật, làm cho quy luật mâu thuẫn đạt tới trình độ “mô hình tư tưởng” gần như vạn năng để con người giải thích và cải tạo thế giới, tuy nhiên việc phê phán triết học Mác Lênin nhằm vào học thuyết mâu thuẫn là sự phê phán không đúng địa chỉ và không đúng đối tượng.Bởi lẽ, ngay từ thời Cổ đại, bằng sự cảm nhận và “phỏng đoán thiên tài”, các nhà thông thái Hy Lạp đã xác nhận được những mối liên hệ phổ biến của mọi tồn tại, trong đó sự tác động qua lại của các mặt đối lập được xem là cái “hoàn toàn khách quan, là nguyên lý của tất cả cái gì tồn tại”4. Những nhà tư tưởng được biết đến trong lịch sử triết học như là những người có công đặt nền móng cho học thuyết mâu thuẫn là Heraclitus, Lão Tử, Zeno, N.Kuzansky, D.Bruno..., và Hêghen. Nhưng công bằng mà nói, công lao đặc biệt đối với học thuyết mâu thuẫn (trước C.Mác) thuộc về Hêghen. Chính là nhờ Hêghen mà lý luận triết học về mâu thuẫn và về phép biện chứng trở nên có giá trị và có sức sống mãnh liệt kể từ thế kỷ XIX đến nay.Với G.Hêghen, “tất cả mọi vật đều có tính chất mâu thuẫn trong bản thân nó”... Mâu thuẫn “là cái phủ định trong sự quy định bản chất của nó, là nguyên tắc của mọi sự tự vận động, mà sự tự vận động này không phải là cái gì khác mà chỉ là sự biểu hiện nào đấy của mâu thuẫn... Vận động là bản thân mâu thuẫn đang tồn tại”... “Mâu thuẫn là nguồn gốc của tất cả mọi sự vận động và của tất cả mọi sức sống, chỉ trong chừng mực một vật chứa đựng trong bản thân nó một mâu thuẫn thì nó mới vận động, mới có xung lực (импульс) và hoạt động”. Theo C.Mác, “sai lầm chủ yếu của Hêghen là ở chỗ ông hiểu mâu thuẫn của hiện tượng là sự thống nhất trong bản chất, trong ý niệm, kỳ thực bản chất của mâu thuẫn ấy cố nhiên là một cái gì đó sâu sắc hơn, cụ thể là mâu thuẫn bản chất”.Cải tạo phép biện chứng Hêghen, chủ nghĩa Mác đã giải thích một cách duy vật về quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập như là “định luật của tri thức” và của thế giới khách quan.1.2. Mâu thuẫn tồn tại khách quan với sự thống nhất tương đối và sự đấu tranh tuyệt đối của các mặt đối lậpMặt đối lập (opposites, contraires, противоположности thực ra không chỉ là “mặt” như trong tiếng Việt, mà là đối lập, cái đối lập, sự đối lập) là các mặt, các thuộc tính, các khuynh hướng, các quá trình, các sự vật, hiện tượng... vốn có trong “cái thống nhất” (đối tượng được xem xét). Chúng là “sự phân đôi của cái thống nhất” nên tồn tại và vận động trong sự phụ thuộc lẫn nhau, theo chiều hướng trái ngược nhau và loại trừ lẫn nhau, tạo thành mâu thuẫn nội tại của sự vật; nhưng đồng thời lại thống nhất với nhau. Nghĩa là, được gọi là mặt đối lập bởi vì chúng chỉ tồn tại trong sự phụ thuộc lẫn nhau (mặt đối lập này không thể tồn tại mà không có mặt kia) và loại trừ lẫn nhau (sự vận động của chúng đối lập trực tiếp với nhau).Trong thực tế, mâu thuẫn không chỉ là mối quan hệ giữa các mặt, các thuộc tính, các khuynh hướng đối lập của một đối tượng hoặc giữa các đối tượng (thuộc sự vật và hiện tượng), mà còn là mối quan hệ của đối tượng với chính nó. Nghĩa là mâu thuẫn còn là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập tạo nên sự tự vận động của một đối tượng.Khi sự đối lập chưa vận động tới trình độ cực đoan cần phải được giải quyết (mâu thuẫn chưa chín muồi), các mặt đối lập tác động ngang nhau, cân bằng nhau phản ánh sự đấu tranh chưa thắng thế giữa cái mới với cái cũ. Tuy thế, triết học duy vật biện chứng nhấn mạnh, sự thống nhất của các mặt đối lập chỉ là tương đối, thể hiện sự ổn định tương đối, nhất thời của sự vật và hiện tượng. Sự đấu tranh của các mặt đối lập mới là tuyệt đối, thể hiện tính vô hạn của quá trình vận động và phát triển. Ph.Ăngghen viết: “Tính đồng nhất và tính khác biệt tính tất yếu và tính ngẫu nhiên nguyên nhân và kết quả đó là những đối lập chủ yếu, những đối lập, nếu xét một cách riêng rẽ, thì sẽ chuyển hoá lẫn nhau”. Khi nghiên cứu vấn đề này, V.I.Lênin viết: “Sự thống nhất (phù hợp, đồng nhất, tác dụng ngang nhau) của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối. Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối”. Điều này phản ánh một thực tế là, trong thế giới này, chẳng có sự ổn định hay đứng im nào là vĩnh viễn tồn tại “Vận động là một mâu thuẫn, là một sự thống nhất của các mâu thuẫn”.Trong lôgíc hình thức cũng có quy luật mâu thuẫn, gọi đầy đủ và chính xác là “quy luật cấm mâu thuẫn”. Tuy nhiên, đây là quy luật đòi hỏi các thao tác tư duy không được phép mâu thuẫn với nhau khi đưa ra các phán đoán về cùng một đối tượng. Mâu thuẫn ở đây chỉ là mâu thuẫn lôgíc nảy sinh khi tư duy mắc sai lầm. Quy luật này dĩ nhiên cũng vô cùng quan trọng, nhưng chỉ tồn tại trong lôgíc học hình thức với chức năng là giúp cho con người tư duy đúng.Khác với lôgíc học hình thức, quy luật mâu thuẫn trong phép biện chứng có đối tượng của nó là mâu thuẫn biện chứng. Ph.Ăngghen khẳng định, mâu thuẫn biện chứng “tồn tại một cách khách quan ở trong bản thân các sự vật và các quá trình và có thể bộc lộ ra dưới một hình thức hữu hình”; “trong sinh vật học cũng như trong lịch sử xã hội loài người, quy luật ấy đều được xác nhận”. Nghiên cứu vấn đề này, V.I.Lênin nhận xét: “Sự phát triển là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối lập”.Triết học duy vật biện chứng khẳng định, mâu thuẫn biện chứng tồn tại khách quan, phổ biến. Nghĩa là, mâu thuẫn biện chứng cũng tồn tại trong tư duy. Nhưng đó không phải là tư duy có mâu thuẫn hay sự ngụy biện, mà là kết quả của sự phản ánh mâu thuẫn trong hiện thực, kể cả hiện thực của bản thân tư duy (tự nhận thức, phản tư). Và do vậy, mâu thuẫn biện chứng trong tư duy là nguồn gốc vận động của nhận thức, của tư duy trong quá trình tìm kiếm chân lý. Ph.Ăngghen viết: “Biện chứng gọi là khách quan thì chi phối trong toàn bộ giới tự nhiên, còn biện chứng gọi là chủ quan, tức là tư duy biện chứng, thì chỉ là phản ánh sự chi phối, trong toàn bộ giới tự nhiên, của sự vận động thông qua những mặt đối lập, tức là những mặt, thông qua sự đấu tranh thường xuyên của chúng và sự chuyển hóa cuối cùng của chúng từ mặt đối lập này thành mặt đối lập kia, resp (tương tự) với những hình thức cao hơn, đã quy định sự sống của giới tự nhiên”.Trong đời sống xã hội, sự đấu tranh và thống nhất của các mặt đối lập là sự thống nhất và đấu tranh của các lực lượng, các nhóm, các hệ thống xã hội theo các mặt, các tính chất, các khuynh hướng xã hội đã quy định và tạo thành các thực thể xã hội đó. Toàn bộ đời sống vật chất và đời sống tinh thần xã hội đều bao hàm những mặt đối lập, những mâu thuẫn như vậy. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã nhiều lần bàn đến mâu thuẫn xã hội, và thực ra toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của các ông cũng là nhằm giải quyết các vấn đề về mâu thuẫn xã hội. C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Theo quan điểm của chúng tôi tất cả mọi xung đột trong lịch sử đều bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa những lực lượng sản xuất và hình thức giao tiếp” (“Hình thức giao tiếp” về sau được C.Mác gọi là “Quan hệ sản xuất”). Theo Ph.Ăngghen, “mâu thuẫn giữa sản xuất xã hội và sự chiếm hữu tư bản chủ nghĩa biểu hiện ra thành sự đối kháng giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản”. Với V.I.Lênin, “tính chất biện chứng của sự phát triển xã hội, diễn ra trong mâu thuẫn và thông qua các mâu thuẫn”.Cần lưu ý rằng, đối với mỗi con người, trạng thái đối lập, mâu thuẫn với chính mình, với những người xung quanh và với xã hội... (loại trừ trường hợp mâu thuẫn lôgíc) là trạng thái tự nhiên, vốn có, vận động theo các bước, các trình độ đối lập khác nhau đi từ đồng nhất, khác biệt đến mâu thuẫn hoặc xung đột. Những mâu thuẫn biện chứng ấy đóng vai trò là nguồn gốc và động lực để thúc đẩy phát triển con người, hình thành và phát triển nhân cách cá nhân. Con người mẫu thuẫn với chính mình, đó không phải là một căn bệnh đối lập càng gay gắt, động lực phát triển càng mạnh.

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU 1

PHẦN II: NỘI DUNG 2

CHƯƠNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM 2

1.1 Khái niệm Quy luật mâu thuẫn 2

1.1.1 Khái niệm 2

1.1.2 Đặc điểm 2

1.2 Mâu thuẫn tồn tại khách quan với sự thống nhất tương đối và sự đấu tranh tuyệt đối của các mặt đối lập 3

1.3 Về vai trò động lực của mâu thuẫn trong sự vận động và phát triển 6

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 7

2.1 Thực trạng Kinh tế và Môi trường Việt Nam 7

2.1.1 Thực trạng phát triển Kinh tế Việt Nam 7

2.1.2 Thực trạng môi trường Việt Nam 11

2.1.3 Ảnh hưởng của phát triển kinh tế - xã hội đến môi trường tự nhiên 12

2.2 Đánh giá chung 15

2.3 Một số biện pháp vận dụng quy luật mâu thuẫn để tăng trường kinh tế đi liền với bảo vệ môi trường 17

2.3.1 Đối với Nhà nước: 17

2.3.2 Đối với doanh nghiệp và người tiêu dùng 18

PHẦN III: KẾT LUẬN 19

TÀI LIỆU THAM KHẢO 20

Trang 2

PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU

Hòa mình vào xu thế chung đó của thế giới, Việt Nam cũng đã và đang từngbước bắt kịp xu thế chung và tiến tới chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Đây khôngphải là mục tiêu mang tính nhất thời mà là nhiệm vụ mang tính sống còn đối vớinền kinh tế Việt Nam hiện tại và tương lai Bởi rằng nếu không bắt kịp xu thế chungcủa thế giới thì sẽ trở nên thụt lùi, lạc hậu, dễ dàng bị loại bỏ trên trường quốc tế

Để phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội, con người đã khai thác, sửdụng tài nguyên và thải vào môi trường các loại chất thải độc hại Việc làm nàyđang dần hủy hoại môi trường, nơi cung cấp sự sống cho con người Khi môi trường

bị hủy hoại nó sẽ tác động ngược trở lại đến đời sống, sản xuất của con người như:ảnh hưởng tới sức khỏe, thiên tai, bão lũ, hạn hán, sóng thần và các tài nguyênphục vụ cho đời sống sản xuất ngày càng cạn kiệt Như vậy, giữa phát triển kinh tế -

xã hội với môi trường có mối quan hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau Vìvậy, không cần một thứ tự ưu tiên giải quyết vấn đề nào trước, mà tất cả đều là vấn

đề cần được giải quyết song hành Tìm ra những giải pháp cấp bách hiện nay đểgiảm thiểu ô nhiễm môi trường đồng thời vẫn đảm bảo được phát triển bền vững làvấn đề ưu tiên hàng đầu

Với những lý do trên, sau một thời gian tìm hiểu, tác giả đã chọn đề tài “

Vận dụng quy luật mâu thuẫn trong giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay” để hiểu rõ hơn về

những vấn đề liên quan

Trang 3

PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1.1 Khái niệm Quy luật mâu thuẫn

1.1.1 Khái niệm

Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, thường được gọi tắt làquy luật mâu thuẫn (trong Biện chứng của tự nhiên, Ph.Ăngghen còn gọi là “Quyluật về sự xâm nhập lẫn nhau của các mặt đối lập”, là quy luật phổ quát của hiệnthực, kể cả trong tư duy và sự nhận thức hiện thực đó bằng chính tư duy của conngười

Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập chứa đựng thực chất vàhạt nhân của phép biện chứng duy vật Chính V.I.Lênin đã khẳng định như vậy.Ông viết: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhấtcủa các mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng” TheoV.I.Lênin, “sự phân đôi của cái thống nhất và sự nhận thức các bộ phận đối lập củanó , đó là thực chất của phép biện chứng” Trong phép biện chứng, mối liên hệgiữa các mặt đối lập chính là mâu thuẫn; sự thống nhất, đấu tranh và chuyển hóagiữa các mặt đối lập chính là quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

1.1.2 Đặc điểm

Mâu thuẫn không phải là tri thức của riêng chủ nghĩa duy vật biện chứng haycủa chủ nghĩa Mác Mặc dù chủ nghĩa Mác đã có công cải tạo phép biện chứng từduy tâm trở thành duy vật, làm cho quy luật mâu thuẫn đạt tới trình độ “mô hình tưtưởng” gần như vạn năng để con người giải thích và cải tạo thế giới, tuy nhiên việcphê phán triết học Mác - Lênin nhằm vào học thuyết mâu thuẫn là sự phê phánkhông đúng địa chỉ và không đúng đối tượng

Bởi lẽ, ngay từ thời Cổ đại, bằng sự cảm nhận và “phỏng đoán thiên tài”, cácnhà thông thái Hy Lạp đã xác nhận được những mối liên hệ phổ biến của mọi tồntại, trong đó sự tác động qua lại của các mặt đối lập được xem là cái “hoàn toànkhách quan, là nguyên lý của tất cả cái gì tồn tại”[4] Những nhà tư tưởng được biếtđến trong lịch sử triết học như là những người có công đặt nền móng cho học thuyết

Trang 4

mâu thuẫn là Heraclitus, Lão Tử, Zeno, N.Kuzansky, D.Bruno , và Hêghen Nhưngcông bằng mà nói, công lao đặc biệt đối với học thuyết mâu thuẫn (trước C.Mác)thuộc về Hêghen Chính là nhờ Hêghen mà lý luận triết học về mâu thuẫn và vềphép biện chứng trở nên có giá trị và có sức sống mãnh liệt kể từ thế kỷ XIX đếnnay.

Với G.Hêghen, “tất cả mọi vật đều có tính chất mâu thuẫn trong bản thânnó” Mâu thuẫn “là cái phủ định trong sự quy định bản chất của nó, là nguyên tắccủa mọi sự tự vận động, mà sự tự vận động này không phải là cái gì khác mà chỉ là

sự biểu hiện nào đấy của mâu thuẫn Vận động là bản thân mâu thuẫn đang tồntại” “Mâu thuẫn là nguồn gốc của tất cả mọi sự vận động và của tất cả mọi sứcsống, chỉ trong chừng mực một vật chứa đựng trong bản thân nó một mâu thuẫn thì

nó mới vận động, mới có xung lực (импульс) và hoạt động” Theo C.Mác, “sai lầmchủ yếu của Hêghen là ở chỗ ông hiểu mâu thuẫn của hiện tượng là sự thống nhấttrong bản chất, trong ý niệm, kỳ thực bản chất của mâu thuẫn ấy cố nhiên là một cái

gì đó sâu sắc hơn, cụ thể là mâu thuẫn bản chất”

Cải tạo phép biện chứng Hêghen, chủ nghĩa Mác đã giải thích một cách duyvật về quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập như là “định luật của trithức” và của thế giới khách quan

1.2 Mâu thuẫn tồn tại khách quan với sự thống nhất tương đối và sự đấu tranh tuyệt đối của các mặt đối lập

Mặt đối lập (opposites, contraires, противоположности - thực ra không chỉ

là “mặt” như trong tiếng Việt, mà là đối lập, cái đối lập, sự đối lập) là các mặt, cácthuộc tính, các khuynh hướng, các quá trình, các sự vật, hiện tượng vốn có trong

“cái thống nhất” (đối tượng được xem xét) Chúng là “sự phân đôi của cái thốngnhất” nên tồn tại và vận động trong sự phụ thuộc lẫn nhau, theo chiều hướng tráingược nhau và loại trừ lẫn nhau, tạo thành mâu thuẫn nội tại của sự vật; nhưng đồngthời lại thống nhất với nhau Nghĩa là, được gọi là mặt đối lập bởi vì chúng chỉ tồntại trong sự phụ thuộc lẫn nhau (mặt đối lập này không thể tồn tại mà không có mặtkia) và loại trừ lẫn nhau (sự vận động của chúng đối lập trực tiếp với nhau)

Trang 5

Trong thực tế, mâu thuẫn không chỉ là mối quan hệ giữa các mặt, các thuộctính, các khuynh hướng đối lập của một đối tượng hoặc giữa các đối tượng (thuộc

sự vật và hiện tượng), mà còn là mối quan hệ của đối tượng với chính nó Nghĩa làmâu thuẫn còn là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập tạo nên sự tự vậnđộng của một đối tượng

Khi sự đối lập chưa vận động tới trình độ cực đoan cần phải được giải quyết(mâu thuẫn chưa chín muồi), các mặt đối lập tác động ngang nhau, cân bằng nhauphản ánh sự đấu tranh chưa thắng thế giữa cái mới với cái cũ Tuy thế, triết học duyvật biện chứng nhấn mạnh, sự thống nhất của các mặt đối lập chỉ là tương đối, thểhiện sự ổn định tương đối, nhất thời của sự vật và hiện tượng Sự đấu tranh của cácmặt đối lập mới là tuyệt đối, thể hiện tính vô hạn của quá trình vận động và pháttriển Ph.Ăngghen viết: “Tính đồng nhất và tính khác biệt - tính tất yếu và tính ngẫunhiên - nguyên nhân và kết quả - đó là những đối lập chủ yếu, những đối lập, nếuxét một cách riêng rẽ, thì sẽ chuyển hoá lẫn nhau” Khi nghiên cứu vấn đề này,V.I.Lênin viết: “Sự thống nhất (phù hợp, đồng nhất, tác dụng ngang nhau) của cácmặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối Sự đấu tranh của cácmặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự phát triển, sự vận động làtuyệt đối” Điều này phản ánh một thực tế là, trong thế giới này, chẳng có sự ổnđịnh hay đứng im nào là vĩnh viễn tồn tại - “Vận động là một mâu thuẫn, là một sựthống nhất của các mâu thuẫn”

Trong lôgíc hình thức cũng có quy luật mâu thuẫn, gọi đầy đủ và chính xác

là “quy luật cấm mâu thuẫn” Tuy nhiên, đây là quy luật đòi hỏi các thao tác tư duykhông được phép mâu thuẫn với nhau khi đưa ra các phán đoán về cùng một đốitượng Mâu thuẫn ở đây chỉ là mâu thuẫn lôgíc nảy sinh khi tư duy mắc sai lầm.Quy luật này dĩ nhiên cũng vô cùng quan trọng, nhưng chỉ tồn tại trong lôgíc họchình thức với chức năng là giúp cho con người tư duy đúng

Khác với lôgíc học hình thức, quy luật mâu thuẫn trong phép biện chứng cóđối tượng của nó là mâu thuẫn biện chứng Ph.Ăngghen khẳng định, mâu thuẫn biệnchứng “tồn tại một cách khách quan ở trong bản thân các sự vật và các quá trình và

có thể bộc lộ ra dưới một hình thức hữu hình”; “trong sinh vật học cũng như trong

Trang 6

lịch sử xã hội loài người, quy luật ấy đều được xác nhận” Nghiên cứu vấn đề này,V.I.Lênin nhận xét: “Sự phát triển là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối lập”.

Triết học duy vật biện chứng khẳng định, mâu thuẫn biện chứng tồn tạikhách quan, phổ biến Nghĩa là, mâu thuẫn biện chứng cũng tồn tại trong tư duy.Nhưng đó không phải là tư duy có mâu thuẫn hay sự ngụy biện, mà là kết quả của

sự phản ánh mâu thuẫn trong hiện thực, kể cả hiện thực của bản thân tư duy (tựnhận thức, phản tư) Và do vậy, mâu thuẫn biện chứng trong tư duy là nguồn gốcvận động của nhận thức, của tư duy trong quá trình tìm kiếm chân lý Ph.Ăngghenviết: “Biện chứng gọi là khách quan thì chi phối trong toàn bộ giới tự nhiên, cònbiện chứng gọi là chủ quan, tức là tư duy biện chứng, thì chỉ là phản ánh sự chiphối, trong toàn bộ giới tự nhiên, của sự vận động thông qua những mặt đối lập, tức

là những mặt, thông qua sự đấu tranh thường xuyên của chúng và sự chuyển hóacuối cùng của chúng từ mặt đối lập này thành mặt đối lập kia, resp (tương tự) vớinhững hình thức cao hơn, đã quy định sự sống của giới tự nhiên”

Trong đời sống xã hội, sự đấu tranh và thống nhất của các mặt đối lập là sựthống nhất và đấu tranh của các lực lượng, các nhóm, các hệ thống xã hội theo cácmặt, các tính chất, các khuynh hướng xã hội đã quy định và tạo thành các thực thể

xã hội đó Toàn bộ đời sống vật chất và đời sống tinh thần xã hội đều bao hàmnhững mặt đối lập, những mâu thuẫn như vậy Các nhà kinh điển của chủ nghĩaMác đã nhiều lần bàn đến mâu thuẫn xã hội, và thực ra toàn bộ cuộc đời và sựnghiệp của các ông cũng là nhằm giải quyết các vấn đề về mâu thuẫn xã hội C.Mác

và Ph.Ăngghen viết: “Theo quan điểm của chúng tôi - tất cả mọi xung đột trong lịch

sử đều bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa những lực lượng sản xuất và hình thức giaotiếp” (“Hình thức giao tiếp” về sau được C.Mác gọi là “Quan hệ sản xuất”) TheoPh.Ăngghen, “mâu thuẫn giữa sản xuất xã hội và sự chiếm hữu tư bản chủ nghĩabiểu hiện ra thành sự đối kháng giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản” VớiV.I.Lênin, “tính chất biện chứng của sự phát triển xã hội, diễn ra trong mâu thuẫn

và thông qua các mâu thuẫn”

Cần lưu ý rằng, đối với mỗi con người, trạng thái đối lập, mâu thuẫn vớichính mình, với những người xung quanh và với xã hội (loại trừ trường hợp mâu

Trang 7

thuẫn lôgíc) là trạng thái tự nhiên, vốn có, vận động theo các bước, các trình độ đốilập khác nhau đi từ đồng nhất, khác biệt đến mâu thuẫn hoặc xung đột Những mâuthuẫn biện chứng ấy đóng vai trò là nguồn gốc và động lực để thúc đẩy phát triểncon người, hình thành và phát triển nhân cách cá nhân Con người mẫu thuẫn vớichính mình, đó không phải là một căn bệnh - đối lập càng gay gắt, động lực pháttriển càng mạnh.

1.3 Về vai trò động lực của mâu thuẫn trong sự vận động và phát triển

Mặc dù các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin không nói mâu thuẫn làđộng lực của phát triển, nhưng từ tinh thần của lý thuyết C.Mác, cũng một phần là

từ tư tưởng coi mâu thuẫn là xung lực (Импульс) của Hêghen, mà các nhà triết họcmácxít hậu thế đều coi mâu thuẫn là động lực của sự vận động và phát triển của thếgiới nói chung, đặc biệt của sự vận động và phát triển xã hội Nội dung này của lýluận mâu thuẫn đã gây tranh cãi không có hồi kết suốt từ cuối những năm 70 thế kỷ

XX đến nay Đều thừa nhận mâu thuẫn là động lực của phát triển, nhưng ở mỗi tácgiả, cách giải thích và chi tiết biện luận thì luôn có sự khác nhau Ngay trong các tàiliệu giáo khoa việc lý giải cũng không thống nhất

Một số tác giả cho rằng, mâu thuẫn tự nó không phải động lực của sự pháttriển, việc con người can thiệp vào mâu thuẫn, tìm cách giải quyết nó mới là cái có

ý nghĩa thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển Mâu thuẫn nói chung chỉ là nguồn gốccủa sự phát triển, vì nó giải thích nguyên nhân tận gốc của sự vận động Còn độnglực của sự phát triển chỉ có thể là việc giải quyết mâu thuẫn

Khi mâu thuẫn vận động đến một giai đoạn nhất định, xung lực của các mặtđối lập đạt đến trình độ “chín muồi”, lúc đó mâu thuẫn mới có đủ điều kiện để đượcgiải quyết Giải quyết mâu thuẫn, thậm chí giải quyết mâu thuẫn theo đúng tinh thầncủa quy luật, nghĩa là được giải quyết kịp thời, triệt để, không khoan nhượng, mặttích cực, đại diện cho sự tiến bộ thắng thế khi đó mâu thuẫn mới đóng vai trò lànguồn gốc của sự phát triển Không được giải quyết kịp thời, hay giải quyết mâuthuẫn để cho mặt tiêu cực thắng thế, mâu thuẫn sẽ gây thêm những hậu quả và hệlụy cho sự vận động và phát triển của sự vật

Trang 8

Một vài tác giả khác nữa coi mâu thuẫn có vai trò động lực của sự phát triểnchỉ ở một trong những mặt, những khâu, những giai đoạn, những yếu tố đại diệncho cái mới, cái tiến bộ của sự đấu tranh của các mặt đối lập Chẳng hạn, động lựccủa sự phát triển chỉ thuộc về một trong hai mặt đối lập, hoặc chỉ ở giai đoạn mâuthuẫn chưa chín muồi, hoặc chỉ ở sự đấu tranh, chứ không phải ở sự thống nhất củacác mặt đối lập

Mặc dù việc nhận thức các mâu thuẫn biện chứng đòi hỏi phải nhận thứcđược quá trình và phương thức chúng vận động và được giải quyết như thế nào, tuynhiên, chúng tôi không muốn trình bày kỹ hơn những ý kiến vừa nêu, vì thật khóbiết đúng sai Hơn thế nữa, theo chúng tôi, với một học thuyết triết học phổ quátnhư học thuyết mâu thuẫn, đến Hêghen còn bị phê phán suốt gần 200 năm qua, thìviệc chia nhỏ các công đoạn, các nội dung, các yếu tố của mâu thuẫn để xem xétvai trò của chúng, chưa chắc đã phải là cách tư duy hợp lý

Bởi vậy, có thể tạm chấp nhận ý kiến của số đông các nhà triết học hậu thếrằng, mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực của sự phát triển ở tất cả các khâu, các mặt,các giai đoạn và các phương diện của nó - thống nhất, đấu tranh và giải quyết vớitính cách là những quá trình diễn ra từ khi mâu thuẫn được hình thành đến khi bịthủ tiêu để cái mới xuất hiện Nếu thừa nhận động lực là cái có ý nghĩa kích thích,thúc đẩy, đóng vai trò là xung lực của sự vận động[18], thì khó có thể phủ nhận vaitrò của các nhân tố, các mặt trong giai đoạn mâu thuẫn chưa đạt tới trình độ chínmuồi Hơn thế nữa, nếu coi động lực là cái luôn có sự tham gia của yếu tố tinh thần,

ý chí thì động lực là cái chỉ có ở con người và ở một số loài động vật ít nhiều có tríkhôn khi chủ thể có nhu cầu giải quyết mâu thuẫn Không thể nói đến ý chí giảiquyết mâu thuẫn của bản thân thế giới vật chất ngoài con người

Thời gian trôi đi cho thấy, tham vọng thiết kế thật chi tiết các bước, các thaotác của cơ chế giải quyết mâu thuẫn có thể khiến triết học duy vật biện chứng từ chỗ

là những chỉ dẫn thế giới quan và phương pháp luận lại trở thành một thứ tri thứccứng nhắc, máy móc trong hoạt động thực tiễn

Trang 9

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ ẢNH

HƯỞNG ĐẾN BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 2.1 Thực trạng Kinh tế và Môi trường Việt Nam

2.1.1 Thực trạng phát triển Kinh tế Việt Nam

Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam thời gian qua

- Về tốc độ tăng trưởng: Một trong những thành tựu kinh tế nổi bật của ViệtNam kể từ khi thực hiện “Đổi mới” đến nay là tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao.Quy mô nền kinh tế Việt Nam luôn duy trì mức tăng cao, năm 2019 đạt 258,7 tỷUSD Bình quân giai đoạn 2011-2015 đạt 5,9%/năm; giai đoạn 2016-2020 đạt 6%;tính chung 10 năm (2011-2020) đạt 5,95%/năm, tỷ lệ này đưa Việt Nam vào nhómcác quốc gia có tăng trưởng cao trong khu vực và thế giới Đặc biệt, do ảnh hưởngđại dịch Covid-19, các quốc gia trên thế giới đều sụt giảm nghiêm trọng tăng trưởngGDP, thậm chí tăng trưởng âm ở những quốc gia Top đầu kinh tế, thì tăng trưởngGDP năm 2020 của Việt Nam vẫn đạt 2,91% được xếp vào Top cao nhất thế giới.Nếu Chính phủ kiểm soát tốt được dịch bệnh Covid- 19, khả năng tăng trưởng GDPtrong năm 2021 và các năm tiếp theo sẽ phục hồi nhanh hơn

- Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Giai đoạn từ 2011- 2019, tỷ trọng ngànhDịch vụ đã chiếm vị trí đứng đầu trong GDP, ngành công nghiệp đã không còn cótầm quan trọng như giai đoạn trước kia Sự chuyển dịch này cho thấy, chuyển dịch

cơ cấu kinh tế Việt Nam đang đi đúng hướng và hiệu quả hơn bởi chỉ có côngnghiệp và dịch vụ mới đem lại giá trị gia tăng lớn và hiệu quả cho nền kinh tế ViệtNam phát triển bền vững Thực tế, các nước có nền kinh tế phát triển trên thế giớithường có ngành Dịch vụ chiếm tỷ trọng cao trong GDP Tuy nhiên, tốc độ chuyểndịch cơ cấu ngành kinh tế của Việt Nam so với dịch chuyển cơ cấu kinh tế của cácnước phát triển vẫn còn khoảng cách lớn Đối với các nước đang phát triển trongkhu vực, tỷ trọng ngành Dịch vụ trong GDP của Việt Nam là tương đương; tuynhiên, tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP vẫn cao hơn khoảng trên dưới 10%

Kết quả chuyển dịch cơ cấu lao động tỷ lệ thuận với chuyển dịch cơ cấu sảnlượng trong GDP Đó là lực lượng lao động trong nền kinh tế Việt Nam đangchuyển dần từ nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ Tiến trình chuyển

Trang 10

đổi cơ cấu lao động trên đây là một bước tiến bộ trong phân bổ nguồn lực lao động

xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đặc biệt, sự phát triển mạnh mẽcủa các ngành công nghiệp, xây dựng, mở rộng và phát triển dịch vụ, đa dạng hoángành nghề trong nông lâm, thuỷ sản đã tạo thêm nhiều vị trí việc làm mới và tăngthêm thu nhập cho người lao động

- Về thu nhập của người dân và xóa đói giảm nghèo: Cùng với tăng trưởngGDP, tốc độ tăng GDP bình quân đầu người cũng có xu hướng tăng Nếu như giaiđoạn 2010-2014, GDP bình quân đầu người chỉ tăng trung bình 4,93%/năm, thìtrong 3 năm (2016-2019), GDP bình quân đầu người đã tăng trung bình 5,6%, caohơn mức tăng 4-4,5% đặt ra cho cả thời kỳ 2016- 2030 Nhờ đó, thu nhập bình quânđầu người năm 2019 đạt 2717 USD, tăng 619 USD so với năm Về xóa đói, giảmnghèo, năm 2006, Việt Nam đã tuyên bố hoàn thành Mục tiêu phát triển thiên niên

kỷ về xóa bỏ tình trạng nghèo đói cùng cực và thiếu đói, về đích trước 10 năm sovới thời hạn (năm 2015)

- Về tạo việc làm: Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức có xu hướnggiảm dần trong những năm gần đây, từ mức gần 59% năm 2014 xuống còn khoảng55% lực lượng lao động vào năm 2019 Đặc điểm của lực lượng lao động phi chínhthức thường là không có hợp đồng, không được đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y

tế, hay hưởng lương cố định và do vậy pháp luật hiện hành vẫn chưa quy định cụthể, điều chỉnh nhóm này Nhìn chung, ước tính mỗi năm Việt Nam có khoảng gần

1 triệu người bước vào độ tuổi lao động, đây là một lợi thế cạnh tranh quan trọngtrong việc thu hút đầu tư nước ngoài, góp phần phát triển kinh tế-xã hội Lực lượnglao động ở nước ta chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn, chiếm khoảng gần 70%.Con số này có xu hướng giảm qua các năm nhưng vẫn ở mức cao Cả nước hiện cókhoảng 17 triệu thanh niên nông thôn có độ tuổi từ 15-30, chiếm 70% số thanh niên

và 60% lao động nông thôn Tuy nhiên, với 80% trong số này chưa qua đào tạochuyên môn, đang trở thành trở ngại lớn cho lao động nông thôn trong tìm kiếmviệc làm

- Về năng suất lao động: Theo Tổng cục Thống kê, năng suất lao động toànnền kinh tế theo giá hiện hành năm 2017 ước đạt 93,2 triệu đồng/lao động (tương

Trang 11

đương 4.166 USD/lao động) Tính theo giá so sánh năm 2010, năng suất lao độngtoàn nền kinh tế năm 2017 tăng 6% so với năm 2016, bình quân giai đoạn 2011-

2017 tăng 4,7%/năm Năng suất lao động của Việt Nam thời gian qua có sự cảithiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm, là quốc gia có tốc độ tăng năngsuất lao động cao trong khu vực ASEAN Tính chung giai đoạn 2007-2017, năngsuất lao động theo sức mua tương đương năm 2011 của Việt Nam tăng trung bình4,2%/năm, cao hơn so với mức tăng bình quân của Singapore (1,5%/năm); Malaysia(1,9%/năm); Thái Lan (2,5%/năm) Tuy nhiên, năng suất lao động của Việt Namhiện nay vẫn rất thấp so với các nước trong khu vực Đáng chú ý là khoảng cáchchênh lệch về năng suất lao động giữa Việt Nam với các nước vẫn gia tăng Điềunày cho thấy, khoảng cách và thách thức nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt trongviệc bắt kịp mức năng suất lao động của các nước

Một số hạn chế và nguyên nhân cản trở phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam

Bên cạnh những kết quả khích lệ trong phát triển kinh tế bền vững, kinh tếViệt Nam vẫn tồn tại những hạn chế, yếu kém như: Tốc độ tăng trưởng kinh tế chưađạt mục tiêu đề ra; cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng cònchậm; khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong một số lĩnh vực còn chưađược phát huy, trình độ khoa học, công nghệ quốc gia nhìn chung còn khoảng cách

so với nhóm đầu khu vực; việc thực hiện các đột phá chiến lược về thể chế, nguồnnhân lực và hạ tầng còn chậm; khoảng cách phát triển chênh lệch thu nhập giữa cácvùng có xu hướng gia tăng, chậm thu hẹp

Bên cạnh đó, một số rào cản phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam thể hiện

ở một số khía cạnh như sau:

Thứ nhất, quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng chưa đạt được tiến bộmạnh mẽ trong lĩnh vực hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường Môi trường kinhdoanh được cải thiện chủ yếu về điều kiện gia nhập thị trường Hệ sinh thái hỗ trợ,nuôi dưỡng doanh nghiệp phát triển, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân, chưa cónhiều tiến bộ Những bất cập thể chế về đất đai, quyền tài sản bao gồm giao dịchđảm bảo, xử lý tài sản thế chấp, thủ tục phá sản vẫn chậm được giải quyết, trởthành trở ngại lớn cản trở lực lượng sản xuất phát triển

Ngày đăng: 21/01/2023, 12:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w