TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI TP HỒ CHÍ MINH KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Họ và tên SV Mã số SV Mã nhóm HP TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Vấn đề biện chứng giữa lực lượng sản xuất và q.TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI TP. HỒ CHÍ MINHKHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊHọ và tên SV Mã số SV Mã nhóm HPTIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINHVẤN ĐỀ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT TRONG TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI CUỘC SỐNG VÀ VIỆC HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN HIỆN NAYGiảng viên hướng dẫn: Ths...Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2021 MỤC LỤCPHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU1PHẦN II: NỘI DUNG2CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ SẢN XUẤT VÀ LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT21.1. Một số khái niệm cơ bản21.1.1. Lực lượng sản xuất21.1.2. Quan hệ sản xuất:21.2. Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất:31.2.1. Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất:31.2.2. Quan hệ sản xuất có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất:41.2.3. Tác động ngược lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất.4CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CUỘC SỐNG VÀ QUÁ TRÌNH HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY62.1. Thực trạng sinh viên hiện nay62.1.1. Đánh giá chung62.1.2. Đặc điểm sinh viên Việt Nam hiện nay62.2. Quá trình học tập82.2.1. Điểm mạnh82.2.2. Mặt hạn chế92.2.3. Nguyên nhân11CHƯƠNG III: VẬN DỤNG LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ SẢN XUẤT VÀ LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT TRONG QUÁ TRÌNH HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY123.1. Xác định phương pháp tiếp thu trong mối quan hệ phương pháp dạy học123.2. Tự tìm kiếm và vận dụng phương pháp tự học phù hợp ở từng sinh viên13PHẦN III: KẾT LUẬN15 PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦUSau 35 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đưa nước ta từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp và ngày càng hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới; đời sống của người dân ngày càng được cải thiện, vị thế và uy tín của đất nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Đóng góp vào những thành quả to lớn này của phát triển đất nước là sự đầu tư phát triển đồng đều giữa lực lượng sản xuất là quan hệ sản xuất của Đảng và nhà nước.Từ sau thời kỳ đổi mới, Đảng ta đặc biệt quan tâm tìm tòi, phát triển nhận thức, tư duy về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trên tổng thể và đối với từng yếu tố cấu thành của quan hệ sản xuất. Đó là một quá trình phát triển liên tục về nhận thức thông qua lãnh đạo, chỉ đạo và tổng kết lý luận thực tiễn, với nhiều đổi mới quan trọng, mang tính đột phá, nhất là từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đến nay, từ đó đề ra những chiến lược, chính sách đúng đắn, đem lại những thành tựu to lớn trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì vậy chúng e đã lựa chọn chủ đề “ Vấn đề biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong triết học Mác Lênin và ý nghĩa của nó đối với cuộc sống và việc học tập của sinh viên hiện nay” để hiểu rõ hơn về mặt lý luận cũng như những vận dụng đúng đắn của Đảng và Nhà nước. PHẦN II: NỘI DUNGCHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ SẢN XUẤT VÀ LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT1.1. Một số khái niệm cơ bản1.1.1. Lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất là toàn bộ những năng lực sản xuất của một xã hội nhất định, ở một thời kỳ nhất định. Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ tác động giữa con người với tự nhiên, biểu hiện trình độ sản xuất của con người và năng lực thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất. Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất và người lao động với tri thức, phương pháp sản xuất, kỹ năng, kỹ xảo và thói quen lao động của họ. Trong các yếu tố hợp thành lực lượng sản xuất, người lao động là chủ thể và bao giờ cũng là lực lượng sản xuất cơ bản, quyết định nhất của xã hội. 1.1.2. Quan hệ sản xuất: Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng sản phẩm xã hội (sản xuất và tái sản xuất xã hội). Trong quá trình sản xuất, con người không chỉ có quan hệ với tự nhiên, tác động vào giới tự nhiên, mà còn có quan hệ với nhau, tác động lẫn nhau. Hơn nữa, chỉ có trong quan hệ tác động lẫn nhau thì con người mới có sự tác động vào tự nhiên và mới có sản xuất. Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất, biểu hiện mối quan hệ giữa con người với con người trên ba mặt chủ yếu sau: Quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất là quan hệ giữa con người với con người trong việc chiếm hữu tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội. Quan hệ trong tổ chức và quản lý là quan hệ giữa con người với con người trong việc tổ chức quản lý sản xuất xã hội và trong trao đổi hoạt động cho nhau. Quan hệ phân phối lưu thông là quan hệ giữa con người với con người trong phân phối và lưu thông sản phẩm xã hội. Các mặt nói trên của quan hệ sản xuất có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định. Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào chiếm hữu tư liệu sản xuất thì giai cấp đó là giai cấp thống trị; giai cấp ấy đứng ra tổ chức, quản lý sản xuất và sẽ quyết định tính chất, hình thức phân phối, cũng như quy mô thu nhập. Ngược lại, giai cấp, tầng lớp nào không có tư liệu sản xuất thì sẽ là giai cấp, tầng lớp bị thống trị, bị bóc lột vì buộc phải làm thuê và bị bóc lột dưới nhiều hình thức khác nhau.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Họ và tên SV - Mã số SV - Mã nhóm HP
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ
MINH VẤN ĐỀ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN
HỆ SẢN XUẤT TRONG TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI CUỘC SỐNG VÀ VIỆC HỌC TẬP CỦA SINH
VIÊN HIỆN NAY
Giảng viên hướng dẫn: Ths
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU 1
PHẦN II: NỘI DUNG 2
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ SẢN XUẤT VÀ LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT 2
1.1 Một số khái niệm cơ bản 2
1.1.1 Lực lượng sản xuất 2
1.1.2 Quan hệ sản xuất: 2
1.2 Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất: 3
1.2.1 Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất: 3
1.2.2 Quan hệ sản xuất có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất: 4
1.2.3 Tác động ngược lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất 4
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CUỘC SỐNG VÀ QUÁ TRÌNH HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY 6
2.1 Thực trạng sinh viên hiện nay 6
2.1.1 Đánh giá chung 6
2.1.2 Đặc điểm sinh viên Việt Nam hiện nay 6
2.2 Quá trình học tập 8
2.2.1 Điểm mạnh 8
2.2.2 Mặt hạn chế 9
2.2.3 Nguyên nhân 11
Trang 3CHƯƠNG III: VẬN DỤNG LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ SẢN XUẤT VÀ LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT TRONG QUÁ TRÌNH HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY 12 3.1 Xác định phương pháp tiếp thu trong mối quan hệ phương pháp dạy học 12 3.2 Tự tìm kiếm và vận dụng phương pháp tự học phù hợp ở từng sinh viên 13 PHẦN III: KẾT LUẬN 15
Trang 4PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU
Sau 35 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đưa nước ta từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp và ngày càng hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới; đời sống của người dân ngày càng được cải thiện, vị thế và uy tín của đất nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao Đóng góp vào những thành quả
to lớn này của phát triển đất nước là sự đầu tư phát triển đồng đều giữa lực lượng sản xuất là quan hệ sản xuất của Đảng và nhà nước
Từ sau thời kỳ đổi mới, Đảng ta đặc biệt quan tâm tìm tòi, phát triển nhận thức, tư duy về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất trên tổng thể và đối với từng yếu tố cấu thành của quan hệ sản xuất Đó là một quá trình phát triển liên tục về nhận thức thông qua lãnh đạo, chỉ đạo và tổng kết lý luận - thực tiễn, với nhiều đổi mới quan trọng, mang tính đột phá, nhất là từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đến nay, từ
đó đề ra những chiến lược, chính sách đúng đắn, đem lại những thành tựu to lớn trong xây dựng chủ nghĩa xã hội
Vì vậy chúng e đã lựa chọn chủ đề “ Vấn đề biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong triết học Mác - Lênin và ý nghĩa của nó đối với cuộc sống và việc học tập của sinh viên hiện nay” để
hiểu rõ hơn về mặt lý luận cũng như những vận dụng đúng đắn của Đảng và Nhà nước
Trang 5PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ SẢN XUẤT VÀ LỰC
LƯỢNG SẢN XUẤT 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất là toàn bộ những năng lực sản xuất của một xã hội nhất định, ở một thời kỳ nhất định Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ tác động giữa con người với tự nhiên, biểu hiện trình độ sản xuất của con người và năng lực thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất
Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất và người lao động với tri thức, phương pháp sản xuất, kỹ năng, kỹ xảo và thói quen lao động của họ Trong các yếu tố hợp thành lực lượng sản xuất, người lao động là chủ thể và bao giờ cũng là lực lượng sản xuất cơ bản, quyết định nhất của xã hội
1.1.2 Quan hệ sản xuất:
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng sản phẩm xã hội (sản xuất và tái sản xuất xã hội)
Trong quá trình sản xuất, con người không chỉ có quan hệ với tự nhiên, tác động vào giới tự nhiên, mà còn có quan hệ với nhau, tác động lẫn nhau Hơn nữa, chỉ có trong quan hệ tác động lẫn nhau thì con người mới có sự tác động vào tự nhiên và mới có sản xuất
Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất, biểu hiện mối quan hệ giữa con người với con người trên ba mặt chủ yếu sau:
- Quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất là quan hệ giữa con người với con người trong việc chiếm hữu tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội
Trang 6- Quan hệ trong tổ chức và quản lý là quan hệ giữa con người với con người trong việc tổ chức quản lý sản xuất xã hội và trong trao đổi hoạt động cho nhau
- Quan hệ phân phối lưu thông là quan hệ giữa con người với con người trong phân phối và lưu thông sản phẩm xã hội
Các mặt nói trên của quan hệ sản xuất có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào chiếm hữu tư liệu sản xuất thì giai cấp đó là giai cấp thống trị; giai cấp ấy đứng ra tổ chức, quản lý sản xuất và sẽ quyết định tính chất, hình thức phân phối, cũng như quy mô thu nhập Ngược lại, giai cấp, tầng lớp nào không có tư liệu sản xuất thì sẽ là giai cấp, tầng lớp bị thống trị, bị bóc lột vì buộc phải làm thuê và bị bóc lột dưới nhiều hình thức khác nhau
1.2 Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất:
1.2.1 Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất:
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo thành quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất (quy luật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển xã hội)
Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp với nó Khi một phương thức sản xuất mới ra đời, khi đó quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một trạng thái mà trong đó quan hệ sản xuất là “hình thức phát
Trang 7triển” của lực lượng sản xuất Trong trạng thái đó, tất cả các mặt của quan hệ sản xuất đều “tạo địa bàn đầy đủ” cho lực lượng sản xuất phát triển Điều đó
có nghĩa là, nó tạo điều kiện sử dụng và kết hợp một cách tối ưu giữa người lao động với tư liệu sản xuất và do đó lực lượng sản xuất có cơ sở để phát triển hết khả năng của nó
1.2.2 Quan hệ sản xuất có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất:
Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, nhưng quan hệ sản xuất không hoàn toàn thụ động mà tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất có thể tác động đến lực lượng sản xuất vì nó quy định mục đích của sản xuất, tác động đến thái độ của con người trong lao động sản xuất, đến tổ chức phân công lao động xã hội, đến phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ và do đó tác động đến sự phát triển của lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Ngược lại quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu hoặc “tiên tiến” hơn một cách giả tạo so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Khi quan hệ sản xuất kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, thì theo quy luật chung, quan hệ sản xuất cũ sẽ được thay thế bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại Sự thay thế, phát triển của lịch sử nhân loại từ chế độ công xã nguyên thuỷ, qua chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa
và đến xã hội cộng sản tương lai là do sự tác động của hệ thống các quy luật
xã hội, trong đó quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất
Trang 81.2.3 Tác động ngược lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất
Trước hết quan hệ sản xuất là mặt không thể thiếu của phát triển sản xuất lực lượng sản xuất không thể tồn tại, phát triển ở bên ngoài quan hệ sản xuất, nó là hình thức tất nhiên của phương thức sản xuất Quan hệ sản xuất có thể tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm lực lượng sản xuất
Khi quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất thì nó mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển bằng cách nó sắp xếp các yếu tố của lực lượng sản xuất đúng vị trí, chức năng của chúng làm cho chúng phát huy được tính năng, tác dụng của chúng Nhưng khi quan hệ sản xuất phù hợp không phù hợp với lực lượng sản xuất thì trở thành xiềng xích trói buộc đối với lực lượng sản xuất làm cho chúng không phát huy tác dụng Sự không phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất có thể xảy ra theo 2 xu hướng vượt quá hoặc lạc hậu so với lực lượng sản xuất
Quan hệ sản xuất xác định mục đích xã hội của nền sản xuất nào, tổ chức sản xuất được tiến hành vì lợi ích của tập đoàn sản xuất nào, tổ chức sản xuất vì lợi ích nào và phân phối, sản phẩm có lợi cho ai Như thế có nghĩa là mọi mặt của quan hệ sản xuất đều ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến lực lượng sản xuất trực tiếp
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất là quy luật chung cơ bản của quá trình lịch sử loài người nó tác động trong những giai đoạn lịch sử cơ bản của xã hội là nguyên nhân căn bản của sự hình thành và phát triển ổn định của những cấu trúc kinh tế xã hội xác định trong lịch sử Đồng thời cũng là nguyên nhân của những bước chuyển lịch sử cơ bản từ giai đoạn lịch sử này sang giai đoạn khác.Từ phát triển sản xuất nguyên thủy sang phát triển sản xuất chiếm hữu nô lệ, tiếp theo là phương thức phong kiến rồi sang phương thức tư bản và cuối cùng là sang phát triển sản xuất cộng sản chủ nghĩa
Trang 9Sự tác động của quan hệ này trong lịch sử đã xác định vai trò quy định của phát triển sản xuất trong sự hình thành và phát triển của những cấu trúc xã hội nhất định
Điều kiện tự nhiên và dân số là những yếu tố tất yếu, tác động thường xuyên đến quá trình sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi hoặc khó khăn nhất định cho sản xuất và cũng như quá trình tồn tại và phát triển xã hội Nhưng không phải là nhân tố quyết định.Chỉ có sự phát triển của phương thức sản xuất mới
là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CUỘC SỐNG VÀ QUÁ TRÌNH
HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY 2.1 Thực trạng sinh viên hiện nay
2.1.1 Đánh giá chung
Trước hết, có thể khẳng định thanh niên sinh viên hiện nay rất năng động, nhạy bén với cuộc sống và công việc, bên cạnh đó họ tiếp thu được nhiều phẩm chất tốt đẹp: chăm chỉ, kiên chì và nỗ lực Chúng ta rút ra được những kết luận ấy khi chứng kiến lớp thanh niên đã đạt đạt được những thành tựu cùng với sự đổi mới của đất nước Nếu như trước đây chúng ta chỉ thấy những sinh viên học hành cần cù luôn cắm đầu vào đọc sách, dù mài kinh sử
để sau khi tốt nghiệp lấy được bằng cử nhân được Nhà nước phân công đi công tác mà một số người đã quên hết cả xung quanh
Thanh niên Việt Nam du học ngày càng nhiều ở rất nhiều nước trên thế giới đã mang về cho đất nước những tiến sĩ trẻ nắm vững kiến thức chuyên ngành đảm nhiệm phát chuyển những ngành mũi nhọn nhằm đẩy mạnh sự phát chuyển kinh tế, khoa học, kỹ thuật
2.1.2 Đặc điểm sinh viên Việt Nam hiện nay
Nhân cách sinh viên Việt Nam trong điều kiện hiện nay, ngoài những đặc điểm chung của nhân cách, thì còn có những biểu hiện riêng về phẩm chất
Trang 10đạo đức và năng lực, như sinh viên hiện nay năng động, sáng tạo và thực tế hơn So với các thế hệ sinh viên trước đổi mới, sinh viên hiện nay có tính thực
tế cao Chọn ngành học là biểu hiện đầu tiên của tính thực tế Họ tập trung nhất vào những ngành học mà ra trường có thể xin việc được ngay vì xã hội đang cần, những nghề có thu nhập cao, chỉ số ít sinh viên chọn nghề theo mơ ước
Sinh viên hiện nay rất năng động Họ năng động trong phương thức tiếp nhận tri thức để hoàn thành tốt nhiệm vụ chính là học tập; năng động trong quá trình tham gia vào hoạt động xã hội: Làm thêm dưới nhiều hình thức thời gian (nửa ngày, vài ngày trong một tuần, buổi tối), phong phú về nghề (làm gia sư, bán hàng, giúp việc nhà ) Một số sinh viên có tham vọng trở thành những nhà kinh doanh giỏi đã mở cửa hàng kinh doanh thể hiện tính chủ động, sáng tạo cao trong công việc của mình
Tính sáng tạo của sinh viên được thể hiện ở việc rất nhiều sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học và đạt giải cao trong các kỳ thi quốc tế, quốc gia, giải thưởng Tài năng trẻ Việt Nam hàng năm do Bộ Giáo dục và Đào tạo
tổ chức
Sinh viên hiện nay đề cao vai trò cá nhân: Kinh tế thị trường có tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay Sinh viên luôn có ý thức cao việc khẳng định nhân cách bằng cách trau dồi kiến thức chuyên môn, khẳng định vị trí của mình trước xã hội Đồng thời, họ thể hiện rõ vai trò cá nhân, lợi ích cá nhân trong hành động Lợi ích chung và sự quan tâm, chia sẻ với những người xung quanh dường như bị lấn át bởi việc thực hiện những lợi ích riêng, nhu cầu cá nhân ở một bộ phận sinh viên
Sinh viên xác định rõ phương pháp thực hiện lý tưởng của mình: Lý tưởng cao cả của sinh viên Việt Nam hiện nay là giữ vững nền độc lập dân tộc
Trang 11và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Trong đó, đạo đức cộng sản là yếu
tố cấu thành quan trọng nên lý tưởng của sinh viên Khẳng định điều này vì đạo đức là thành phần đặc biệt trong nhân cách của sinh viên, cái để phân biệt
sự khác nhau giữa nhân cách này với nhân cách khác xuất phát từ điểm gốc là
"đức" trong mỗi con người
2.2 Quá trình học tập
2.2.1 Điểm mạnh
Những thành tựu mà sinh viên đã đạt được.
Trước hết, chúng ta có thể khẳng định thanh niên sinh viên hiện nay rất năng động, nhạy bén với cuộc sống và công việc, bên cạnh đó họ tiếp thu được nhiều phẩm chất tốt đẹp: chăm chỉ, kiên chì và nỗ lực Chúng ta rút ra được những kết luận ấy khi chứng kiến lớp thanh niên đã đạt đạt được những thành tựu cùng với sự đổi mới của đất nước Nếu như trước đây chúng ta chỉ thấy những sinh viên học hành cần cù luôn cắm đầu vào đọc sách, dù mài kinh sử để sau khi tốt nghiệp lấy được bằng cử nhân được Nhà nước phân công đi công tác mà một số người đã quên hết cả xung quanh
Nếu chúng ta cũng chỉ thấy một lớp thanh niên ở nông thôn chưa đầy hai mươi đã lập gia đình suốt ngày phơi lưng ra đồng, quần quật vất vả thì giờ đây chúng ta thấy một giới sôi động đầy màu sắc của thanh niên, sinh viên, họ chỉ chăm chú học tập mà còn biết vận dụng những kiến thức được học vào cuộc sống Tham gia các hoạt động xã hội, xông sáo và nhạy bén “họ có nhiều điều kiện để phát chuyển khả năng sáng tạo, do có đầy đủ thông tin, cuộc sống chắt lược tốt hơn, và chủ động hơn trong việc lựa chọn nghề nghiệp tốt cả những cái đó làm họ năng động hơn” Vì thế những huychương vàng, huy chương bạc quốc tế các môn văn hoá cũng như thể thao đều lọt vào tay đội tuyển Việt Nam Chúng ta không thể quên các thế hệ học sinh sinh viên đạt giải quốc tế các môn : Toán, Vật lý, hoá học… mà gần đây nhất là