1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức và thực tiễn và sự vận dụng quan điểm thực tiễn trong quá trình tự học của sinh viên hiện nay

22 20 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Nhận Thức Và Thực Tiễn Và Sự Vận Dụng Quan Điểm Thực Tiễn Trong Quá Trình Tự Học Của Sinh Viên Hiện Nay
Trường học Trường Đại học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Hà Nội
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 38,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2 MỤC LỤC PHẦN 1 MỞ ĐẦU 2 1 Lý do chọn đề tài 2 2 Mục đích nghiên cứu 3 3 Phương pháp nghiên cứu 3 4 Giới thiệu nội dung nghiên cứu 3 PHẦN 2 NỘI DUNG 4 CHMỤC LỤCPHẦN 1: MỞ ĐẦU21.Lý do chọn đề tài22.Mục đích nghiên cứu33. Phương pháp nghiên cứu34. Giới thiệu nội dung nghiên cứu3PHẦN 2: NỘI DUNG4CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỖI QUAN HỆ GIỮA NHẬN THỨC VÀ THỰC TIỄN41.1.Lý luận về nhận thức41.1.1.Khái niệm41.1.2.Quá trình nhận thức61.1.3.Cấp độ của quá trình nhận thức81.2. Lý luận về thực tiễn101.2.1. Khái niệm101.2.2. Các hình thức biểu hiện của thực tiễn121.3.Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức13CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM THỰC TIẾN TRONG QUÁ TRÌNH TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY152.1.Thực trạng tự học của sinh viên152.2.Một số biện pháp nâng cao khả năng tự học của sinh viên16PHẦN III: KẾT LUẬN19 PHẦN 1: MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tàiTriết học có vai trò rất to lớn đối với sự phát triển của khoa học cụ thể. Và ngược lại, với mỗi gian đoạn phát triển của khoa học, nhất là khoa học tự nhiên thì triết học cũng có một bước phát triển. Như Ph.Ăngghen đã từng nhận định: “Mỗi khi có những phát minh của khoa học tự nhiên thì chủ nghĩa duy vật cũng thay đổi hình thức”. Do đó, việc nghiên cứu các tư tưởng Triết học không thể tách rời các giai đoạn phát triển của khoa học, nhất là khoa học tự nhiên.Sau hơn 30 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới, với đường lối đổi mới đúng đắn, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, Đảng và nhân dân ta đã giành được những thành tựu to lớn và rất quan trọng: Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; nước ta ngày càng có vị thế cao trên trường quốc tế, có uy tín và niềm tin với bè bạn các nước trên thế giới, tạo thế và lực mới cho sự thành công của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đạt được kết quả đó, chúng ta không thể phủ nhận một phần là do những nhận thức đúng đắn của Đảng và nhà nước. Trên thực tế nghiên cứu khoa học cũng vậy, Nhận thực thức chính xác và toàn diện vấn đề sẽ tạo ra những sản phẩm mang lại lợi ích cho cộng đồng như phát minh ra điện thoại, vô tuyến, máy vi tính. Vấn đề thực tiễn và nhận thức không chỉ là vấn đề lịch sử mà còn là vấn đề hằng ngày giữa mỗi con người với thế giới khách quan. Nhận thức được điều đó, tôi đã lựa chọn đề tài “ Lý luận của triết học mác Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức và thực tiễn và sự vận dụng quan điểm thực tiễn trong quá trình tự học của sinh viên hiện nay” để hiểu rõ hơn về mặt lý luận cũng như thực tế. 2. Mục đích nghiên cứuLàm rõ về mặt lý luận giữa nhận thức và thực tiễn, đồng thời nêu ra mối quan hệ giữa nhận thức và thực tiễn để vận dụng trong quá trình tự học của sinh viên hiện nay.3. Phương pháp nghiên cứu Vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng, Nhà nước và của ngành về vấn đề nhận thức và thực tiễn. Khảo sát thống kê, điều tra xã hội học những số liệu về các đối tượng nghiên cứu về những vấn đề có liên quan đến đề tài. Tiến hành phân tích, tổng hợp, so sánh về các số liệu, các vấn đề có liên quan đến nội dung đề tài.4. Giới thiệu nội dung nghiên cứuNgoài những phần như: Phần mở đầu, Phần kết luận và kiến nghị, Mục lục và Tài liệu tham khảo, đề tài gồm:NỘI DUNG:CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA NHẬN THỨC VÀ THỰC TIỄNCHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG ĐIỂM THỰC TIỄN TRONG QUÁ TRÌNH TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN PHẦN 2: NỘI DUNGCHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỖI QUAN HỆ GIỮA NHẬN THỨC VÀ THỰC TIỄN1.1.Lý luận về nhận thức 1.1.1.Khái niệmChủ nghĩa duy tâm chủ quan: nhận thức chỉ là sự phức hợp những cảm giác của con người. Sở dĩ, có quan điểm như vậy là do những người theo trường phái này đã phủ nhận sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất.Điều đó có nghĩa là:tự bản thân con người bằng cảm nhận của mình mà đưa ra những nhận xét, đánh giá mà không cần tới những quy luật tồn tại khách quan. Đây là quan điểm phiến diện không nhận thấy được mối liên hệ khăng khít giữa nhận thức và thực tiễn, nói cách khác là giữa vật chất và ý thức.Phải thừa nhận rằng nhận thức của con người chính là nhờ thực tiễn phản ánh thông qua ý thức.Chứ không phải chỉ đơn thuần là sự phức hợp những cảm giác. Mọi sự vật, hiện tượng đều phải trải qua quá trình và đều được phản ánh và chịu tác động trực tiếp bởi thực tại khách quan.Chủ nghĩa duy vật: thừa nhận khả năng nhận thức được thế giới của con người và coi nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người.Tuy nhiên, do sự hạn chế bởi tính trực quan, siêu hình, máy móc mà chủ nghĩa duy vật trước Mác đã coi nhận thức là sự phản ánh trực quan, đơn giản, là bản sao chép nguyên xi trạng thái bất động của sự vật.Họ chưa thấy được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.Chính vì vậy mà C.Mác đã nhận xét rằng:”khuyết điểm chủ yếu của toàn bộ chủ nghĩa duy vật từ trước tới nay kể cả chủ nghĩa duy vật của Phơibắc là sự vật, hiện thực, cái cảm giác được, chỉ được nhận thức dưới hình thức khách thể hay hình thức trực quan, chứ không được nhận thức là hoạt động cảm giác của con người, là thực tiễn; không được nhận thức về mặt chủ quan.Như vậy có thể nói, tất cả các trào lưu triết học trước Mác đều quan niệm sai lầm hoặc phiến diện về nhận thức. Những vấn đề lý luận và nhận thức chưa được giải quyết một cách khoa học, đặc biệt chưa thấy được đầy đủ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.Chỉ có Chủ nghĩa duy vật biện chứng mới có câu trả lời cho bản chất của nhận thức.Về bản chất. nhận thức là quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc người trên cơ sở thực tiễn.Có được khái niệm hoàn chỉnh như vậy là do chủ nghĩa duy vật biện chứng đã sinh ra bởi sự kế thừa những yếu tố hợp lý, phát triển một cách sáng tạo và được minh chứng bởi những thành tựu của khoa học, kỹ thuật, thực tiễn xã hội.Các Mác và Ph.Ănghen đã dựa trên những nguyên tắc sau để dựng nên học thuyết về nhận thức:Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan độc lập đối với ý thức của con người. Hai là, thừa nhận khả năng nhận thức được thế giới của con người.Con nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, là hoạt động tìm hiểu khách thể của chủ thể.Không có cái gì là không thể nhận thức được mà chỉ có cái con người chưa nhận thức được nhưng sẽ nhận thức được.Ba là, khẳng định sự phản ánh đó là một quá trình biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo.qua trình phản ánh ấy diễn ra theo trình tự từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, đi từ bản hiện tượng đến bản chất và từ bản chất kém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn.Bốn là, coi thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức, là động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý.Như vậy, nhận thức chính là sự phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào trong bộ óc con người nhưng dựa trên cơ sở thực tiến chứ không phải do ý chí chủ quan của con người quyết định.1.1.2.Quá trình nhận thứcNhận thức là quá trình diễn ra rất phức tạp, bao gồm nhiều giai đoạn, trình độ, vòng khâu khác nhau song đây là quá trình biện chứng đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn.ƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỖI QUAN HỆ GIỮ.

Trang 1

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 2

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Phương pháp nghiên cứu 3

4 Giới thiệu nội dung nghiên cứu 3

PHẦN 2: NỘI DUNG 4

CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỖI QUAN HỆ GIỮA NHẬN THỨC VÀ THỰC TIỄN 4

1.1 Lý luận về nhận thức 4

1.1.1 Khái niệm 4

1.1.2 Quá trình nhận thức 6

1.1.3 Cấp độ của quá trình nhận thức 8

1.2 Lý luận về thực tiễn 10

1.2.1 Khái niệm 10

1.2.2 Các hình thức biểu hiện của thực tiễn 12

1.3 Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức 13

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM THỰC TIẾN TRONG QUÁ TRÌNH TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY 15

2.1 Thực trạng tự học của sinh viên 15

2.2 Một số biện pháp nâng cao khả năng tự học của sinh viên 16

PHẦN III: KẾT LUẬN 19

Trang 2

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Triết học có vai trò rất to lớn đối với sự phát triển của khoa học cụ thể

Và ngược lại, với mỗi gian đoạn phát triển của khoa học, nhất là khoa học tựnhiên thì triết học cũng có một bước phát triển Như Ph.Ăngghen đã từngnhận định: “Mỗi khi có những phát minh của khoa học tự nhiên thì chủ nghĩaduy vật cũng thay đổi hình thức” Do đó, việc nghiên cứu các tư tưởng Triếthọc không thể tách rời các giai đoạn phát triển của khoa học, nhất là khoa học

xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Đạt được kết quả đó,chúng ta không thể phủ nhận một phần là do những nhận thức đúng đắn củaĐảng và nhà nước Trên thực tế nghiên cứu khoa học cũng vậy, Nhận thựcthức chính xác và toàn diện vấn đề sẽ tạo ra những sản phẩm mang lại lợiích cho cộng đồng như phát minh ra điện thoại, vô tuyến, máy vi tính

Vấn đề thực tiễn và nhận thức không chỉ là vấn đề lịch sử mà còn làvấn đề hằng ngày giữa mỗi con người với thế giới khách quan Nhận thức

được điều đó, tôi đã lựa chọn đề tài “ Lý luận của triết học mác- Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức và thực tiễn và sự vận dụng quan điểm thực tiễn trong quá trình tự học của sinh viên hiện nay” để

hiểu rõ hơn về mặt lý luận cũng như thực tế

Trang 4

mối quan hệ giữa nhận thức và thực tiễn để vận dụng trong quá trình tự họccủa sinh viên hiện nay.

3 Phương pháp nghiên cứu

- Vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh,các quan điểm của Đảng, Nhà nước và của ngành về vấn đề nhận thức và thựctiễn

- Khảo sát thống kê, điều tra xã hội học những số liệu về các đối tượngnghiên cứu về những vấn đề có liên quan đến đề tài

- Tiến hành phân tích, tổng hợp, so sánh về các số liệu, các vấn đề cóliên quan đến nội dung đề tài

4 Giới thiệu nội dung nghiên cứu

Ngoài những phần như: Phần mở đầu, Phần kết luận và kiến nghị, Mụclục và Tài liệu tham khảo, đề tài gồm:

Trang 5

PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỖI QUAN HỆ GIỮA

NHẬN THỨC VÀ THỰC TIỄN 1.1 Lý luận về nhận thức

1.1.1 Khái niệm

Chủ nghĩa duy tâm chủ quan: nhận thức chỉ là sự phức hợp những cảm giác của con người Sở dĩ, có quan điểm như vậy là do những người theo

trường phái này đã phủ nhận sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất.Điều

đó có nghĩa là:tự bản thân con người bằng cảm nhận của mình mà đưa ranhững nhận xét, đánh giá mà không cần tới những quy luật tồn tại kháchquan Đây là quan điểm phiến diện không nhận thấy được mối liên hệ khăngkhít giữa nhận thức và thực tiễn, nói cách khác là giữa vật chất và ý thức.Phảithừa nhận rằng nhận thức của con người chính là nhờ thực tiễn phản ánhthông qua ý thức.Chứ không phải chỉ đơn thuần là sự phức hợp những cảmgiác Mọi sự vật, hiện tượng đều phải trải qua quá trình và đều được phản ánh

và chịu tác động trực tiếp bởi thực tại khách quan

Chủ nghĩa duy vật: thừa nhận khả năng nhận thức được thế giới của con người và coi nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người.Tuy nhiên, do sự hạn chế bởi tính trực quan, siêu hình, máy

móc mà chủ nghĩa duy vật trước Mác đã coi nhận thức là sự phản ánh trựcquan, đơn giản, là bản sao chép nguyên xi trạng thái bất động của sự vật.Họchưa thấy được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.Chính vì vậy màC.Mác đã nhận xét rằng:”khuyết điểm chủ yếu của toàn bộ chủ nghĩa duy vật

từ trước tới nay kể cả chủ nghĩa duy vật của Phơibắc là sự vật, hiện thực, cáicảm giác được, chỉ được nhận thức dưới hình thức khách thể hay hình thứctrực quan, chứ không được nhận thức là hoạt động cảm giác của con người, làthực tiễn; không được nhận thức về mặt chủ quan

Trang 6

Như vậy có thể nói, tất cả các trào lưu triết học trước Mác đều quanniệm sai lầm hoặc phiến diện về nhận thức Những vấn đề lý luận và nhậnthức chưa được giải quyết một cách khoa học, đặc biệt chưa thấy được đầy đủvai trò của thực tiễn đối với nhận thức.

Chỉ có Chủ nghĩa duy vật biện chứng mới có câu trả lời cho bản chấtcủa nhận thức

Về bản chất nhận thức là quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc người trên cơ sở thực tiễn.

Có được khái niệm hoàn chỉnh như vậy là do chủ nghĩa duy vật biệnchứng đã sinh ra bởi sự kế thừa những yếu tố hợp lý, phát triển một cáchsáng tạo và được minh chứng bởi những thành tựu của khoa học, kỹ thuật,thực tiễn xã hội

Các Mác và Ph.Ănghen đã dựa trên những nguyên tắc sau để dựng nênhọc thuyết về nhận thức:

Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan độc lập đối với ý

thức của con người

Hai là, thừa nhận khả năng nhận thức được thế giới của con

người.Con nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óccủa con người, là hoạt động tìm hiểu khách thể của chủ thể.Không có cái gì làkhông thể nhận thức được mà chỉ có cái con người chưa nhận thức đượcnhưng sẽ nhận thức được

Ba là, khẳng định sự phản ánh đó là một quá trình biện chứng, tích cực,

tự giác và sáng tạo.qua trình phản ánh ấy diễn ra theo trình tự từ chưa biết đếnbiết, từ biết ít đến biết nhiều, đi từ bản hiện tượng đến bản chất và từ bản chấtkém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn

Trang 7

Bốn là, coi thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức,

là động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý

Như vậy, nhận thức chính là sự phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạothế giới khách quan vào trong bộ óc con người nhưng dựa trên cơ sở thực tiếnchứ không phải do ý chí chủ quan của con người quyết định

1.1.2 Quá trình nhận thức

Nhận thức là quá trình diễn ra rất phức tạp, bao gồm nhiều giai đoạn,trình độ, vòng khâu khác nhau song đây là quá trình biện chứng đi từ trựcquan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn

a.Trực quan sinh động

Trực quan sinh động còn gọi là giai đoạn nhận thức cảm tính; đây làgiai đoạn con người sử dụng các giác quan để tác động trực tiếp vào các sựvật nhằm nắm bắt các sự vật ấy Trực quan sinh động bao gồm 3 hình thứclà:cảm giác, tri giác và biểu tượng

Cảm giác là sự phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của sự vật, hiện

tượng khi chúng đang tác động trực tiếp vào các giác quan của conngười.Cảm giác là nguồn gốc của sự hiểu biết, là kết quả của sự chuyển hoánhững năng lượng kích thích từ bên ngoài thành yếu tố của ý thức.Chính vìthế mà Lênin đã viết:”Cảm giác là hình ảnh chủ quan của thế giới kháchquan”

Tri giác là hình ảnh tương đối toàn vẹn về sự vật khi sự vật đó đang

trực tiếp tác động vào các giác quan.Tri giác nảy sinh dựa trên cơ sở của cảmgiá, là sự tổng hợp của nhiều cảm giác So với cảm giác thì tri giác là hìnhthức nhận thức cao hơn, đầy đủ hơn, phong phú hơn về sự vật

Biểu tượng là hình thức phản ánh cao nhất và phức tạp nhất của giai

đoạn trực quan sinh động Đó là hình ảnh có tính đặc trưng và tương đối hoànchỉnh còn lưu lại trong bộ óc con người về sự vật khi sự vật đó không còn

Trang 8

trực tiếp tác động vào các giác quan Biểu tượng được hình thành nhờ sự phốihợp, bổ sung lẫn cho nhau của các giác quan nhưng đã có sự tham gia của cácyếu tố phân tích, tổng hợp và ít nhiều mang tính trừu tượng hoá.

Như vậy, cảm giác, tri giác là những giai đoạn kế tiếp nhau của hìnhthức nhận thức cảm tính đã tồn tại cả cái bản chất lẫn cái không bản chất, cảcái tất yếu và ngẫu nhiên, cả cái bên trong lẫn bên ngoài sự vật.Nhưng ở đâycon người chưa phân biệt được cái gì là bản chất với không bản chất, đâu làtất yếu với ngẫu nhiên, đâu là bên trong với bên ngoài.Yêu cầu của nhận thứcđòi hỏi phải tách ra và nắm lấy cái bản chất tất yếu, bên trong, chỉ có chúngmới có vai trò quan trọng cho hoạt động thực tiễn và nhận thức của conngười.Như vậy, dừng lại ở nhận thức cảm tính sẽ gặp phải mâu thuẫn giữamột bên là thực trạng chưa phân biệt được đâu là cái bản chất, tất yếu, bêntrong, đâu là cái không bản chất, ngẫu nhiên bên ngoài với như cầu tất yếuphải phân biệt được cái đó thì con người mới có thể nắm được quy luật vậnđộng và phát triển của sự vật.khi giải quyết mâu thuẫn ấy, nhận thức sẽ vượtlên một trình độ mới, cao hơn về chất, đó là tư duy trừu tượng

b.Tư duy trừu tượng

Tư duy trừu tượng là đặc trưng của giai đoạn nhận thức lý tính

Nhận thức lý tính là giai đoạn phản ánh gián tiếp, trừu tượng và kháiquát những thuộc tính, những đặc điểm bản chất của đối tượng.Đây là giaiđoạn nhận thức thực hiện chức năng quan trọng nhất là tách ra và nắm lấy cáibản chất của tính quy luật của sự vật, hiện tượng.Nhận thức lý tính được thể

hiện với ba hình thức : khái niệm, phán đoán và suy lý.

Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh những

đặc tính bản chất của sự vật.Sự hình thành khái niệm là kết quả của sự kháiquát, tổng hợp biện chứng các đặc điểm, thuộc tính của sự vật hay một lớp sựvật.Vì vậy, các khái niệm vừa có tính khách quan vừa có tính chủ quan , vừa

Trang 9

có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, vừa thường xuyên vận động vàphát triển Nó chẳng những rất linh động, mềm dẻo, năng động mà còn là

điểm nút của quá trình tư duy trừu tượng, là cơ sở để hình thành phán đoán.

Phán đoán là hình thức của tư duy liên kết các khái niệm lại với nhau

để khẳng định hoặc phủ định một đặc điểm, một thuộc tính nào đó của đốitượng.Ví dụ : kháng chiến nhất định thắng lợi, non sông sẽ thu về mộtmối.Đây là một phán đoán dựa trên cơ sở của thực tiễn cách mạng.Nó là sựliên kết giữa thực tế chiến trường và sức mạnh dân tộc

Dựa vào trình độ phát triển của nhận thức, phán đoán được chia làm 3loại là phán đoán đơn nhất(ví dụ : sứ là vật cách điện), phán đoán đặc thù(ví

dụ :kim cương là sự liên kết của các bon) và phán đoán phổ biến( ví dụ : mọikim loại đều dẫn điện).Phán đoán phổ biến là hình thức thể hiện sự bao quátrộng lớn nhất về đố tượng

Suy lý là hình thức của tư duy liên kết các phán đoán lại với nhau để rút

ra tri thức mới bằng phán đoán mới.Ví dụ : nếu phán đoán ” phi kim khôngdẫn điện thì sẽ suy ra được rằng : sứ không dẫn điện vì sứ cũng là phi kim

Từ những biện chứng của qua trình nhận thức chúng ta có thể phân racác cấp độ của nhận thức như sau 

1.1.3 Cấp độ của quá trình nhận thức

Có 2 cách phân loại.Nếu căn cứ trên mức độ thâm nhập vào bản chất

của đối tượng nhận thức, có thể chia nhận thức thành nhận thức kinh nghiệm

và nhận thức lý luận ; nếu căn cứ trên tính chất tự phát hay tự giác của quá trình nhận thức, có thể chia nhận thức thành nhận thức thông thường và nhận thức khoa học.

a.Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận

Trang 10

Nhận thức kinh nghiệm là loại nhận thức hình thành từ sự quan sát

trực tiếp các sự vật hiện tượng trong tự nhiên, xã hội hay các thí nghiệm khoahọc.Kết quả của nhận thức kinh nghiệm là những tri thức kinh nghiệm.Trithức này có hai loại là tri thức kinh nghiệm thông thường và tri thức kinhnghiệm khoa học

Nhận thức lý luận(gọi tắt là lý luận) là loại nhận thức gián tiếp, trừu

tượng và khái quát về bản chất và quy luật của các sự vật, hiện tượng.Nhậnthức lý luận có chức năng gián tiếp vì nó được hình thành và phát triển trên cơ

sở của nhận thức kinh nghiệm.Nhận thức lý luận có tính trừu tượng và kháiquát vì nó tập trung phản ánh cái bản chất mang tính quy luật của sự vật, hiệntượng.Do đó, tri thức lý luận- kết quả của nhận thức lý luận – thể hiện chân lýsâu sắc hơn, chính xác hơn và có hệ thống hơn

Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận là hai giai đoạn nhận thứckhác nhau, nhưng có quan hệ biện chứng với nhau.Trong mối quan hệ đó thìnhận thức kinh nghiệm là cơ sỏ của nhận thức lý luận.Nó cung cấp cho chonhận thức lý luận những tư liệu phong phú, cụ thể.Nó gắn chặt trực tiếp vớithực tiễn tạo thành cơ sở hiện thực để kiểm tra, sửa chữa, bổ sung cho lý luậnmới và tổng hợp khái quát bằng khái niệm mới

b.Nhận thức thông thường và nhận thức khoa học

Nhận thức thông thường (nhận thức tiền khoa học) là loại nhận thức

được hình thành một cách tự phát, trực tiếp từ trong hoạt động hàng ngày củacon người.Nó phản ánh sự vật, hiện tượng xảy ra với tất cả những đặc điểmchi tiết, cụ thể và những sắc thái khác nhau của sự vật.Vì vây, nhận thứcthông thường mang tính phong phú, nhiều vẻ và gắn liền với những quanniệm sống thực tế hàng ngày Vì thế nó có vai trò thường xuyên phổ biến chiphối hoạt động của mọi người trong xã hội

Trang 11

Nhận thức khoa học là loại nhận thức được hình thành một cách tự

giác và gián tiếp từ sự phản ánh đặc điểm bản chất, những quan hệ tất yếu củađối tượng nghiên cứu.Sự phản ánh này diễn ra dưới dạng trừu tượng, logic làcác khái niệm, các quy luật khoa học vừa có tính khách quan, trừu tượng ,khái quát lại vừa có hệ thống, có căn cứ và có tính chân thực

Trong đó, nhận thức thông thường và nhận thức khoa học là hai nấcthang khác nhau về chất của quá trình nhận thức đạt tới những tri thức chânthực.Giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.Trong mối quan hệ đó,nhận thức thông thường có trước nhận thức khoa học.Mặc dù đã chứa dựngnhững mầm mống của những tri thức khoa học, song nhận thức thông thườngchỉ là những nhận thức bên ngoài, ngẫu nhiên, không bản chất của đối tượng

và tự nó không thể chuyển thành nhận thức khoa học cần phải thông qua khảnăng tổng kết, trừu tượng,khái quát đúng đắn của các nhà khoa học.Ngược lạikhi đạt tới trình độ nhận thức khoa học thì nó lại tác động trở lại nhận thứcthông thường, xâm nhập vào nhận thức thông thường và làm cho nhận thứcthông thường phát triển Tăng cường nội dung khoa học cho quá trình nhậnthức thế giới của con người

Như vậy, việc đạt tới những tri thức khoa học trong quá trình nhận thứcdiễn ra theo những cấp độ khác nhau từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lýtính, từ nhận thức kinh nghiệm đến nhận thức lý luận, từ nhận thức thôngthường đến nhận thức khoa học.Tuy nhiên để chứng minh được nhận thức kia

đã đúng chưa cần phải được kiểm nghiệm trên thực tiễn.Thực tiễn là thước đochính xác nhất những gì nhận thức đã thu nhặt được.Vậy, thực tiễn là gì?Hãylàm rõ vấn đề này và sau đó chúng ta sẽ có được kết luận về mối quan hệ giữathực tiễn và nhận thức.Qua đó, để thấy được vai trò của thực tiễn đối với nhậnthức

Trang 12

1.2 Lý luận về thực tiễn

1.2.1 Khái niệm

Theo những người theo chủ nghĩa duy tâm thì: cho rằng thực tiễn chỉ làhoạt động tinh thần sáng tạo ra thế giới của con người một cách đơn thuầnchứ không phải hoạt động vật chất, là hoạt động lịch sử.Do họ cho rằng nhậnthức chỉ đơn thuần là sự “phức hợp những cảm giác” hay cao hơn là sự “tự ýthức về mình của ý niệm tuyệt đối”

Khác với quan điểm trên, do ra đời sau dựa trên cơ sở kế thừa và pháttriển sáng tạo những yếu tố hợp lý trong những quan niệm về thực tiễn củacác nhà triết học trước đó, C.Mác và Ph.Ănghen đã đưa ra một quan niệmđúng đắn, khoa học về thực tiễn và vai trò của nó đối với nhận thức cũng nhưđối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Với việc đưa phạm trùthực tiễn vào lý luận nhận thức Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mac – Lênin

đã tạo nên một bước chuyển biến cách mạng trong triết học nói chung vàtrong lý luận nhận thức nói riêng

Trên nền tảng đó các ông đã đưa ra khái niệm thực tiễn như sau: thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử – xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội.

Thông qua hoạt động thực tiễn con người đã không ngừng sáng tạo,nhờ đó lịch sử loài người đã không ngừng phát triển Minh chứng là conngười đã trải qua 5 hình thái kinh tế xã hội mà cái sau bao giờ cũng tiến bộhơn cái trước đó là: Xã hội nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến,

xã hội tư bản chủ nghĩa, xã hội xã hội chủ nghĩa Đã có những thời kỳ các nhàcầm quyền muốn áp đặt ý chí của mình nhằm khuất phục người dân bằngnhững khái niệm về “ thần quyền”, bằng cái gọi là “ý niệm tuyệt đối” để thuichột ý chí đấu tranh và bằng lòng với số phận và coi đó là cái tất yếu.Tuynhiên, thông qua thực tiễn quần chúng đã nhận ra bộ mặt thật của những lýthuyết trên và họ đã tìm được lối thoát thông qua thực tiễn đấu tranh lần lượt

Ngày đăng: 20/01/2023, 23:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w