MỤC LỤC MỤC LỤC i PHẦN I LỜI MỞ ĐẦU 1 1 Lý do chọn đề tài 1 2 Mục đích nghiên cứu 1 3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2 4 Kết cấu cấu đề tài 2 PHẦN II NỘI DUNG 3 CHƯƠNG I LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ BIỆN C.MỤC LỤCMỤC LỤCiPHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU11.Lý do chọn đề tài12.Mục đích nghiên cứu13.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu24.Kết cấu cấu đề tài2PHẦN II: NỘI DUNG3CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG CỦA CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN – KẾT QUẢ31.Lý luận về nguyên nhân – kết quả31.1. Định nghĩa nguyên nhân, kết quả31.2. Phân biệt nguyên nhân với nguyên cớ và điều kiện31.3. Tính chất của mối liên hệ nhân quả32. Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả42.1. Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả42.2. Sự tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân42.3. Nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi vị trí cho nhau43. Ý nghĩa phương pháp luận4CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY52.1. Điểm mạnh52.2. Mặt hạn chế72.3. Nguyên nhân9CHƯƠNG III: VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ TRONG QUÁ TRÌNH HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY103.1. Xác định phương pháp tiếp thu trong mối quan hệ phương pháp dạy học l103.2. Tự tìm kiếm và vận dụng phương pháp tự học phù hợp ở từng sinh viên11PHẦN III: KẾT LUẬN13 A. LỜI MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tài Trong quá trình học tập và tìm hiểu, chúng em nhận thấy một trong những quan điểm đúng đắn mà chủ nghĩa Mác Leenin đưa ra phải kể đến mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả. Trong quá trình vận động của thế giới vật chất nói chung, môi liên hệ giữa nguyên nhân và kết quả là mối liên hệ có tính khách quan nhất, phổ biến nhất. Bởi trong mọi sự vận động biến đổi nào của thế giới vật chất suy cho cùng cũng đều là mối liên hệ nhân quả, như Lô mô nô xốp đã từng khẳng định bằng quy luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng: “ Năng lượng không tự nhiên sinh ra, cũng không tự nhiên mất đi, nó chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác…” Do đó có thể nói, mối liên hệ nhân quả là mối liên hệ tự nhiên đầu tiên được phản ánh vào đầu óc con người. Chính vì vậy, nhiệm vụ của nhận thức khoa học là phải tìm ra nguyên nhân của những hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy để giải thích được các hiện tượng đó.Đất nước ta đang trong quá trình chuyển sang kinh tế phát triển, chúng ta đang từng bước đổi mới, nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Tuy nhiên vào những năm gần đây, thất nghiệp đang là một vấn đề nhức nhối và được nhiều người quan tâm khi mà hàng năm có đến 63% sinh viên ra trường chưa đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng khiến tỉ lệ thất nghiệp quý II năm 2020 vẫn đạt mức 6.98%. Vì vậy sao một thời gian tìm hiểu về mối quan hệ nguyên nhân – kết quả cũng như tình trạng học tập của sinh viên hiện nay, tôi đã chọn đề tài “Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả trong quá trình học tập của sinh viên hiện nay” làm đề tài tiểu luận để có cái nhìn sâu và rộng hơn về đề tài nghiên cứu này.2.Mục đích nghiên cứu+ Nghiên cứu lý luận về mối quan hệ biện chứng nguyên nhân kết quả.+ Tìm hiểu tình hình học tập của sinh viên hiện nay.+ Đưa ra nguyên nhân, phương hướng giải quyết.3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứuBài tiểu luận tập chung nghiên cứu về các khái niệm cũng như lý luận về các vấn đề liên quan đến mối quan hệ biện chứng nguyên nhân kết quả. Vận dụng của Đảng và nhà nước trong thế kỷ XXI.Phạm vi nghiên cứu: Tại trường đại học Bách Khoa Hà Nội4.Kết cấu cấu đề tàiĐề tài gồm những nội dung chính như sau: NỘI DUNGChương I: Lý Luận Về Mối Quan Hệ Biện Chứng Của Cặp Phạm Trù Nguyên Nhân – Kết QuảChương II: Thực Trạng Quá Trình Học Tập Của Sinh Viên Hiện NayChương III: Vận Dụng Mối Quan Hệ Biện Chứng Nguyên Nhân Và Kết Quả Trong Quá Trình Học Tập Của Sinh Viên Hiện Nay B. NỘI DUNGCHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG CỦA CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN – KẾT QUẢ1.Lý luận về nguyên nhân – kết quả 1.1. Định nghĩa nguyên nhân, kết quả Phạm trù nguyên nhân dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng, hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau, từ đó tạo ra sự biến đổi nhất định. Phạm trù kết quả dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động giữa các mặt các yếu tố trong một sự vật, hiện tượng, hoặc giữa các sự vật, hiện tượng.1.2. Phân biệt nguyên nhân với nguyên cớ và điều kiện Nguyên cớ là những sự vật, hiện tượng xuất hiện đồng thời cùng nguyên nhân nhưng chỉ có quan hệ bề ngoài, ngẫu nhiên chứ không sinh ra kết quả. Điều kiện là hiện tượng cần thiết để nguyên nhân phát huy tác động, trên cơ sở đó gây ra một biến đổi nhất định.1.3. Tính chất của mối liên hệ nhân quả Phép biện chứng duy vật khẳng định mối liên hệ nhân quả có tính khách quan, tính phổ biến, tính tất yếu. Tính khách quan thể hiện ở chỗ: mối liên hệ nhân quả là cái vốn có của bản thân sự vật, không phụ thuộc vào ý thức con người. Tính phổ biến thể hiện ở chỗ: mọi sựvật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội đều có nguyên nhân nhất định sinh ra. Tính tất yếu thể hiện ở chỗ: cùng một nguyên nhân nhất định, trong những điều kiện giống nhau sẽ gây ra kết quả nhưnhau.
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC i
PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Kết cấu cấu đề tài 2
PHẦN II: NỘI DUNG 3
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG CỦA CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN – KẾT QUẢ 3
1 Lý luận về nguyên nhân – kết quả 3
1.1 Định nghĩa nguyên nhân, kết quả 3
1.2 Phân biệt nguyên nhân với nguyên cớ và điều kiện 3
1.3 Tính chất của mối liên hệ nhân quả 3
2 Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả 4
2.1 Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả 4
2.2 Sự tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân 4
2.3 Nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi vị trí cho nhau 4
3 Ý nghĩa phương pháp luận 4
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY 5
2.1 Điểm mạnh 5
2.2 Mặt hạn chế 7
2.3 Nguyên nhân 9
Trang 2CHƯƠNG III: VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ TRONG QUÁ TRÌNH HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY 10
3.1 Xác định phương pháp tiếp thu trong mối quan hệ phương pháp dạy học l 10 3.2 Tự tìm kiếm và vận dụng phương pháp tự học phù hợp ở từng sinh viên 11
PHẦN III: KẾT LUẬN 13
Trang 3A LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình học tập và tìm hiểu, chúng em nhận thấy một trong những quan điểm đúng đắn mà chủ nghĩa Mác Leenin đưa ra phải kể đến mối quan
hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả Trong quá trình vận động của thế giới vật chất nói chung, môi liên hệ giữa nguyên nhân và kết quả là mối liên
hệ có tính khách quan nhất, phổ biến nhất Bởi trong mọi sự vận động biến đổi nào của thế giới vật chất suy cho cùng cũng đều là mối liên hệ nhân quả, như Lô mô nô xốp đã từng khẳng định bằng quy luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng: “ Năng lượng không tự nhiên sinh ra, cũng không tự nhiên mất
đi, nó chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác…” Do đó có thể nói, mối liên hệ nhân quả là mối liên hệ tự nhiên đầu tiên được phản ánh vào đầu óc con người Chính vì vậy, nhiệm vụ của nhận thức khoa học là phải tìm ra nguyên nhân của những hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy để giải thích được các hiện tượng đó
Đất nước ta đang trong quá trình chuyển sang kinh tế phát triển, chúng ta đang từng bước đổi mới, nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân Tuy nhiên vào những năm gần đây, thất nghiệp đang là một vấn đề nhức nhối và được nhiều người quan tâm khi mà hàng năm có đến 63% sinh viên ra trường chưa đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng khiến tỉ lệ thất nghiệp quý II năm 2020 vẫn đạt mức 6.98% Vì vậy sao một thời gian tìm hiểu về mối quan
hệ nguyên nhân – kết quả cũng như tình trạng học tập của sinh viên hiện nay,
tôi đã chọn đề tài “Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân
và kết quả trong quá trình học tập của sinh viên hiện nay” làm đề tài tiểu
luận để có cái nhìn sâu và rộng hơn về đề tài nghiên cứu này
2 Mục đích nghiên cứu
+ Nghiên cứu lý luận về mối quan hệ biện chứng nguyên nhân kết quả
Trang 4+ Tìm hiểu tình hình học tập của sinh viên hiện nay.
+ Đưa ra nguyên nhân, phương hướng giải quyết
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Bài tiểu luận tập chung nghiên cứu về các khái niệm cũng như lý luận
về các vấn đề liên quan đến mối quan hệ biện chứng nguyên nhân kết quả Vận dụng của Đảng và nhà nước trong thế kỷ XXI
Phạm vi nghiên cứu: Tại trường đại học Bách Khoa Hà Nội
4 Kết cấu cấu đề tài
Đề tài gồm những nội dung chính như sau:
NỘI DUNG
Chương I: Lý Luận Về Mối Quan Hệ Biện Chứng Của Cặp Phạm Trù Nguyên Nhân – Kết Quả
Chương II: Thực Trạng Quá Trình Học Tập Của Sinh Viên Hiện Nay Chương III: Vận Dụng Mối Quan Hệ Biện Chứng Nguyên Nhân Và Kết Quả Trong Quá Trình Học Tập Của Sinh Viên Hiện Nay
Trang 5B NỘI DUNG CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG CỦA
CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN – KẾT QUẢ
1 Lý luận về nguyên nhân – kết quả
1.1 Định nghĩa nguyên nhân, kết quả
Phạm trù nguyên nhân dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng, hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau, từ đó tạo ra
sự biến đổi nhất định
Phạm trù kết quả dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động giữa các mặt các yếu tố trong một sự vật, hiện tượng, hoặc giữa các sự vật, hiện tượng
1.2 Phân biệt nguyên nhân với nguyên cớ và điều kiện
Nguyên cớ là những sự vật, hiện tượng xuất hiện đồng thời cùng nguyên nhân nhưng chỉ có quan hệ bề ngoài, ngẫu nhiên chứ không sinh ra kết quả Điều kiện là hiện tượng cần thiết để nguyên nhân phát huy tác động, trên cơ
sở đó gây ra một biến đổi nhất định
1.3 Tính chất của mối liên hệ nhân quả
Phép biện chứng duy vật khẳng định mối liên hệ nhân quả có tính khách quan, tính phổ biến, tính tất yếu
Tính khách quan thể hiện ở chỗ: mối liên hệ nhân quả là cái vốn có của bản thân sự vật, không phụ thuộc vào ý thức con người
Tính phổ biến thể hiện ở chỗ: mọi sựvật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội đều có nguyên nhân nhất định sinh ra
Tính tất yếu thể hiện ở chỗ: cùng một nguyên nhân nhất định, trong những điều kiện giống nhau sẽ gây ra kết quả nhưnhau
Trang 62 Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
2.1 Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả
Nguyên nhân luôn luôn có trước kết quả, còn kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau khi nguyên nhân đã xuất hiện Tuy nhiên, chỉ những mối liên hệ có tính sản sinh ra nhau thì mới là liên hệ nhân quả
Trong thực tiễn thì mối liên hệ nhân quả biểu hiện hết sức phức tạp, bởi nó còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện hoàn cảnh khác nhau Một nguyên nhân có thể sinh ra một hoặc nhiều kết quả Mặt khác, một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra Nếu các nguyên nhân tác động cùng chiều thì sẽ đẩy nhanh sự hình thành kết quả Ngược lại, nếu những nguyên nhân tác động theo các hướng khác nhau, thì sẽ cản trở hoặc triệt tiêu sự hình thành kết quả
2.2 Sự tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân
Kết quả là do nguyên nhân sinh ra nhưng sau khi xuất hiện, kết quả lại có ảnh hưởng trở lại đối với nguyên nhânđã sinh ra nó Sự ảnh hưởng có thể diễn
ra theo hai hướng: thúc đẩy sự hoạtđộng của nguyên nhân (hướng tích cực) hoặc cản trở sự hoạt động của nguyên nhân (hướng tiêu cực)
2.3 Nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi vị trí cho nhau
Cái trong quan hệ này là nguyên nhân nhưng vẫn là nó trong quan hệ khác lại đóng vai trò là kết quả Vì vậy, mối liên hệnhân quả chỉ có ý nghĩa khi đặt
nó trong những trường hợp cụ thể Trong sựchuyển hóa vô tận của các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất thì liên hệ nhân quả là một chuỗi vô tận, chúng xoắn xuýt lẫn nhau không có điểm đầu tiên, không có điểm cuối cùng
3 Ý nghĩa phương pháp luận
Trong nhận thức và thực tiễn cần tôn trọng tính khách quan, tất yếu của mối liên hệ nhân quả Muốn cho hiện tượng nào đó xuất hiện cần tạo điều kiện cho nguyên nhân phát huy tác dụng Ngược lại, muốn cho hiện tượng nào đó mất đi thì phải làm mất nguyên nhân tồn tại của nó
Trang 7Phải biết xác định đúng nguyên nhân để giải quyết vấn đề nảy sinh vì các nguyên nhân có vai trò không như nhau Nguyên nhân có thể tác động trở lại kết quả đó, trong hoạt động thực tiễn cần khai thác tận dụng những kết quả đã đạt được để thúc đẩy nguyên nhân tác động theo hướng tích cực
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH HỌC TẬP CỦA
SINH VIÊN HIỆN NAY 2.1 Điểm mạnh
Những thành tựu mà sinh viên đã đạt được.
Trước hết, chúng ta có thể khẳng định thanh niên sinh viên hiện nay rất năng động, nhạy bén với cuộc sống và công việc, bên cạnh đó họ tiếp thu được nhiều phẩm chất tốt đẹp: chăm chỉ, kiên chì và nỗ lực Chúng ta rút ra được những kết luận ấy khi chứng kiến lớp thanh niên đã đạt đạt được những thành tựu cùng với sự đổi mới của đất nước Nếu như trước đây chúng ta chỉ thấy những sinh viên học hành cần cù luôn cắm đầu vào đọc sách, dù mài kinh sử để sau khi tốt nghiệp lấy được bằng cử nhân được Nhà nước phân công đi công tác mà một số người đã quên hết cả xung quanh Nếu chúng ta cũng chỉ thấy một lớp thanh niên ở nông thôn chưa đầy hai mươi đã lập gia đình suốt ngày phơi lưng ra đồng, quần quật vất vả thì giờ đây chúng ta thấy một giới sôi động đầy màu sắc của thanh niên, sinh viên, họ chỉ chăm chú học tập mà còn biết vận dụng những kiến thức được học vào cuộc sống Tham gia các hoạt động xã hội, xông sáo và nhạy bén “họ có nhiều điều kiện để phát chuyển khả năng sáng tạo, do có đầy đủ thông tin, cuộc sống chắt lược tốt hơn, và chủ động hơn trong việc lựa chọn nghề nghiệp tốt cả những cái đó làm họ năng động hơn” Giáo sư Bạch Hưng Khang, Viện trưởng viện công nghệ thông tin đã nói vậy trên báo Hoa Học Trò : ‘số đông đều có kiến thức sâu rộng về nhiều mặt, ham hiểu tìm tòi, chiếm lĩnh những lĩnh vực mới lạ’ phát biểu NSND Chu Thúy Quỳnh trên báo hoa học trò Vì thế những
Trang 8huychương vàng, huy chương bạc quốc tế các môn văn hoá cũng như thể thao đều lọt vào tay đội tuyển Việt Nam Chúng ta không thể quên các thế hệ học sinh sinh viên đạt giải quốc tế các môn : Toán, Vật lý, hoá học… mà gần đây nhất là gương mặt đội tuyển toán Việt Nam với năm huy chương bạc, một huy chương vàng đã làm dạng danh trí tuệ Việt Nam
Thanh niên Việt Nam du học ngày càng nhiều ở rất nhiều nước trên thế giới đã mang về cho đất nước những tiến sĩ trẻ nắm vững kiến thức chuyên ngành đảm nhiệm phát chuyển những ngành mũi nhọn nhằm đẩy mạnh sự phát chuyển kinh tế, khoa học, kỹ thuật
Sinh viên Việt Nam năng động và chịu khó
Đối với sinh viên hiện nay, rất nhiều người vừa đi học vừa đi làm là rất phổ biến, điều đó chứng tỏ thanh niên Việt Nam rất cần cù, chịu khó và đặc biệt là họ có thể tự lập sinh viên làm việc ở khắp mọi nơi làm đủ mọi nghề lương thiện giúp họ tự chu cấp tiền học hành và cuộc sống bản thân, nổi bật nhất là sinh viên từ nông thôn ra thành thị những công việc họ làm có thể là gia sư, tiếp thị… đã chứng tỏ sinh viên ngày nay đã nhận thức “lao động là vinh quang” Ngoài ra trước đây thanh niên, sinh viên ra trường được Nhà nước xếp việc làm thì ngày nay, sinh viên ra trường phải tự tìm việc, điều này
có nhiều thuận lợi vì họ có cơ hội lựa chọn được công việc phù hợp, rất nhiều sinh viên ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường đã được nhiều Công ty đến mời đi làm việc Hiện nay cứ mỗi dịp mùa hè đến có những phong chào “ánh sáng văn hoá hè” và “thanh niên tình nguyện” tham gia lao động bảo vệ môi trường, đến các vùng xa xôi, hẻo lánh đem lại ánh sáng văn minh cho những trẻ em nghèo đói và cho cả lớp thanh niên nông thôn Điều đó thể hiện sự kế tiếp đùm bọc của thanh niên ngày nay
Hiện tượng bao hàm bản chất, hiện tượng không thoát thi khỏi bản chất
và do đó tất cả các hiện tượng nêu trên phản ánh bản chất của thanh niên sinh
Trang 9viên hiện nay là sự kết hợp những phẩm chất truyền thống và những đức tính hiện đại
2.2 Mặt hạn chế
Sinh viên ta mắc “bệnh” thụ động trong học tập, sinh viên không chịu tìm tòi sách, tài liệu phụ lục cho chuyên môn của mình, mặc dù trong phương pháp giảng dạy đại học nhiều thầy cô lên lớp chỉ hướng dẫn và đưa ra những
tư liệu đầu sách cần thiết cho sinh viên tìm kiếm tham khảo
Phần lớn sinh viên Việt Nam thiếu khả năng sáng tạo Một kết quả nghiên cứu gần đây về tính sáng tạo của sinh viên ở một trường đại học lớn của Việt Nam cho biết trong một mẫu điều tra khá lớn gồm hàng ngàn sinh viên, chỉ có khoảng 20% sinh viên đạt hoặc vượt mức sáng tạo trung bình của
tụ giới Như vậy có tới 80% sinh viên có tính sáng tạo thấp hơn mức trung bình Đây là một thông tin sét đánh, buộc các nhà giáo dục học phải nghiêm túc xem lại phương pháp, chương trình, cách tổ chức dạy và học trong các trường đại học của Việt Nam
“Lười đọc…” là lời tự thú của nhiều sinh viên thời hiện đại Khảo sát ngẫu nhiên một số sinh viên các trường đại học, cao đẳng về việc đọc sách báo của họ, số đồng đều ngắc ngứ rằng “có đọc” nhưng chỉ đọc một số cuốn theo phong trào và chỉ xem sách chuyên ngành khi bị thúc bách về mặt bài
vở, có sinh viên sắp ra trường vẫn chưa một lần ghé thăm thư viện Một số đông sinh viên ít đọc có nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan nhưng nói chung họ rất thụ động trong việc học Thụ động bởi sinh viên chỉ đọc giảng viên yêu cầu thuyết trình một đề tài, viết một bài tiểu luận hoặc khi được khuyến khích bởi một người khác về một cuốn sách hay nào đó, tức chỉ khi bị áp chế hoặc được truyền cho niềm tin thì họ mới đổ xô đi học
Có quá nhiều sinh viên vừa học, vừa chơi và cũng có quá nhiều sinh viên quên mọi thứ trên đời để học Cả hai kiểu học như thế đều mang lại
Trang 10những kết quả tiêu cực khác nhau Một bên là sự hụt hẵng về kiến thức, thường xuyên đối mặt với nguy cơ bị đuổi học còn bên kia lại là sự mệt mỏi, căng thẳng, những lo âu chồng chất trong những năm học đại học khiến sức khỏe bị suy sụp, lạc lõng với những diễn biến xung quanh xã hội, lạ lẫm với những điều đang tác động đến cuộc sống hàng ngày…
Đa phần sinh viên mới chỉ học theo kiểu “học vẹt” thiếu tính thực tiễn Nhìn vào hiện trạng của các “sản phẩm” của nền giáo dục cao đẳng - đại học hiện nay có thể thấy rằng, hình như xã hội “không mê” các sản phẩm này Sở
dĩ có thể nói như vậy bởi vì qua một cuộc thống kê nho nhỏ về trình độ của những người tìm việc làm ở một tờ báo thành phố Hồ Chí Minh trong 3/2003 thấy được những con số quá giật mình về trình độ học vấn của những ứng viên tìm việc Cụ thể là trong tổng 115 ứng viên tìm việc, có đến 62 người có trình độ Đại học tức chiếm 54%; có 24 người trình độ cao đẳng, tức 21% và
số người có trình độ trung cấp là 29 người chiếm 25%
Thế nhưng những con số đó muốn nói với chúng ta điều gì? Đó là sản phẩm của nền giáo dục “khoa cử” Tại sao có nhiều người có trình độ Đại học – Cao đẳng phải đi tìm việc như thế: Theo lẽ thường tình người ta hay nghĩ rằng, có học vấn càng cao càng có nhiều cơ hội có việc làm, thế nhưng nay câu chuyện hoàn toàn ngược lại: học vấn càng cao càng phải đi tìm việc nhiều, càng thất nghiệp Tại sao vậy
Có nhiều lý do nhưng có một lý do đó là chất lượng của các lao động
có trình độ đại học chưa đáp ứng được các nhu cầu của nền sản xuất kinh tế công nghiệp tiên tiến Hiện nay, bởi họ chỉ là sản phẩm của nền giáo dục
“khoa cử rất mạnh về học để thi nhưng kém về “học để làm” và “học để sáng tạo” Do đó mà từ lâu các “sản phẩm” của nền giáo dục đại học của ta đã thường xuyên bị kêu ca là không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn
Trang 11Xét về trình độ thực tế của sinh viên tốt nghiệp thì quả là còn yếu kém, một số ngành rất yếu Về kiến thức, kỹ năng thực hành, tính chủ động sáng tạo, về khả năng diễn đạt bằng nói hay viết sinh viên ta đều kém, tuy cá biệt
có những người rất xuất sắc, nhưng số này không nhiều cũng chẳng có gì lạ,
vì nhiều nơi coi đại học là “học đại”
2.3 Nguyên nhân
Cũng như tình hình phức tạp của thực trạng, nguyên nhân cũng xuất phát từ nhiều phía
Nguyên nhân sâu xa và trước hết là SV chưa xây dựng được hình ảnh
về mình với tư cách là một kĩ sư, hoặc thầy giáo với những kiến thức, kĩ năng cần thiết ở tương lai Để làm được điều này, có lẽ trước hết SV cần xác định cho mình một mục tiếu phấn đấu: mình phải là một kĩ sư, hay GV có năng lực chuyên môn ở một cơ quan, trường học, hay một xí nghiệp nào đó trong tương lai Muốn vậy ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, mình phải học tập và trau dồi kiến thức, kĩ năng tốt nhất thông qua nhiều con đường: lên lớp đầy đủ, tự học, tự nghiên cứu, học nhóm
Thực tế cho thấy, hầu hết SV chưa biết khái niệm “tự học” Cụ thể, SV chưa biết tự học cái gì, làm gì trong thời gian tự học, cũng như chưa biết lợi ích của việc tự học là gì SV chưa nhận thức được rằng kiến thức của môn học
là vô hạn, mà thời gian trên lớp là hữu hạn Dù có bao nhiêu thời gian trên lớp cũng không đủ để GV có thể khai thác hết kiến thức của môn học; do vậy tự học là một phương pháp tối ưu để có thể đi tới chân trời khoa học
Tự học là một phương pháp học tập còn khá mới đối với SV, đặc biệt là các khoá mới SV chưa được chuẩn bị một tâm thế, một phương pháp học tập mới Quen với cách học truyền thống ở phổ thông - GV cung câp kiến thức,
SV tiếp nhận thụ động, một chiều – SV chưa biết mình phải học gì, làm gì để đạt được kiến thức, kĩ năng cần thiết