2 MỤC LỤC PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1 1 Lý do chọn đề tài 1 2 Mục đích nghiên cứu 2 3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2 4 Phương pháp nghiên cứu 2 4 Giới thiệu nội dung nghiên cứu 2 PHẦN 2 NỘI DUNG 3 CHƯƠNG 1 NHỮ. MỤC LỤCPHẦN 1: MỞ ĐẦU11.Lý do chọn đề tài12. Mục đích nghiên cứu23. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu24. Phương pháp nghiên cứu24. Giới thiệu nội dung nghiên cứu2PHẦN 2: NỘI DUNG3CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỖI QUAN HỆ GIỮA NHẬN THỨC VÀ THỰC TIỄN31.1.Lý luận về nhận thức31.1.1.Khái niệm31.1.2.Quá trình nhận thức51.1.3.Cấp độ của quá trình nhận thức71.2. Lý luận về thực tiễn91.2.1. Khái niệm91.2.2. Các hình thức biểu hiện của thực tiễn111.3.Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức121.3.1. Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc của nhận thức121.3.2. Thực tiễn là động lực của nhận thức131.3.3. Thực tiễn là mục đích của nhận thức:131.3.4. Thực tiễn là tiêu chuẩn của nhận thức :14CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM THỰC TIẾN TRONG QUÁ TRÌNH TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY152.1.Thực trạng tự học của sinh viên152.2.Một số yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng tự học của sinh viên162.2.1. Các yếu tố chủ quan162.2.2. Các yếu tố khách quan172.3.Một số biện pháp nâng cao khả năng tự học của sinh viên182.3.1.Kích thích nhu cầu tự học, tạo niềm tin vào khả năng tự học của sinh viên182.3.2. Hướng dẫn sinh viên cách đọc tài liệu192.3.3. Hướng dẫn sinh viên khai thác, sử dụng Mobile Learning và các phần mềm hỗ trợ tự học19PHẦN III: KẾT LUẬN21 PHẦN 1: LỜI MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tàiVề vấn đề nhận thức và thực tiễn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: phải có nhận thức đúng thì mới có hành động đúng.Qua đó để thấy rằng giữa nhận thức và thực tiễn luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nói cách khác giữa chúng có mối quan hệ biện chứng.Đặt vào trong hoàn cảnh nước ta bây giờ, khi đang trong quá trình mở cửa, đổi mới và hội nhập với thế giới, câu hỏi lớn đặt ra là : cái gì cần phải thay đổi, phát triển, cái gì cần giữ nguyên và duy trì? Trả lời câu hỏi ấy đòi hỏi phải có một nhận thức đúng đắn và những hoạt động thực tiễn thích hợp. Trong khi đó, học sinh sinh viên là những hạt nhân đóng vai trò quan trọng trong việc kiến thiết và phát triển đất nước, liệu đất nước sẽ ra sao nếu như họ có nhận thức lệch lạc, những hoạt động thực tiễn sai lầm…? Trên thực tế quá trình học tập, rèn luyện cũng vậy, nhận thực thức chính xác và toàn diện vấn đề sẽ giúp học sinh, sinh viên đi đúng hướng, đêm lại lợi ích cho cộng đồng... Ngược lại nếu không có nhận thức đúng đắn thì sinh viên – tương lai của đất nước sẽ có những thế giới quan lệch lạc, đưa đất nước vào ngõ cụt. Do đó, sau một thời gian tìm hiểu tôi đã lựa chọn đề tài “ Lý luận của triết học mác Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức và thực tiễn và sự vận dụng quan điểm thực tiễn trong quá trình tự học của sinh viên hiện nay” để có cái nhìn sâu và rộng hơn. 2. Mục đích nghiên cứuLàm rõ về mặt lý luận giữa nhận thức và thực tiễn, đồng thời nêu ra mối quan hệ giữa nhận thức và thực tiễn để vận dụng trong quá trình tự học của sinh viên hiện nay.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứuBài tiểu luận được nghiên cứu trong vòng 2 tuần, tập chung nghiên cứu về các khái niệm cũng như lý luận về các vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa nhận thức và thực tiễn. Do thời gian có hạn cùng với việc nghiên cứu chỉ dừng lại ở hình thức tiểu luận nên em sẽ lấy khách thể nghiên cứu là hoạt động sáng tạo,lý luận của nhận thức Macxít nói riêng, chủ nghĩa Mác Lênin nói chung4. Phương pháp nghiên cứu Vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng, Nhà nước và của ngành về vấn đề nhận thức và thực tiễn. Khảo sát thống kê, điều tra xã hội học những số liệu về các đối tượng nghiên cứu về những vấn đề có liên quan đến đề tài. Tiến hành phân tích, tổng hợp, so sánh về các số liệu, các vấn đề có liên quan đến nội dung đề tài.4. Giới thiệu nội dung nghiên cứuPhần nội dung chính của tiểu luận có kết cấu như sau:NỘI DUNG:CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA NHẬN THỨC VÀ THỰC TIỄNCHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG ĐIỂM THỰC TIỄN TRONG QUÁ TRÌNH TỰ HỌC CỦA SINH VIÊNPHẦN 2: NỘI DUNGCHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỖI QUAN HỆ GIỮA NHẬN THỨC VÀ THỰC TIỄN1.1.Lý luận về nhận thức 1.1.1.Khái niệmChủ nghĩa duy tâm chủ quan: nhận thức chỉ là sự phức hợp những cảm giác của con người. Sở dĩ, có quan điểm như vậy là do những người theo trường phái này đã phủ nhận sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất.Điều đó có nghĩa là:tự bản thân con người bằng cảm nhận của mình mà đưa ra những nhận xét, đánh giá mà không cần tới những quy luật tồn tại khách quan. Đây là quan điểm phiến diện không nhận thấy được mối liên hệ khăng khít giữa nhận thức và thực tiễn, nói cách khác là giữa vật chất và ý thức.Phải thừa nhận rằng nhận thức của con người chính là nhờ thực tiễn phản ánh thông qua ý thức.Chứ không phải chỉ đơn thuần là sự phức hợp những cảm giác. Mọi sự vật, hiện tượng đều phải trải qua quá trình và đều được phản ánh và chịu tác động trực tiếp bởi thực tại khách quan.Chủ nghĩa duy vật: thừa nhận khả năng nhận thức được thế giới của con người và coi nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người.Tuy nhiên, do sự hạn chế bởi tính trực quan, siêu hình, máy móc mà chủ nghĩa duy vật trước Mác đã coi nhận thức là sự phản ánh trực quan, đơn giản, là bản sao chép nguyên xi trạng thái bất động của sự vật.Họ chưa thấy được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.Chính vì vậy mà C.Mác đã nhận xét rằng:”khuyết điểm chủ yếu của toàn bộ chủ nghĩa duy vật từ trước tới nay kể cả chủ nghĩa duy vật của Phơibắc là sự vật, hiện thực, cái cảm giác được, chỉ được nhận thức dưới hình thức khách thể hay hình thức trực quan, chứ không được nhận thức là hoạt động cảm giác của con người, là thực tiễn; không được nhận thức về mặt chủ quan.Như vậy có thể nói, tất cả các trào lưu triết học trước Mác đều quan niệm sai lầm hoặc phiến diện về nhận thức. Những vấn đề lý luận và nhận thức chưa được giải quyết một cách khoa học, đặc biệt chưa thấy được đầy đủ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.Chỉ có Chủ nghĩa duy vật biện chứng mới có câu trả lời cho bản chất của nhận thức.Về bản chất. nhận thức là quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc người trên cơ sở thực tiễn.Có được khái niệm hoàn chỉnh như vậy là do chủ nghĩa duy vật biện chứng đã sinh ra bởi sự kế thừa những yếu tố hợp lý, phát triển một cách sáng tạo và được minh chứng bởi những thành tựu của khoa học, kỹ thuật, thực tiễn xã hội.Các Mác và Ph.Ănghen đã dựa trên những nguyên tắc sau để dựng nên học thuyết về nhận thức:Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan độc lập đối với ý thức của con người. Hai là, thừa nhận khả năng nhận thức được thế giới của con người.Con nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, là hoạt động tìm hiểu khách thể của chủ thể.Không có cái gì là không thể nhận thức được mà chỉ có cái con người chưa nhận thức được nhưng sẽ nhận thức được.Ba là, khẳng định sự phản ánh đó là một quá trình biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo.qua trình phản ánh ấy diễn ra theo trình tự từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, đi từ bản hiện tượng đến bản chất và từ bản chất kém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn.Bốn là, coi thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức, là động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý.Như vậy, nhận thức chính là sự phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào trong bộ óc con người nhưng dựa trên cơ sở thực tiến chứ không phải do ý chí chủ quan của con người quyết định.
Trang 1PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
4 Giới thiệu nội dung nghiên cứu 2
PHẦN 2: NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỖI QUAN HỆ GIỮA NHẬN THỨC VÀ THỰC TIỄN 3
1.1 Lý luận về nhận thức 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1.2 Quá trình nhận thức 5
1.1.3 Cấp độ của quá trình nhận thức 7
1.2 Lý luận về thực tiễn 9
1.2.1 Khái niệm 9
1.2.2 Các hình thức biểu hiện của thực tiễn 11
1.3 Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức 12
1.3.1 Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc của nhận thức 12
1.3.2 Thực tiễn là động lực của nhận thức 13
1.3.3 Thực tiễn là mục đích của nhận thức: 13
1.3.4 Thực tiễn là tiêu chuẩn của nhận thức : 14
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM THỰC TIẾN TRONG QUÁ TRÌNH TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY 15
Trang 22.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng tự học của sinh viên 16
2.2.1 Các yếu tố chủ quan 16
2.2.2 Các yếu tố khách quan 17
2.3 Một số biện pháp nâng cao khả năng tự học của sinh viên 18
2.3.1 Kích thích nhu cầu tự học, tạo niềm tin vào khả năng tự học của sinh viên 18
2.3.2 Hướng dẫn sinh viên cách đọc tài liệu 19
2.3.3 Hướng dẫn sinh viên khai thác, sử dụng Mobile Learning và các phần mềm hỗ trợ tự học 19
PHẦN III: KẾT LUẬN 21
Trang 3PHẦN 1: LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Về vấn đề nhận thức và thực tiễn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: phải cónhận thức đúng thì mới có hành động đúng.Qua đó để thấy rằng giữa nhậnthức và thực tiễn luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau Nói cách khác giữachúng có mối quan hệ biện chứng
Đặt vào trong hoàn cảnh nước ta bây giờ, khi đang trong quá trình mởcửa, đổi mới và hội nhập với thế giới, câu hỏi lớn đặt ra là : cái gì cần phảithay đổi, phát triển, cái gì cần giữ nguyên và duy trì? Trả lời câu hỏi ấy đòihỏi phải có một nhận thức đúng đắn và những hoạt động thực tiễn thích hợp.Trong khi đó, học sinh sinh viên là những hạt nhân đóng vai trò quan trọngtrong việc kiến thiết và phát triển đất nước, liệu đất nước sẽ ra sao nếu như
họ có nhận thức lệch lạc, những hoạt động thực tiễn sai lầm…?
Trên thực tế quá trình học tập, rèn luyện cũng vậy, nhận thực thứcchính xác và toàn diện vấn đề sẽ giúp học sinh, sinh viên đi đúng hướng, đêmlại lợi ích cho cộng đồng Ngược lại nếu không có nhận thức đúng đắn thìsinh viên – tương lai của đất nước sẽ có những thế giới quan lệch lạc, đưa đấtnước vào ngõ cụt Do đó, sau một thời gian tìm hiểu tôi đã lựa chọn đề tài “
Lý luận của triết học mác- Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức và thực tiễn và sự vận dụng quan điểm thực tiễn trong quá trình tự học của sinh viên hiện nay” để có cái nhìn sâu và rộng hơn.
Trang 42 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ về mặt lý luận giữa nhận thức và thực tiễn, đồng thời nêu ramối quan hệ giữa nhận thức và thực tiễn để vận dụng trong quá trình tự họccủa sinh viên hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Bài tiểu luận được nghiên cứu trong vòng 2 tuần, tập chung nghiên cứu vềcác khái niệm cũng như lý luận về các vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữanhận thức và thực tiễn Do thời gian có hạn cùng với việc nghiên cứu chỉdừng lại ở hình thức tiểu luận nên em sẽ lấy khách thể nghiên cứu là hoạtđộng sáng tạo,lý luận của nhận thức Macxít nói riêng, chủ nghĩa Mác- Lêninnói chung
4 Phương pháp nghiên cứu
- Vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh,các quan điểm của Đảng, Nhà nước và của ngành về vấn đề nhận thức và thựctiễn
- Khảo sát thống kê, điều tra xã hội học những số liệu về các đối tượngnghiên cứu về những vấn đề có liên quan đến đề tài
- Tiến hành phân tích, tổng hợp, so sánh về các số liệu, các vấn đề cóliên quan đến nội dung đề tài
4 Giới thiệu nội dung nghiên cứu
Phần nội dung chính của tiểu luận có kết cấu như sau:
Trang 5PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỖI QUAN HỆ GIỮA NHẬN THỨC VÀ THỰC TIỄN
1.1 Lý luận về nhận thức
1.1.1 Khái niệm
Chủ nghĩa duy tâm chủ quan: nhận thức chỉ là sự phức hợp những cảm giác của con người Sở dĩ, có quan điểm như vậy là do những người theo
trường phái này đã phủ nhận sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất.Điều
đó có nghĩa là:tự bản thân con người bằng cảm nhận của mình mà đưa ranhững nhận xét, đánh giá mà không cần tới những quy luật tồn tại kháchquan Đây là quan điểm phiến diện không nhận thấy được mối liên hệ khăngkhít giữa nhận thức và thực tiễn, nói cách khác là giữa vật chất và ý thức.Phảithừa nhận rằng nhận thức của con người chính là nhờ thực tiễn phản ánhthông qua ý thức.Chứ không phải chỉ đơn thuần là sự phức hợp những cảmgiác Mọi sự vật, hiện tượng đều phải trải qua quá trình và đều được phản ánh
và chịu tác động trực tiếp bởi thực tại khách quan
Chủ nghĩa duy vật: thừa nhận khả năng nhận thức được thế giới của con người và coi nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người.Tuy nhiên, do sự hạn chế bởi tính trực quan, siêu hình, máy
móc mà chủ nghĩa duy vật trước Mác đã coi nhận thức là sự phản ánh trựcquan, đơn giản, là bản sao chép nguyên xi trạng thái bất động của sự vật.Họchưa thấy được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.Chính vì vậy màC.Mác đã nhận xét rằng:”khuyết điểm chủ yếu của toàn bộ chủ nghĩa duy vật
từ trước tới nay kể cả chủ nghĩa duy vật của Phơibắc là sự vật, hiện thực, cáicảm giác được, chỉ được nhận thức dưới hình thức khách thể hay hình thứctrực quan, chứ không được nhận thức là hoạt động cảm giác của con người, làthực tiễn; không được nhận thức về mặt chủ quan
Trang 6Như vậy có thể nói, tất cả các trào lưu triết học trước Mác đều quanniệm sai lầm hoặc phiến diện về nhận thức Những vấn đề lý luận và nhậnthức chưa được giải quyết một cách khoa học, đặc biệt chưa thấy được đầy đủvai trò của thực tiễn đối với nhận thức.
Chỉ có Chủ nghĩa duy vật biện chứng mới có câu trả lời cho bản chấtcủa nhận thức
Về bản chất nhận thức là quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc người trên cơ sở thực tiễn.
Có được khái niệm hoàn chỉnh như vậy là do chủ nghĩa duy vật biệnchứng đã sinh ra bởi sự kế thừa những yếu tố hợp lý, phát triển một cáchsáng tạo và được minh chứng bởi những thành tựu của khoa học, kỹ thuật,thực tiễn xã hội
Các Mác và Ph.Ănghen đã dựa trên những nguyên tắc sau để dựng nênhọc thuyết về nhận thức:
Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan độc lập đối với ý
thức của con người
Hai là, thừa nhận khả năng nhận thức được thế giới của con
người.Con nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óccủa con người, là hoạt động tìm hiểu khách thể của chủ thể.Không có cái gì làkhông thể nhận thức được mà chỉ có cái con người chưa nhận thức đượcnhưng sẽ nhận thức được
Ba là, khẳng định sự phản ánh đó là một quá trình biện chứng, tích cực,
tự giác và sáng tạo.qua trình phản ánh ấy diễn ra theo trình tự từ chưa biết đếnbiết, từ biết ít đến biết nhiều, đi từ bản hiện tượng đến bản chất và từ bản chấtkém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn
Trang 7Bốn là, coi thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức,
là động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý
Như vậy, nhận thức chính là sự phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạothế giới khách quan vào trong bộ óc con người nhưng dựa trên cơ sở thực tiếnchứ không phải do ý chí chủ quan của con người quyết định
1.1.2 Quá trình nhận thức
Nhận thức là quá trình diễn ra rất phức tạp, bao gồm nhiều giai đoạn,trình độ, vòng khâu khác nhau song đây là quá trình biện chứng đi từ trựcquan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn
a.Trực quan sinh động
Trực quan sinh động còn gọi là giai đoạn nhận thức cảm tính; đây làgiai đoạn con người sử dụng các giác quan để tác động trực tiếp vào các sựvật nhằm nắm bắt các sự vật ấy Trực quan sinh động bao gồm 3 hình thứclà:cảm giác, tri giác và biểu tượng
Cảm giác là sự phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của sự vật, hiện
tượng khi chúng đang tác động trực tiếp vào các giác quan của conngười.Cảm giác là nguồn gốc của sự hiểu biết, là kết quả của sự chuyển hoánhững năng lượng kích thích từ bên ngoài thành yếu tố của ý thức.Chính vìthế mà Lênin đã viết:”Cảm giác là hình ảnh chủ quan của thế giới kháchquan”
Tri giác là hình ảnh tương đối toàn vẹn về sự vật khi sự vật đó đang
trực tiếp tác động vào các giác quan.Tri giác nảy sinh dựa trên cơ sở của cảmgiá, là sự tổng hợp của nhiều cảm giác So với cảm giác thì tri giác là hìnhthức nhận thức cao hơn, đầy đủ hơn, phong phú hơn về sự vật
Biểu tượng là hình thức phản ánh cao nhất và phức tạp nhất của giai
đoạn trực quan sinh động Đó là hình ảnh có tính đặc trưng và tương đối hoànchỉnh còn lưu lại trong bộ óc con người về sự vật khi sự vật đó không còn
Trang 8trực tiếp tác động vào các giác quan Biểu tượng được hình thành nhờ sự phốihợp, bổ sung lẫn cho nhau của các giác quan nhưng đã có sự tham gia của cácyếu tố phân tích, tổng hợp và ít nhiều mang tính trừu tượng hoá.
Như vậy, cảm giác, tri giác là những giai đoạn kế tiếp nhau của hìnhthức nhận thức cảm tính đã tồn tại cả cái bản chất lẫn cái không bản chất, cảcái tất yếu và ngẫu nhiên, cả cái bên trong lẫn bên ngoài sự vật.Nhưng ở đâycon người chưa phân biệt được cái gì là bản chất với không bản chất, đâu làtất yếu với ngẫu nhiên, đâu là bên trong với bên ngoài.Yêu cầu của nhận thứcđòi hỏi phải tách ra và nắm lấy cái bản chất tất yếu, bên trong, chỉ có chúngmới có vai trò quan trọng cho hoạt động thực tiễn và nhận thức của conngười.Như vậy, dừng lại ở nhận thức cảm tính sẽ gặp phải mâu thuẫn giữamột bên là thực trạng chưa phân biệt được đâu là cái bản chất, tất yếu, bêntrong, đâu là cái không bản chất, ngẫu nhiên bên ngoài với như cầu tất yếuphải phân biệt được cái đó thì con người mới có thể nắm được quy luật vậnđộng và phát triển của sự vật.khi giải quyết mâu thuẫn ấy, nhận thức sẽ vượtlên một trình độ mới, cao hơn về chất, đó là tư duy trừu tượng
b.Tư duy trừu tượng
Tư duy trừu tượng là đặc trưng của giai đoạn nhận thức lý tính
Nhận thức lý tính là giai đoạn phản ánh gián tiếp, trừu tượng và kháiquát những thuộc tính, những đặc điểm bản chất của đối tượng.Đây là giaiđoạn nhận thức thực hiện chức năng quan trọng nhất là tách ra và nắm lấy cáibản chất của tính quy luật của sự vật, hiện tượng.Nhận thức lý tính được thể
hiện với ba hình thức : khái niệm, phán đoán và suy lý.
Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh những
đặc tính bản chất của sự vật.Sự hình thành khái niệm là kết quả của sự kháiquát, tổng hợp biện chứng các đặc điểm, thuộc tính của sự vật hay một lớp sựvật.Vì vậy, các khái niệm vừa có tính khách quan vừa có tính chủ quan , vừa
Trang 9có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, vừa thường xuyên vận động vàphát triển Nó chẳng những rất linh động, mềm dẻo, năng động mà còn là
điểm nút của quá trình tư duy trừu tượng, là cơ sở để hình thành phán đoán.
Phán đoán là hình thức của tư duy liên kết các khái niệm lại với nhau
để khẳng định hoặc phủ định một đặc điểm, một thuộc tính nào đó của đốitượng.Ví dụ : kháng chiến nhất định thắng lợi, non sông sẽ thu về mộtmối.Đây là một phán đoán dựa trên cơ sở của thực tiễn cách mạng.Nó là sựliên kết giữa thực tế chiến trường và sức mạnh dân tộc
Dựa vào trình độ phát triển của nhận thức, phán đoán được chia làm 3loại là phán đoán đơn nhất(ví dụ : sứ là vật cách điện), phán đoán đặc thù(ví
dụ :kim cương là sự liên kết của các bon) và phán đoán phổ biến( ví dụ : mọikim loại đều dẫn điện).Phán đoán phổ biến là hình thức thể hiện sự bao quátrộng lớn nhất về đố tượng
Suy lý là hình thức của tư duy liên kết các phán đoán lại với nhau để rút
ra tri thức mới bằng phán đoán mới.Ví dụ : nếu phán đoán ” phi kim khôngdẫn điện thì sẽ suy ra được rằng : sứ không dẫn điện vì sứ cũng là phi kim
Từ những biện chứng của qua trình nhận thức chúng ta có thể phân racác cấp độ của nhận thức như sau
1.1.3 Cấp độ của quá trình nhận thức
Có 2 cách phân loại.Nếu căn cứ trên mức độ thâm nhập vào bản chất
của đối tượng nhận thức, có thể chia nhận thức thành nhận thức kinh nghiệm
và nhận thức lý luận ; nếu căn cứ trên tính chất tự phát hay tự giác của quá trình nhận thức, có thể chia nhận thức thành nhận thức thông thường và nhận thức khoa học.
a.Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận
Trang 10Nhận thức kinh nghiệm là loại nhận thức hình thành từ sự quan sát
trực tiếp các sự vật hiện tượng trong tự nhiên, xã hội hay các thí nghiệm khoahọc.Kết quả của nhận thức kinh nghiệm là những tri thức kinh nghiệm.Trithức này có hai loại là tri thức kinh nghiệm thông thường và tri thức kinhnghiệm khoa học
Nhận thức lý luận(gọi tắt là lý luận) là loại nhận thức gián tiếp, trừu
tượng và khái quát về bản chất và quy luật của các sự vật, hiện tượng.Nhậnthức lý luận có chức năng gián tiếp vì nó được hình thành và phát triển trên cơ
sở của nhận thức kinh nghiệm.Nhận thức lý luận có tính trừu tượng và kháiquát vì nó tập trung phản ánh cái bản chất mang tính quy luật của sự vật, hiệntượng.Do đó, tri thức lý luận- kết quả của nhận thức lý luận – thể hiện chân lýsâu sắc hơn, chính xác hơn và có hệ thống hơn
Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận là hai giai đoạn nhận thứckhác nhau, nhưng có quan hệ biện chứng với nhau.Trong mối quan hệ đó thìnhận thức kinh nghiệm là cơ sỏ của nhận thức lý luận.Nó cung cấp cho chonhận thức lý luận những tư liệu phong phú, cụ thể.Nó gắn chặt trực tiếp vớithực tiễn tạo thành cơ sở hiện thực để kiểm tra, sửa chữa, bổ sung cho lý luậnmới và tổng hợp khái quát bằng khái niệm mới
b.Nhận thức thông thường và nhận thức khoa học
Nhận thức thông thường (nhận thức tiền khoa học) là loại nhận thức
được hình thành một cách tự phát, trực tiếp từ trong hoạt động hàng ngày củacon người.Nó phản ánh sự vật, hiện tượng xảy ra với tất cả những đặc điểmchi tiết, cụ thể và những sắc thái khác nhau của sự vật.Vì vây, nhận thứcthông thường mang tính phong phú, nhiều vẻ và gắn liền với những quanniệm sống thực tế hàng ngày Vì thế nó có vai trò thường xuyên phổ biến chiphối hoạt động của mọi người trong xã hội
Trang 11Nhận thức khoa học là loại nhận thức được hình thành một cách tự
giác và gián tiếp từ sự phản ánh đặc điểm bản chất, những quan hệ tất yếu củađối tượng nghiên cứu.Sự phản ánh này diễn ra dưới dạng trừu tượng, logic làcác khái niệm, các quy luật khoa học vừa có tính khách quan, trừu tượng ,khái quát lại vừa có hệ thống, có căn cứ và có tính chân thực
Trong đó, nhận thức thông thường và nhận thức khoa học là hai nấcthang khác nhau về chất của quá trình nhận thức đạt tới những tri thức chânthực.Giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.Trong mối quan hệ đó,nhận thức thông thường có trước nhận thức khoa học.Mặc dù đã chứa dựngnhững mầm mống của những tri thức khoa học, song nhận thức thông thườngchỉ là những nhận thức bên ngoài, ngẫu nhiên, không bản chất của đối tượng
và tự nó không thể chuyển thành nhận thức khoa học cần phải thông qua khảnăng tổng kết, trừu tượng,khái quát đúng đắn của các nhà khoa học.Ngược lạikhi đạt tới trình độ nhận thức khoa học thì nó lại tác động trở lại nhận thứcthông thường, xâm nhập vào nhận thức thông thường và làm cho nhận thứcthông thường phát triển Tăng cường nội dung khoa học cho quá trình nhậnthức thế giới của con người
Như vậy, việc đạt tới những tri thức khoa học trong quá trình nhận thứcdiễn ra theo những cấp độ khác nhau từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lýtính, từ nhận thức kinh nghiệm đến nhận thức lý luận, từ nhận thức thôngthường đến nhận thức khoa học.Tuy nhiên để chứng minh được nhận thức kia
đã đúng chưa cần phải được kiểm nghiệm trên thực tiễn.Thực tiễn là thước đochính xác nhất những gì nhận thức đã thu nhặt được.Vậy, thực tiễn là gì?Hãylàm rõ vấn đề này và sau đó chúng ta sẽ có được kết luận về mối quan hệ giữathực tiễn và nhận thức.Qua đó, để thấy được vai trò của thực tiễn đối với nhậnthức
Trang 121.2 Lý luận về thực tiễn
Thực tiễn là những hoạt động vật chất “cảm tính”, có mục đích, có tínhlịch sử xã hội của con người, nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội
Thực tiễn không phải bao gồm toàn bộ hoạt động của con người, mà chỉ lànhững hoạt động vật chất để phân biệt với hoạt động tinh thần, hoạt động lýluận, hay nói theo thuật ngữ của Mác là hoạt động cảm tính của con người.Trong hoạt động thực tiễn, con người phải sử dụng các phương tiện, công cụvật chất, sức mạnh vật chất của mình tác động vào tự nhiên, xã hội để cải tạolàm biến đổi chúng phù hợp với nhu cầu của mình Bằng hoạt động thực tiễn,con người làm biến đổi bản than sự vật trong hiện thực, từ đó làm cơ sở đểbiến đổi bản than sự vật trong hiện thực, từ đó làm cơ sở để biến đổi hình ảnhcủa sự vật trong nhận thức Do đó, hoạt động thực tiễn là hoạt động có tínhnăng động, sang tạo, là hoạt động đối tượng hoá, là quá trình chuyển hoá cáitinh thần thành cái vật chất Hoạt động thực tiễn là quá trình tương tác giữachủ thể và khách thể, trong đó, chủ thể hướng vào việc cải tạo khách thể; trên
cơ sở đó nhận thức khách thể Vì vậy, thực tiễn trở thành mắt khâu trung giannối liền nhận thức con người với thế giới bên ngoài
Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người, là hoạt động đặctrưng cho con người Nếu động vật chỉ hoạt động theo bản năng, nhằm thíchnghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài, thì con người nhờ vào thựctiễn – như hoạt động có ý thức, có mục đích của mình mà cải tạo thế giới đểthỏa mãn nhu cầu của mình, thích nghi một cách chủ động, tích cực với thếgiới và để làm chủ thế giới Con người không thể thỏa mãn với những gì mà
tự nhiên cung cấp cho mình dưới dạng có sẵn Con người phải tiến hành laođộng sản xuất ra của cải vật chất để nuôi sống mình Để lao động và lao động
có hiệu quả, con người phải biết chế tạo công cụ và sử dụng công cụ lao động.Bằng hoạt động thực tiễn, trước hết là lao động sản xuất, con người tạo nênnhững vật phẩm vốn không có sẵn trong tự nhiên Không có hoạt động đó,