Lời nói đầu Lời nói đầu Một kiến trúc sư, dù tài năng đến mấy, nhưng những ý tưởng thiên tài chỉ được phác họa trong đầu và trên trang giấy thì mãi mãi không được công nhận Phải bắt tay vào chuẩn bị n.Lời nói đầuMột kiến trúc sư, dù tài năng đến mấy, nhưng những ý tưởng thiên tài chỉ được phác họa trong đầu và trên trang giấy thì mãi mãi không được công nhận. Phải bắt tay vào chuẩn bị nguyên vật liệu rồi xây dựng, từ viên gạch, cái móng nhà cho đến cây cột đỡ..thì công trình trong mơ ấy mới có thể dần dần thành hình.Chính Thomas Alva Edison đã phát minh ra bóng đèn sợi đốt nhưng để có được phát minh vĩ đại ấy , ông đã phải trải qua hàng trăm cuộc thí nghiệm lớn nhỏ. Chỉ tính riêng việc tìm ra vật liệu thích hợp cho dây tóc, Edison đã mất gần một năm (18781879), từ sợi Platine cho đến những kim loại hiếm khác như Rhodium, Ruthenium, Titane, Zirconium,…và cuối cùng, thử nghiệm với sợi than mảnh đã thành công. Điều đó cho thấy mối quan hệ đặc biệt khăng khít giữa nhận thức và thực tiễn, hay nói đơn giản hơn là giữa lý thuyết và thực hành. Bởi hoạt động thực tiễn là cơ sở, là nguồn gốc, là động lực, là mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn của chân lý, kiểm tra tính chân lý của quá trình nhận thức. Như vậy, nhận thức và thực tiễn có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau.Đặt vào trong hoàn cảnh nước ta bây giờ, khi đang trong quá trình mở cửa, đổi mới và hội nhập với thế giới, câu hỏi lớn đặt ra là : cái gì cần phải thay đổi, phát triển, cái gì cần giữ nguyên và duy trì? Trả lời câu hỏi ấy đòi hỏi phải có một nhận thức đúng đắn và những hoạt động thực tiễn thích hợp. Trong khi đó, học sinh sinh viên là những hạt nhân đóng vai trò quan trọng trong việc kiến thiết và phát triển đất nước, liệu đất nước sẽ ra sao nếu như họ có nhận thức lệch lạc, những hoạt động thực tiễn sai lầm…? Trước khi xét đến toàn cục xã hội, phải có những thành tố tạo nên nó vững chắc đã :”Móng khỏe thì nhà mới bền”. Và sự thực là, từng thành viên, cá nhân tốt thì tập thể mới vững mạnh. Chính vì vậy, sinh viên đại học nói chung và sinh viên trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ nói riêng lại càng phải thấu hiểu vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, để mục đích cuối cùng là áp dụng cho chính bản thân. Thực tiễn luôn luôn thay đổi, đổi mới. Từ cấp III lên đại học là một thay đổi, một bước nhảy quan trọng , sinh viên cần phải lớn hơn trong suy nghĩ và cả hành động. Việc xác định nghiên cứu vai trò của thực tiễn đối với nhận thức sẽ giúp sinh viên chúng ta có được nhận thức cũng như hành động tốt trong học tập và rèn luyện. Đề tài này thực sự gần gũi, thiết thực cho sinh viên trong cuộc sống cũng như trong học tập.Trong quá trình làm tiểu luận khó tránh khỏi những thiếu sót, kính mong thầy giáo và bạn đọc bổ sung ý kiến và giúp đỡ để bài tiểu luận của tôi hoàn thiện hơn.Tôi xin chân thành cảm ơnSinh viên : Nguyễn Đình Thành Lớp TC 1452Nội dungChương I: Cơ sở lý luận1.Khái niệm nhận thức và thực tiễn1.1 Khái niệm nhận thức:Nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn.1.2 Khái niệm thực tiễn:Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mụch mang tính lịch sử xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội.2. Vai trò của thực tiễn đối với nhận thứcHoạt động thực tiễn là cơ sở, là nguồn gốc, là động lực, là mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn cho tính chân lý của quá trình nhận thức. Sở dĩ như vậy vì thực tiễn là điểm xuất phát trực tiếp của nhận thức; nó đề ra nhu cầu, nhiệm vụ, cách thức, khuynh hướng vận động và phát triển của nhận thức.Thực tiễn có hai chức năng quan trọng : chuyển cái tinh thần thành cái vật chất (khách quan hóa chủ quan) và chuyển cái vật chất thành cái tình thần (chủ quan hóa khách quan). Trên cơ sở đó, ta có bốn vai trò cơ bản của thực tiễn đối với khách quan:2.1 Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc của nhận thức:Nhận thức ngay từ đầu đã xuất phát từ thực tiễn, do thực tiễn quy định.Con người luôn luôn có nhu cầu khách quan là phải giải thích và cải tạo thế giới, điều đó bắt buộc con người phải tác động trực tiếp vào các sự vật, hiện tượng bằng hoạt động thực tiễn của mình, làm cho các sự vật vận động, biến đổi, qua đó bộc lộ các thuộc tính, kết cấu, quy luật, những mối liên hệ bên trong chúng. Các thuộc tính và mối liên hệ đó được con người ghi nhận chuyển thành những tài liệu cho nhận thức, giúp cho nhận thức nắm bắt được bản chất các quy luật phát triển của thế giới. Ví dụ, xuất phát từ nhu cầu cần đo đạc diện tích, đo sức chứa của các bình mà toán học đã ra đời và trở thành công cụ tính toán hữu hiệu cho đến ngày nay…Suy cho cùng, không có một lĩnh vực nào lại không xuất phát từ thực tiễn, không nhằm vào việc phục vụ hướng dẫn thực tiễn.Mặt khác, nhờ có hoạt động thực tiễn mà các giác quan con người ngày càng được hoàn thiện; năng lực tư duy logic không ngừng được củng cố và phát triển, càng phượng tiên nhận thức ngày càng tinh vi, hiện đại, có tác dụng “nối dài” các giác quan của con người trong việc nhận thức thế giới, Chẳng hạn, từ công việc điều hành, tổ chức nền sản xuất…mà đòi hỏi các môn khoa học quản lý ra đời.Thực tiễn là nguồn tri thức, đồng thời cũng là đối tượng của nhận thức.2.2 Thực tiễn là động lực của nhận thức :Mỗi bước phát triển của thực tiễn lại luôn đặt ra những vấn đề mới cho nhận thức, thúc đẩy nhận thức tiếp tục phát triển. Như vậy, thực tiễn trang bị những phương tiện mới, đặt ra những nhu cầu cấp bách hơn, nó rà soát sự nhận thức. Trong hoạt động thực tiễn luôn không ngừng biễn đổi và phát triển, đề ra những nhu cầu, nhiệm vụ phương hướng phát triển của nhận thức, nhu cầu thực tiễn đòi hỏi phải có những tri thức mới, phải tổng kết kinh nghiệm, khái quát lý luận. Đó chính là động lực thúc đẩy nhận thức phát triển.2.3 Thực tiễn là mục đích của nhận thức:Những tri thức khoa học chỉ có ý nghĩa thực tiễn khi nó được vận dụng vào thực tiễn. Mục đích cuối cùng của nhận thức không phải là bản thân tri thức mà là nhằm cải tạo hiện thực khách quan phục vụ đời sống vật chất và tinh thần của xã hội. Thực tiễn nêu ra những vấn đề cho nhận thức hướng tới giải quyết, là nơi thể hiện sức mạnh của tri thức, biến tri thức khoa học thành phương tiện giúp cho hoạt động thực tiễn có hiệu quả.Thực tiễn cũng tạo ra những phương tiện cần thiết giúp cho việc nghiên cứu khoa học , đem lại những tài liệu, dữ kiện giúp tổng kết, khái quát hình thành lý luận.Lý luận mà không theo thực tiễn là lý luận suông, thực tiễn mà không theo lý luận là thực tiễn mù quáng. Nếu không vì thực tiễn thì nhận thức sẽ mất phương hướng. Do đó, nếu thoát ly thực tiễn, không dựa vào thực tiễn thì nhận thức sẽ xa rời cơ sở hiện thực,nuôi dưỡng những phát sinh, tồn tại. Vì vậy, chủ thể nhận thức sẽ không thể có được những tri thức đúng đắn và sâu sắc về thế giới.2.4 Thực tiễn là tiêu chuẩn của nhận thức :Chỉ có thể đem những tri thức thu nhận được kiểm nghiệm qua thực tiễn mới thấy rõ tính sai lầm hay đúng đắn của chúng. Bởi vì nhận thức thường diễn ra trong cả quá trình bao gồm các hình thức trực tiếp và gián tiếp, điều đó không thể tránh khỏi tình trạng là kết quả nhận thức không phản ánh đầy đủ các thuộc tính của sự vật. Mặt khác, trong quá trình hình thành kết quả nhận thức thì các sự vật cần nhận thức không đúng yêu cầu mà nằm trong quá trình vận động không ngừng. Trong quá trình đó, nhiều thuộc tính nhiều mối quan hệ mới đã bộc lộ mà nhận thức chưa kịp phản ánh. Để phát hiện mức độ chính xác đầy đủ của kết quả nhận thức phải dựa vào thực tiễn. Mọi sự biến đổi của nhận thức, suy cho cùng không thể vượt ra ngoài sự kiểm tra của thực tiễn, sự kiểm nghiệm trực tiếp của thực tiễn.Qua thực tiễn để bổ sung điều chỉnh sửa chữa phát triển và hoàn thiện kết quả nhận thức. Khi những tri thức được thực tiễn xác minh là đúng thì tri thức đó trở thành chân lý, nếu chưa đúng thì phải được nhận thức lại. Các Mác viết : “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan hay không, hoàn toàn không phải là vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý.”
Trang 1Lời nói đầu
Một kiến trúc sư, dù tài năng đến mấy, nhưng những ý tưởng thiên tài chỉ được phác họa trong đầu và trên trang giấy thì mãi mãi không được công nhận Phải bắt tay vào chuẩn bị nguyên vật liệu rồi xây dựng, từ viên gạch, cái móng nhà cho đến cây cột đỡ thì công trình trong mơ ấy mới có thể dần dần thành hình
Chính Thomas Alva Edison đã phát minh ra bóng đèn sợi đốt nhưng để có được phát minh vĩ đại ấy , ông đã phải trải qua hàng trăm cuộc thí nghiệm lớn nhỏ Chỉ tính riêng việc tìm ra vật liệu thích hợp cho dây tóc, Edison đã mất gần một năm (1878-1879), từ sợi Platine cho đến những kim loại hiếm khác như Rhodium, Ruthenium, Titane, Zirconium,…và cuối cùng, thử nghiệm với sợi than mảnh đã thành công Điều đó cho thấy mối quan hệ đặc biệt khăng khít giữa nhận thức và thực tiễn, hay nói đơn giản hơn là giữa lý thuyết và thực hành Bởi hoạt động thực tiễn là cơ sở, là nguồn gốc, là động lực, là mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn của chân lý, kiểm tra tính chân lý của quá trình nhận thức Như vậy, nhận thức và thực tiễn có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau
Đặt vào trong hoàn cảnh nước ta bây giờ, khi đang trong quá trình mở cửa, đổi mới và hội nhập với thế giới, câu hỏi lớn đặt ra là : cái gì cần phải thay đổi, phát triển, cái gì cần giữ nguyên và duy trì? Trả lời câu hỏi ấy đòi hỏi phải có một nhận thức đúng đắn và những hoạt động thực tiễn thích hợp Trong khi đó, học sinh sinh viên là những hạt nhân đóng vai trò quan trọng trong việc kiến thiết và phát triển đất nước, liệu đất nước sẽ ra sao nếu như họ có nhận thức lệch lạc, những hoạt động thực tiễn sai lầm…? Trước khi xét đến toàn cục xã hội, phải có những thành tố tạo nên nó vững chắc đã :”Móng khỏe thì nhà mới bền” Và sự thực là, từng thành viên, cá nhân tốt thì tập thể mới vững mạnh Chính vì vậy, sinh viên đại học nói chung và sinh viên trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ nói riêng lại càng phải thấu hiểu vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, để mục đích cuối cùng là áp dụng cho chính bản thân Thực tiễn luôn luôn thay đổi, đổi mới Từ cấp III lên đại học là một thay đổi, một bước nhảy quan trọng , sinh viên cần phải lớn hơn trong suy nghĩ và cả hành động Việc xác định nghiên cứu vai trò của thực tiễn đối với nhận thức sẽ giúp sinh viên chúng ta có được nhận thức cũng như hành
Trang 2động tốt trong học tập và rèn luyện Đề tài này thực sự gần gũi, thiết thực cho sinh viên trong cuộc sống cũng như trong học tập
Trong quá trình làm tiểu luận khó tránh khỏi những thiếu sót, kính mong thầy giáo và bạn đọc bổ sung ý kiến và giúp đỡ để bài tiểu luận của tôi hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên : Nguyễn Đình Thành
Lớp TC 14-52
Nội dung Chương I: Cơ sở lý luận
1.Khái niệm nhận thức và thực tiễn
1.1 Khái niệm nhận thức:
Nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong
bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn
1.2 Khái niệm thực tiễn:
Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mụch mang tính lịch sử xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội
Trang 32 Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
Hoạt động thực tiễn là cơ sở, là nguồn gốc, là động lực, là mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn cho tính chân lý của quá trình nhận thức Sở dĩ như vậy
vì thực tiễn là điểm xuất phát trực tiếp của nhận thức; nó đề ra nhu cầu, nhiệm vụ, cách thức, khuynh hướng vận động và phát triển của nhận thức
Thực tiễn có hai chức năng quan trọng : chuyển cái tinh thần thành cái vật chất (khách quan hóa chủ quan) và chuyển cái vật chất thành cái tình thần (chủ quan hóa khách quan) Trên cơ sở đó, ta có bốn vai trò cơ bản của thực tiễn đối với khách quan:
2.1 Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc của nhận thức:
Nhận thức ngay từ đầu đã xuất phát từ thực tiễn, do thực tiễn quy định
Con người luôn luôn có nhu cầu khách quan là phải giải thích và cải tạo thế giới, điều đó bắt buộc con người phải tác động trực tiếp vào các sự vật, hiện tượng bằng hoạt động thực tiễn của mình, làm cho các sự vật vận động, biến đổi, qua đó bộc lộ các thuộc tính, kết cấu, quy luật, những mối liên hệ bên trong chúng Các thuộc tính và mối liên hệ đó được con người ghi nhận chuyển thành những tài liệu cho nhận thức, giúp cho nhận thức nắm bắt được bản chất các quy luật phát triển của thế giới Ví dụ, xuất phát từ nhu cầu cần đo đạc diện tích, đo sức chứa của các bình mà toán học đã ra đời và trở thành công cụ tính toán hữu hiệu cho đến ngày nay…Suy cho cùng, không có một lĩnh vực nào lại không xuất phát từ thực tiễn, không nhằm vào việc phục vụ hướng dẫn thực tiễn
Mặt khác, nhờ có hoạt động thực tiễn mà các giác quan con người ngày càng được hoàn thiện; năng lực tư duy logic không ngừng được củng cố và phát triển, càng phượng tiên nhận thức ngày càng tinh vi, hiện đại, có tác dụng “nối dài” các giác quan của con người trong việc nhận thức thế giới, Chẳng hạn, từ công việc điều hành, tổ chức nền sản xuất…mà đòi hỏi các môn khoa học quản lý ra đời
Thực tiễn là nguồn tri thức, đồng thời cũng là đối tượng của nhận thức
Trang 42.2 Thực tiễn là động lực của nhận thức :
Mỗi bước phát triển của thực tiễn lại luôn đặt ra những vấn đề mới cho nhận thức, thúc đẩy nhận thức tiếp tục phát triển Như vậy, thực tiễn trang bị những phương tiện mới, đặt ra những nhu cầu cấp bách hơn, nó rà soát sự nhận thức Trong hoạt động thực tiễn luôn không ngừng biễn đổi và phát triển, đề ra những nhu cầu, nhiệm vụ phương hướng phát triển của nhận thức, nhu cầu thực tiễn đòi hỏi phải có những tri thức mới, phải tổng kết kinh nghiệm, khái quát lý luận Đó chính là động lực thúc đẩy nhận thức phát triển
2.3 Thực tiễn là mục đích của nhận thức:
Những tri thức khoa học chỉ có ý nghĩa thực tiễn khi nó được vận dụng vào thực tiễn Mục đích cuối cùng của nhận thức không phải là bản thân tri thức mà là nhằm cải tạo hiện thực khách quan phục vụ đời sống vật chất và tinh thần của xã hội Thực tiễn nêu ra những vấn đề cho nhận thức hướng tới giải quyết, là nơi thể hiện sức mạnh của tri thức, biến tri thức khoa học thành phương tiện giúp cho hoạt động thực tiễn có hiệu quả
Thực tiễn cũng tạo ra những phương tiện cần thiết giúp cho việc nghiên cứu khoa học , đem lại những tài liệu, dữ kiện giúp tổng kết, khái quát hình thành lý luận
Lý luận mà không theo thực tiễn là lý luận suông, thực tiễn mà không theo
lý luận là thực tiễn mù quáng Nếu không vì thực tiễn thì nhận thức sẽ mất phương hướng Do đó, nếu thoát ly thực tiễn, không dựa vào thực tiễn thì nhận thức sẽ xa rời cơ sở hiện thực,nuôi dưỡng những phát sinh, tồn tại Vì vậy, chủ thể nhận thức
sẽ không thể có được những tri thức đúng đắn và sâu sắc về thế giới
2.4 Thực tiễn là tiêu chuẩn của nhận thức :
Trang 5Chỉ có thể đem những tri thức thu nhận được kiểm nghiệm qua thực tiễn mới thấy rõ tính sai lầm hay đúng đắn của chúng Bởi vì nhận thức thường diễn ra trong
cả quá trình bao gồm các hình thức trực tiếp và gián tiếp, điều đó không thể tránh khỏi tình trạng là kết quả nhận thức không phản ánh đầy đủ các thuộc tính của sự vật Mặt khác, trong quá trình hình thành kết quả nhận thức thì các sự vật cần nhận thức không đúng yêu cầu mà nằm trong quá trình vận động không ngừng
Trong quá trình đó, nhiều thuộc tính nhiều mối quan hệ mới đã bộc lộ mà nhận thức chưa kịp phản ánh Để phát hiện mức độ chính xác đầy đủ của kết quả nhận thức phải dựa vào thực tiễn Mọi sự biến đổi của nhận thức, suy cho cùng không thể vượt ra ngoài sự kiểm tra của thực tiễn, sự kiểm nghiệm trực tiếp của thực tiễn.Qua thực tiễn để bổ sung điều chỉnh sửa chữa phát triển và hoàn thiện kết quả nhận thức Khi những tri thức được thực tiễn xác minh là đúng thì tri thức đó trở thành chân lý, nếu chưa đúng thì phải được nhận thức lại Các Mác viết : “Vấn
đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan hay không, hoàn toàn không phải là vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý.”
3 Ý nghĩa phương pháp luận
Chủ nghĩa duy vật biện chứng xây dựng nên một nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, chung nhất đối với mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người Nguyên tắc đó là : trong mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn đòi hỏi phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan đồng thời phát huy tính nặng động chủ quan
-Xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan là xuất phát từ tính khách quan của vật chất, có thái độ tôn trọng đối với hiện thực khách quan
Trang 6-Phát huy tính năng động chủ quan là phát huy vai trò tích cực, năng động, sáng tạo của ý thức và phát huy vai trò nhân tố con người trong việc vật chất hóa tính tích cực, năng động, sáng tạo ấy
*Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phải phòng, chống và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí; đó là hành động lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực, lấy ý muốn chủ quan làm chính sách, lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược, sách lược….Đây cũng phải là quá trình chống chủ nghĩa kinh nghiệm, xem thường tri thức khoa học, xem thường lý luận, bảo thủ,trí tuệ, thụ động…trong hoạt động nhận thức và thực tiễn
Chương II: Vận dụng vào cuộc sống sinh viên hiện nay
1 Thực trạng trong cuộc sống sinh viên hiện nay
Trang 7Đó chính là : không có phương hướng Sinh viên, đa số tại sao không quyết định hay thâm chí mang tính chất biết được mình sẽ làm gì sau khi ra trường? Học thế nào để đạt kết quả tốt nhất? Nên học và nghiên cứu những gì thì phù hợp với
xu thế thời đại và thời điểm hiện tại? Sinh viên thậm chí còn chưa hiểu đúng về chuyên ngành của mình học, chưa hiểu được công việc hay nói cách khách là những gì mình học sẽ áp dụng thế nào trong tương lai khi họ tốt nghiệp ra trường
và đi làm? Và vì vậy mà làm “biến chât” đi cái gọi là “mục đích của nhận thức”
Thực tế là nhiều sinh viên vẫn đang theo lối học từ chưởng sáo mòn cũ kĩ, trở thành những kẻ học thức chỉ biết chữ nghĩa thánh hiền Học chỉ để lấy tư duy nên học cần phải có “sáng tạo”; phải có lời giải hay, phải có mẹo làm bài thi kiểm tra
để ra đáp số nhanh nhất, điểm cao nhất, nhưng những cái đó lại kém thiết thực đối với đời sống nhất Nếu bạn không tin vào điều đó, hãy nhìn vào hiện thực và tự vấn mình rằng tại sao có những : “thủ khoa giỏi nhưng chưa tài?” Học sinh thi đỗ đại học với số điểm cao nhưng vẫn phải “học đi rồi học lại” tới hàng chục học trình trong trường đại học? Sinh viên tốt nghiệp bằng đại học khá giỏi vẫn tỏ ra ngỡ ngàng trước công tác thực tế, trước những yêu cầu khách quan của thực tiễn đời sống Xét cho cùng cũng bởi vì những người ấy đi học mà không xác định được mình học để làm gì ngoài việc nghĩ rằng : cứ học là sẽ tốt, họ đi trên một con đường nhưng lại không biết nó dẫn tới đâu ngoài suy nghĩ rằng :”thế là xong”, còn sinh viên đại học khi được tốt nghiệp ra trường rồi thì nghĩ rằng : “thế là ổn”!!! Nhận thức sai lầm kéo theo đó việc ứng dụng vào thực tiễn lúng túng, khó khăn, thậm chí là phá hoại
“Không biết mà làm thì vô tội, nhưng biết mà vẫn làm thì mới tai hại” Điều đáng nói là đa phần học sinh đều nhận thức được cái gì đúng, sai; cái gì nên làm và không nên làm…nhưng lại vẫn a dua, hòa theo số đông, do lợi ích cá nhân trước mắt, do tâm lý lo ngại trước dư luận…Biết vượt đèn đỏ là vi phạm pháp luật nhưng người ta vượt thì tội gì mà mình không vượt? Biết thầy nói sai nhưng vẫn cứ im
Trang 8lặng, kệ! Từng tí, từng tí đã thiết lập trong sinh viên những thói quen tệ hại và dần đưa họ về lối mòn của chủ nghĩa quan liêu, giáo điều
2.Vận dụng thực tiễn vào nhận thức trong cuộc sống sinh viên
2.1 Trong học tập
“Học phải đi đôi với hành, học mà không hành thì vô ích Hành mà không học thì hành không trôi trảy.” Lời dạy của Bác Hồ có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc học của chúng ta ngày nay.Đối với sinh viên còn đang ngồi trên giảng đường đại học, nhận thức, hiểu cụ thể chính là quá trình tiếp thu kiến thức đã được tích lũy trong sách vở, là nắm vững lý luận đã được đúc kết trong các bộ môn khoa học, là tìm hiểu khám phá những tri thức của loài người nhằm chinh phục thiên nhiên, vũ trụ Còn “vận dụng vai trò của thực tiễn đối với nhận thức” ở đây chính
là “hành”, tức là làm, là thực hành, là ứng dụng kiến thức, lý thuyết cho thực tiễn đời sống
Trước khi vận dụng, phải vững lý thuyết Giỏi lý thuyết khong vẫn chưa đủ Nếu không ứng dụng vào cuộc sống thì những gì chúng ta học được chẳng phải vô ích sao? Không phải tự nhiên mà một chiếc máy bay có thể bay được Đó là kết quả của hàng vạn cuộc thí nghiệm, nghiên cứu của hàng nghìn nhà khoa học suốt nhiều thế kỷ, thành công có, thất bại có Nhưng nếu không thử thì đã không có phương tiện hiện đại nhanh bậc nhất như bây giờ Sau khi thất bại nên tự hỏi “tại sao mình thất bại?”, để rút kinh nghiệm cho lần sau Giữ vững niềm tin, đam mê,
Trang 9sáng tạ ứng dụng lý thuyết vào thực nghiệm, thành công sẽ mỉm cười! Tuy nhiên,
từ nhận thức đến thực tiễn là cả một đoạn đường dài Muốn đi được trên chặng đường ấy, ta phải trả bằng mồ hôi công sức, thời gian, của cải, nước mắt và có khi
cả bằng máu Đôi khi qua thực hành mà ta kiểm định lại kiến thức đã học bằng thực nghiệm mà người ta tìm ra lỗ hổng của những giả thiết tưởng chừng là đúng
Mặt khác, sinh viên cần phải có ý thức đúng đắn trong việc “học” và “hành”
Đó là phải có thái độ học tập nghiêm túc, không học qua loa chiếu lệ kiểu “cưỡi ngựa xem hoa”, vừa học vừa chơi Trên giảng đường phải tập trung chú ý nghe thầy cô giảng bài, mạnh dạn hỏi những điều chưa hiểu chưa biết, ghi chép bài theo cách riêng của mình nhưng dễ hiểu mà vẫn khoa học, không chéo từng câu từng chữ từng dấu phẩy, về nhà học bài cũ, nghiên cứu trước bài mới, làm bài tập đầy
đủ Tránh học theo kiểu học vẹt, học lý thuyết suông mà phải kết hợp lý thuyết thực hành, vận dụng sáng tạo những kiến thức thầy cô truyền thụ vào bài tập thực hành Khi thầy cô đưa ra một vấn đề, một nhận định hay học thuyết nào đó, hãy tự hình dung trong đầu những ví dụ về sự vật hiện tượng quanh ta về nó rồi sau đó xem xét, đánh giá, so sánh tương quan nó trong mối quan hệ biện chứng với những
sự vật, hiện tượng khác có liên quan tới chúng Câu hỏi: “Vì sao lại thế?” phải luôn thường trực trong đầu mỗi sinh viên đại học Chỉ với việc làm nho nhỏ đó, chúng
ta đang dần bước đến phương pháp nghiên cứu khoa học
Qua đó ta học được cách nhìn nhận vạn vật rồi xây dựng để tài, và thực tế khi bắt tay vào hiện thực công việc thì sẽ không còn lúng túng, loay hoay không biết nên bắt đầu từ đâu, làm gì, làm như thế nào và muốn đạt kết quả nào, cho ai
“Trăm hay không bằng tay quen” Người lao động xưa đã từng quan niệm rằng lý thueyest không bằng thực hành giỏi Điều đó cho thấy người xưa đã đề cao vai trò của thực tiễn “Con tằm ăn dâu, đâu phải để mà nhả dâu, mà là để nhả tơ…” tức là nếu như học mà không “tiêu hóa” mà không “hành” thì khác gì con tằm nhả dâu, nhả lại đúng những gì nó đã ăn Sinh viên rồi cũng chẳng khác gì cái máy thu thanh, chỉ lặp lại những gì thầy cô đã nói Học như thế, không có lợi ích gì cho
Trang 10mình mà còn hạ phẩm cách của con người ngang với máy móc George Duhamel
có nói : “Đừng sợ máy móc của bên ngoài…hãy sợ máy móc của cõi lòng” Lối học không hướng đến thực tế sẽ chỉ đào tạo ra một lũ : nịnh thần” làm suy đồi dân trí Đó là lối học hình thức, học mưu cầu danh lợi, học để hướng đến những mục đích tầm thường và thậm chí là ích kỷ, hại dâu Trong thư gửi hội nghị giáo dục toàn quốc (3-1955), Người viết: “Giáo dục cần nhằm vào mục đích là thật thà phụng sự nhân dân Các cháu thì học tập cần gắn với thực hành để mai sau thực hiện mục đích cao quý ấy…Học phải đi đôi với hành, không tách rời việc học chữ với lao động chân tay, không tách rời trí thức với quần chúng lao động Có kiến thức là quý, nhưng chỉ thực sự quý khi kiến thức ấy phục vụ cho dân, cho nước”
Chúng ta phải xác định xem học để làm gì và mỗi người nên tư duy về cái gì
để phù hợp với sở trường, năng lực, điều kiện và công việc cá nhân? Xã hội học tập nhưng học cái gì để thiết thực cho công tác sản xuất của mỗi người học?
Để vận dụng tốt thực tiễn vào nhận thức, sinh viên trước hết phải là những người chủ động trong đón nhận tri thức và vận hành nó bằng chính bàn tay bà khối
óc của mình Nguồn kiến thức là vô hạn, và cách tiếp cận nó cũng muôn hình vạn trạng, Học từ sách vở thầy cô, sao không học từ bạn bè,ông bà , cha mẹ,từ báo chí,
…Muốn nhận thức tốt phải thực hiện đầy đủ 4 thao tác: nghe, nhìn, đọc, viết;nghĩa
là phải huy động bốn giác quan, bốn bộ phận cơ thể để học, học và học Thức hai, sinh viên nhất thiết phải bổ trợ thiêm kiến thức xã hội để phục vụ cho thực tiễn cuộc sống Sinh viên năng động, vì vậy nên tích cực tham gia vào thảo luận hoạt đông nhóm,các câu lạc bộ, các diễn đàn, forum, các hoạt động đoàn trường sôi nổi
để trau dồi kĩ năng sống, kĩ năng quản lý sắp xếp, giúp nhận thức của bản thân dễ dàng hòa nhập và biến đổi phù hợp trong thực tiễn đời sống Nếu ví thuyền là nhận thức thì sinh viên chúng ta là những thuyền trưởng có kinh nghiệm, kĩ năng trước biển lớn chính là thực tiễn
2.2 Trong rèn luyện