1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cạnh tranh là gì? vì sao trong nền kinh tế thị trường cần phải duy trì sự cạnh tranh và hạn chế đọc quyền? liên hệ thực tiễn việt nam

12 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cạnh tranh là gì? Vì sao trong nền kinh tế thị trường cần phải duy trì sự cạnh tranh và hạn chế độc quyền? Liên hệ thực tiễn Việt Nam
Trường học Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 33,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC PHẦN I MỞ ĐẦU 1 PHẦN II NỘI DUNG 2 CHƯƠNG I MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUY LUẬT CẠNH TRANH 2 1 1 Cạnh tranh 2 1 1 1 Khái niệm 2 1 1 2 Các loại hình cạnh tranh 2 1 2 Lý do cần duy trì sự cạnh tra. MỤC LỤCPHẦN I: MỞ ĐẦU1PHẦN II: NỘI DUNG2CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUY LUẬT CẠNH TRANH21.1. Cạnh tranh:21.1.1. Khái niệm21.1.2. Các loại hình cạnh tranh21.2. Lý do cần duy trì sự cạnh tranh hà hạn chế độc quyền31.2.1. Vai trò của cạnh tranh:31.2.2. Hạn chế của độc quyền3CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHO VẤN ĐỀ CẠNH TRANH TRONG NỀN KINH TẾ Ở NƯỚC TA52.1. Thực trạng cạnh tranh tại nước ta52.1.1. Những thành tựu đạt được52.1.2. Những tồn tại cần khắc phục52.2. Một số giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của nước ta72.2.1. Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát triển phân công lao động xã hội nâng cao sức cạnh tranh.72.2.2. Giải pháp và quản lý điều hành và phát triển nguồn nhân lực để nâng cao khả năng cạnh tranh.8PHẦN III: KẾT LUẬN9 PHẦN I: MỞ ĐẦUỞ nước ta, sau một thời gian dài trước đổi mới, với chính sách kinh tế tập trung , quan liêu, bao cấp, những thiếu sót, những ảnh hưởng nghiêm trọng bắt nguồn tứ sự méo mó giá cả dẫn tới việc phân bổ không hợp lý các nhân tố sản xuất, sự yếu kém, sa sút và thiếu năng lực của quản lý nhà nước. Sự gia tăng khoảng cách giáu nghèo, đại đa số dân chúng sống trong cơ cực với thu nhập thấp. Từ sau Đại hội Đảng lần VI, nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà Nước, mở ra cho nước ta một hướng đi mới, một cơ hội mới để phát triển đất nước, hoà nhập vào thế giới. Thế giới đang biến động, ngày càng chuyển biến với xu hướng hội nhập và toàn cầu hoá ngày càng diễn ra sâu sắc. Do hội nhập kinh tế là xu hướng tất yếu và khách quan, một nước muốn phát triển không còn cách nào khác là phải hoà vào nền kinh tế thế giới. Trước tình hình mới về cơ chế thị trường và cơ chế quản lý, cạnh tranh để đứng vững và phát triển là tất yếu không thể tránh khỏi. Chủ động hội nhập quốc tế, tiến hành điều tra, phân loại, đánh giá khả năng cạnh tranh của từng sản phẩm, mặt hàng, có biện pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, nâng cao sức cạnh tranh là một trong những việc cần thiết và cấp bách hiện nay. Chính vì thế, chúng ta phải nhìn nhận, đánh giá khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay để từ đó có những bước đi đúng đắn, những giải pháp triệt để, thích hợp, những phương hướng để nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế thị trường Việt Nam. Do đó, sau một thời gian tìm hiểu, tôi đã lựa chọn đề tài “ Cạnh Tranh là gì? Vì sao trong nền kinh tế thị trường cần phải duy trì sự cạnh tranh và hạn chế độc quyền? Liên hệ thực tiễn Việt Nam.” Nhằm nghiên cứu về mặt lý luận cũng như thực tiễn, đồng thời đưa ra những giải pháp hiệu quả. PHẦN II: NỘI DUNGCHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUY LUẬT CẠNH TRANH1.1. Cạnh tranh:1.1.1. Khái niệm“Cạnh tranh là sự đấu tranh giữa các chủ thể kinh tế nhằm giành lợi nhuận tối đa cho mình. Cạnh tranh là yếu tố cơ bản của cơ chế thị trường. Nó là hiện tượng tất yếu của kinh tế thị trường, ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá, thì ở đó có cạnh tranh.” Cạnh tranh là một yếu tố khách quan và có thể nói rằng không có cạnh tranh thì không có phát triển, cạnh tranh là động lực của phát triển không có cạnh tranh thì không có phát triển. Cho dù ở đâu đi chăn nữa thì cạnh tranh luông tồn tại, kể cả trong đơì sống hằng ngày, nhưng ở đây ta chỉ xét ở góc độ kinh tế. Từ năm 1986 trở về trước thì người ta đã có những quan điển sai lầm khi kìm hẵm sự cạnh tranh ở các lĩnh vực, các gốc độ khác nhau tì quan niện cạnh tranh cũng khác nhau. Nhưng theo quan điểm tổng hợp thì cạnh tranh là: quá trình kinh tế mà ở đó chủ thể kinh tế ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp, thủ đoạn, cách thức, tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là nhằm chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như những điều kiện sản xuất có lợi nhất. Cạnh tranh ở đây được thể hiện chủ yếu ra mặt ngoài của sản phẩm. Từ khái niệm trên ta có thể hiểu khả năng cạnh tranh của khả năng của sản phẩm là tất cả những gì mà sản phẩm đó đã có, đang và sẽ có để có thể ưu thế so với các phẩm khác cùng loại hoặc khác loại trong quá trình cạnh tranh.1.1.2. Các loại hình cạnh tranh Cạnh tranh nội bộ ngành: là sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hoá có lợi hơn để thu lợi nhuận siêu ngạch. Cạnh tranh ngành: là sự cạnh tranh giữa các ngành sản xuất khác nhau, nhằm mục đích tìm nơi đầu tư có lợi hơn. Tự do cạnh tranh sinh ra tích tụ và tập trung sản xuất. Khi quy mô sản xuất phát triển đến một mức độ nào đó thì sẽ dẫn tới độc quyền.1.2. Lý do cần duy trì sự cạnh tranh hà hạn chế độc quyền1.2.1. Vai trò của cạnh tranh: Vai trò của cạnh tranh được hiểu qua các chức năng của nó: Cạnh tranh là cơ chế điều khiển linh hoạt sản xuất của xã hội và do đó làm phân bổ các nguồn lực kinh tế của xã hội một cách tối ưu. Mục đích hoạt động của các doanh nghiệp là lợi nhuận tối đa, do đó họ sẽ đầu tư vào những nơi có lợi nhuận cao nhất, tức là nguồn lực kinh tế của xã hội sẽ được chuyển đến nơi mà nó được sử dụng với hiệu quả cao nhất.Mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế làm cho cạnh tranh trở thành tất yếu. Cạnh tranh là động lực quan trọng để cải tiến kỹ thuật, phát triển lực lượng sản xuất. Do đó nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi cho cạnh tranh.Do cạnh tranh, người sản xuất hàng hoá phải cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất để giảm chi phí sản xuất đến mức tối thiểu nhờ đó mà có thể cạnh tranh về giá cả, đứng vững trong cạnh tranh. Quá trình đó đã nâng cao năng suất lao động trong xã hội thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.Cạnh tranh thường xảy ra mạnh được yếu thua, các chủ thể có hành vi thứ ứng với thị trường tì sẽ tồn tại và phát triển, ngược lại các chủ thể kinh tế có hành vi không thích ứng với thị trường thì sẽ bị đào thải.1.2.2. Hạn chế của độc quyềnĐộc quyền được xác định là sự khuyết tật của nền kinh tế thị trường, bởi các nước nằm trong nhóm phát triển sẽ sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để kiểm soát tính độc quyền trong lĩnh vực mình đang thống trị, vô hình chung làm hạn chế sự lớn mạnh, đa dạng trong lĩnh vực đó.– Gía độc quyền thường được xác định là cao hơn so với mức giá trung bình. Do các công ty khi đã có tính độc quyền trong mỗi sản phẩm, dịch vụ thì họ thường không lo ngại về vấn đề mất khách hàng vào tay đối thủ.– Do duy trì tính độc quyền trên thi trường nên khiến cho những đối thủ cạnh tranh khác không thể gia nhập vào thị trường. Điều này đã tạo chỗ đứng tuyệt đối cho những công ty độc quyền, tuy nhiên lại khiến cho thị trường phân phối sản phẩm và phân khúc người dung không đạt được hiệu quả cao như mong đợi.– Ngoài ra việc chiếm giữ thị trường quá lâu nên sẽ không tạo ra được động lực đổi mới cho những công ty độc quyền. Đồng nghĩa với việc khi những công ty đối thủ đang tiến hành cải tiến, nâng cao sản phẩm của mình và ngày càng đạt được vị thế trong lòng người tiêu dùng thì những công ty độc quyền khi này sẽ dề dàng bị tụt lùi về phía sau.– Sự độc quyền đi kèm với giá phân phối sản phẩm quá cao đã làm hạn chế đối tượng người tiêu dùng, đồng thời trong một thị trường độc quyền thì chính người tiêu dùng lại không có quá nhiều sự lựa chọn cho chính sản phẩm mà họ sẽ sử dụng, điều này về lâu dài sản tạo ra sự khó chịu cho chính người tiêu dùng.

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

PHẦN II: NỘI DUNG 2

CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUY LUẬT CẠNH TRANH 2

1.1 Cạnh tranh: 2

1.1.1 Khái niệm 2

1.1.2 Các loại hình cạnh tranh 2

1.2 Lý do cần duy trì sự cạnh tranh hà hạn chế độc quyền 3

1.2.1 Vai trò của cạnh tranh: 3

1.2.2 Hạn chế của độc quyền 3

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHO VẤN ĐỀ CẠNH TRANH TRONG NỀN KINH TẾ Ở NƯỚC TA 5

2.1 Thực trạng cạnh tranh tại nước ta 5

2.1.1 Những thành tựu đạt được 5

2.1.2 Những tồn tại cần khắc phục 5

2.2 Một số giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của nước ta 7

2.2.1 Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát triển phân công lao động xã hội nâng cao sức cạnh tranh 7

2.2.2 Giải pháp và quản lý điều hành và phát triển nguồn nhân lực để nâng cao khả năng cạnh tranh 8

PHẦN III: KẾT LUẬN 9

Trang 2

PHẦN I: MỞ ĐẦU

Ở nước ta, sau một thời gian dài trước đổi mới, với chính sách kinh tế tập trung , quan liêu, bao cấp, những thiếu sót, những ảnh hưởng nghiêm trọng bắt nguồn tứ sự méo mó giá cả dẫn tới việc phân bổ không hợp lý các nhân tố sản xuất,

sự yếu kém, sa sút và thiếu năng lực của quản lý nhà nước Sự gia tăng khoảng cách giáu nghèo, đại đa số dân chúng sống trong cơ cực với thu nhập thấp Từ sau Đại hội Đảng lần VI, nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà Nước, mở ra cho nước ta một hướng đi mới, một cơ hội mới để phát triển đất nước, hoà nhập vào thế giới

Thế giới đang biến động, ngày càng chuyển biến với xu hướng hội nhập và toàn cầu hoá ngày càng diễn ra sâu sắc Do hội nhập kinh tế là xu hướng tất yếu và khách quan, một nước muốn phát triển không còn cách nào khác là phải hoà vào nền kinh tế thế giới Trước tình hình mới về cơ chế thị trường và cơ chế quản lý, cạnh tranh để đứng vững và phát triển là tất yếu không thể tránh khỏi Chủ động hội nhập quốc tế, tiến hành điều tra, phân loại, đánh giá khả năng cạnh tranh của từng sản phẩm, mặt hàng, có biện pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, nâng cao sức cạnh tranh là một trong những việc cần thiết và cấp bách hiện nay Chính vì thế, chúng ta phải nhìn nhận, đánh giá khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay để từ đó có những bước đi đúng đắn, những giải pháp triệt để, thích hợp, những phương hướng để nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế thị trường Việt Nam Do đó, sau một thời gian tìm hiểu, tôi đã lựa chọn đề

tài “ Cạnh Tranh là gì? Vì sao trong nền kinh tế thị trường cần phải duy trì sự cạnh tranh và hạn chế độc quyền? Liên hệ thực tiễn Việt Nam.” Nhằm nghiên

cứu về mặt lý luận cũng như thực tiễn, đồng thời đưa ra những giải pháp hiệu quả

Trang 3

PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUY LUẬT CẠNH

TRANH 1.1 Cạnh tranh:

1.1.1 Khái niệm

“Cạnh tranh là sự đấu tranh giữa các chủ thể kinh tế nhằm giành lợi nhuận tối đa cho mình Cạnh tranh là yếu tố cơ bản của cơ chế thị trường Nó là hiện tượng tất yếu của kinh tế thị trường, ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá, thì ở đó có cạnh tranh.”

Cạnh tranh là một yếu tố khách quan và có thể nói rằng không có cạnh tranh thì không có phát triển, cạnh tranh là động lực của phát triển không có cạnh tranh thì không có phát triển Cho dù ở đâu đi chăn nữa thì cạnh tranh luông tồn tại, kể cả trong đơì sống hằng ngày, nhưng ở đây ta chỉ xét ở góc độ kinh tế Từ năm 1986 trở

về trước thì người ta đã có những quan điển sai lầm khi kìm hẵm sự cạnh tranh ở các lĩnh vực, các gốc độ khác nhau tì quan niện cạnh tranh cũng khác nhau Nhưng theo quan điểm tổng hợp thì cạnh tranh là: quá trình kinh tế mà ở đó chủ thể kinh tế ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp, thủ đoạn, cách thức, tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là nhằm chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như những điều kiện sản xuất có lợi nhất

Cạnh tranh ở đây được thể hiện chủ yếu ra mặt ngoài của sản phẩm Từ khái niệm trên ta có thể hiểu khả năng cạnh tranh của khả năng của sản phẩm là tất cả những gì mà sản phẩm đó đã có, đang và sẽ có để có thể ưu thế so với các phẩm khác cùng loại hoặc khác loại trong quá trình cạnh tranh

1.1.2 Các loại hình cạnh tranh

- Cạnh tranh nội bộ ngành: là sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hoá có lợi hơn để thu lợi nhuận siêu ngạch

- Cạnh tranh ngành: là sự cạnh tranh giữa các ngành sản xuất khác nhau, nhằm mục đích tìm nơi đầu tư có lợi hơn

Trang 4

- Tự do cạnh tranh sinh ra tích tụ và tập trung sản xuất Khi quy mô sản xuất phát triển đến một mức độ nào đó thì sẽ dẫn tới độc quyền

1.2 Lý do cần duy trì sự cạnh tranh hà hạn chế độc quyền

1.2.1 Vai trò của cạnh tranh:

Vai trò của cạnh tranh được hiểu qua các chức năng của nó:

- Cạnh tranh là cơ chế điều khiển linh hoạt sản xuất của xã hội và do đó làm phân bổ các nguồn lực kinh tế của xã hội một cách tối ưu Mục đích hoạt động của các doanh nghiệp là lợi nhuận tối đa, do đó họ sẽ đầu tư vào những nơi có lợi nhuận cao nhất, tức là nguồn lực kinh tế của xã hội sẽ được chuyển đến nơi mà nó được sử dụng với hiệu quả cao nhất

- Mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế làm cho cạnh tranh trở thành tất yếu Cạnh tranh là động lực quan trọng để cải tiến kỹ thuật, phát triển lực lượng sản xuất

Do đó nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi cho cạnh tranh

- Do cạnh tranh, người sản xuất hàng hoá phải cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất để giảm chi phí sản xuất đến mức tối thiểu nhờ đó mà có thể cạnh tranh về giá cả, đứng vững trong cạnh tranh Quá trình đó đã nâng cao năng suất lao động trong xã hội thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển

- Cạnh tranh thường xảy ra mạnh được yếu thua, các chủ thể có hành vi thứ ứng với thị trường tì sẽ tồn tại và phát triển, ngược lại các chủ thể kinh tế có hành vi không thích ứng với thị trường thì sẽ bị đào thải

1.2.2 Hạn chế của độc quyền

Độc quyền được xác định là sự khuyết tật của nền kinh tế thị trường, bởi các nước nằm trong nhóm phát triển sẽ sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để kiểm soát tính độc quyền trong lĩnh vực mình đang thống trị, vô hình chung làm hạn chế sự lớn mạnh, đa dạng trong lĩnh vực đó

– Gía độc quyền thường được xác định là cao hơn so với mức giá trung bình

Do các công ty khi đã có tính độc quyền trong mỗi sản phẩm, dịch vụ thì họ thường không lo ngại về vấn đề mất khách hàng vào tay đối thủ

Trang 5

– Do duy trì tính độc quyền trên thi trường nên khiến cho những đối thủ cạnh tranh khác không thể gia nhập vào thị trường Điều này đã tạo chỗ đứng tuyệt đối cho những công ty độc quyền, tuy nhiên lại khiến cho thị trường phân phối sản phẩm và phân khúc người dung không đạt được hiệu quả cao như mong đợi

– Ngoài ra việc chiếm giữ thị trường quá lâu nên sẽ không tạo ra được động lực đổi mới cho những công ty độc quyền Đồng nghĩa với việc khi những công ty đối thủ đang tiến hành cải tiến, nâng cao sản phẩm của mình và ngày càng đạt được

vị thế trong lòng người tiêu dùng thì những công ty độc quyền khi này sẽ dề dàng bị tụt lùi về phía sau

– Sự độc quyền đi kèm với giá phân phối sản phẩm quá cao đã làm hạn chế đối tượng người tiêu dùng, đồng thời trong một thị trường độc quyền thì chính người tiêu dùng lại không có quá nhiều sự lựa chọn cho chính sản phẩm mà họ sẽ

sử dụng, điều này về lâu dài sản tạo ra sự khó chịu cho chính người tiêu dùng

Trang 6

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHO VẤN ĐỀ CẠNH

TRANH TRONG NỀN KINH TẾ Ở NƯỚC TA 2.1 Thực trạng cạnh tranh tại nước ta

2.1.1 Những thành tựu đạt được

Sau 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, nền kinh tế nước ta đã đạt được những tiến bộ vượt bậc trên nhiều mặt trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế Trong vòng 20 năm, GDP tăng 6 lần, hơn 40 triệu người dân thoát khỏi đói, nghèo Với việc trở thành thành viên WTO, nền kinh tế nước ta được xác lập một vị thế mới, ngày càng vững chắc trong hệ thống kinh tế thế giới, sức hấp dẫn đầu tư tăng lean mạnh mẽ

Nền kinh tế nước ta đã đổi mới căn bản cả thế và lực, đang đứng trước những

cơ hội to lớn và triển vọng sáng sủa hơn bao giờ hết Đó là sự thay đổi chất lượng quan trọng của quá trình phát triển, đưa nền kinh tế nước ta sang moat giai đoạn mới, giai đoạn đổi mới và phát triển trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế toàn diện và sâu sắc hơn

Hội nhập kinh tế, chúng ta sẽ có nhiều cơ hội hơn Nhưng mặt khác, thách thức cũng lớn hơn và khó khăn cũng tăng lên Nền kinh tế và cánh doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với các đối thủ mạnh hơn gấp bội, trong một môi trường quốc tế có nhiều biến động, khó dự đoán và có độ rủi ro cao Trong điều kiện đó nếu không có một cơ cấu kinh tế tổng thể hiệu quả và vững chắc, một hệ thống thể chế vận hành đồng bộ, nền kinh tế sẽ không thể hội nhập thành công, càng không thể cạnh tranh thắng lợi và phát triển bền vững Đây chính là điểm mấu chốt phải tính đến khi xây dựng chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của nước ta trong giai doạn tới

2.1.2 Những tồn tại cần khắc phục

Nhìn chung, các hành vi cạnh trạnh được thể hiện bằng nhóm hành vi cạnh tranh không làm mạnh, phổ biến như:

Cạnh tranh bằng giá cả

Trang 7

Cạnh tranh thông qua giá cả là biện pháp kinh điển và lỗi thời ở các nước có nền kinh tế phát triển Nhưng đối với nền kinh tế thị trường còn non trẻ của nước ta, biện pháp bán phá giá đang trở thành một công cụ hữu hiệu của các hãng lớn sử dụng để thâu tóm thị phần của các đối thủ cạnh tranh Với thế mạnh về tại chính, kinh nghiệm, các doanh nghiệp nước ngoài tiến hành những cuộc phá giá giá thực

sự và đành được thắng lợi trước sự bất lực của các doanh nghiệp sản xuất nhỏ trong nước Hình thức cạnh tranh thông qua giá cả được nhiều doanh nghiệp thực hiện một cách hết sức tinh vi như: lượng hàng nhưng không tăng giá, khuyến mại bằng cánh cung cấp chính hàng hoá, dịch vụ …

Cạnh tranh bằng khuyến mại

Lợi dụng thế mạnh tại chính, bên cạnh việc bán phá giá, các hãnh lớn đang thi nhau tiến hành các chiến dịch khuyến mại với quy mô và giá trị ngày càng lớn với các món qúa, giải thưởng có giá trị và hấp dẫn, mỗi giải thưởng có khi lên tới vài trăm triệu đồng Với những chính sách khuyến mại này, người tiêu dùng có lẽ sẽ chẳng quan tâm đến việc phải lựa chọn và so sánh với các sản phẩm cùng loại mà chỉ quan tâm đến việc liệu mình có may mắn để trúng thưởng Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là trước chiến dịch khuyến mại, những giải thưởng được doanh nghiệp quảng cáo rầm rộ rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng , nhưng những thông tin về người trúng thưởng thì rất hiếm khi xuất hiện Thêm vào đó, với ngành công nghiệp quảnh cáo hiện đại, các doanh nghiệp lớn có thể tung ra những chương trình quảng cáo sinh động, ấn tượng được tuyên truyền rộng rãi và có ảnh hưởng sâu sắc tới mọi tầng lớp nhân dân

Cạnh tranh không lành mạnh trong quảng cáo.

Trong những năm gần đầy, cùng với sự phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng, hoạt động quảnh cáo diễn ra rất sôi động Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích thiết thực, hoạt động quảng cáo này cũng đã góp phần tạo ra một môi trường cạnh tranh không lành mạnh trong nền kinh tế nước ta Cuộc chiến trong lĩnh vực quảnh cáo đanh diễn ra nay kịch tính, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh diễn

ra ngày càng lộ liễu, được thế hiện chủ yếu ở những hành vi sau:

Trang 8

+ Quảnh cáo không trung thực

+ Quảnh cáo so sánh

Các hành vi dèm pha, bôi nhọ “đối thủ”

Hành vi dèm phá, bôi nhọ đối thủ được thực hiện bằng việc tung ra các tin tức không có thật nhằm giảm uy tín của đối thủ Chúng ta từng chứng kiến rất nhiều các

“chiêu thức” bôi nhọ, làm giảm uy tín của các đối thủ cạnh tranh khi họ tung ra thông tin rất giật gân và phi lý như tin đồn “trong chai bia của hãng A có gián

”hoặc“ trong chai nước nhọt của hãng B có kiến”, hoặc “sản phẩm của hãng C có hoá chất độc hại “sản phẩm của hãng này được lấy từ nước sống” … Các hãng sản xuất bị xâm phạm như thế này chỉ còn nước kêu trời và chứng minh cho sự trong sạch của mình Những hành vi dèm pha, bôi nhọ đối thủ cạnh tranh này rất nguy hiểm, vì chỉ cần một tin đồn là một doanh nghiệp làm ăn chân chính có thể phải đóng cửa do hàng hoá của mình không thể tiêu thụ được trên thị trường

Hành vi nhái nhãn hiệu nổi tiếng

Nhãn hiệu nổi tiếng là một lời thế cạnh tranh vô cùng lớn của các hãng sản xuất bởi khi đọc đến tên nhãn hiệu, người tiêu dùng có thể cảm nhận được ngay, phân biệt được tiềm lực, chất lượng, phương thức phục vụ của sản phẩm này so với sản phẩm cùng loại mang nhãn hiệu khác Hiện tượng nhái nhãn hiệu này đặc biệt phổ biến với các sản phẩm nổi tiếng trên thế giới Và như vậy, các đối thủ cạnh tranh đua nhau gắn cho sản phẩm của mình những nhãn mác nổi tiếng Tình trạng hàng nhái tràn lan và không kiểm soát được đến mức báo động khiến các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có sản phẩm nổi tiếng đã phải khuyến cáo người tiêu dùng nên mua hàng ngay tại siêu thị, đại lý độc quyền – nơi mà họ trực tiếp

2.2 Một số giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của nước ta

2.2.1 Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát triển phân công lao động xã hội nâng cao sức cạnh tranh.

Phát riển nền kinh tế hành hoá thì phải đẩy mạnh phân công lao động

xã hội Nhưng sự phát triển của phân công lao động xã hội do trình độ phát

Trang 9

triển của lực lượng sản xuất quyết định, cho nên muốn mở rộng phân công lao động xã hội phải đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của nền sản xuất lớn hiện đại Ngoài ra nước ta cần phải phân công lại lao động và phân bố lại dân cư trong phạm vi cả nước, cũng như của từng vùng, từng địa phương; hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý cho phép khai thác tốt nhất cac1 nguồn lực của đất nước,tạo nên sự tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững cho toàn bộ nền kinh tế cũng như việc phân bố sẽ làm giảm đáng kể chio phí sản xuất Đây là một yếu tố quan trọng trong việc làm tăng khả năng cạnh tranh của từng sản phẩm Việt Nam trong nền kinh tế thị trường đầy khốc liệt.

2.2.2 Giải pháp và quản lý điều hành và phát triển nguồn nhân lực để nâng cao khả năng cạnh tranh.

Củng cố các trường đào tạo, các trung tâm đào tạo kể cả việc thuê các chuyên gia nước ngoài để đáp ứng nhu cầu tăng vọt về các bộ quản lý và các

bộ kỷ thuật trong thời gian tới.

Các doanh nghiệp cần phải có kế hoạch xây dựng mạng lưới thông tin điều hành nhằm nâng cao hiệu quả điều hành và quản lý xí nghiệp.Đây là biện pháp gắn kết và quản lý hiện đại hiện nay Thuê các nhà quản lý, các chuyên gia nước ngoài để giải quyết khó khăn và diều hành các dự án mới Huy động nguồn nhân lực từ các doanh nghiệp hoạt động tốt bổ sung cho các doanh nghiệp gặp khó khăn Đây là biện pháp trực tiếp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm Hiện nay trang thiết bị kĩ thuật đang là vấn đề ảnh hưởnng rất lớn đến chất lượng sản phẩm nên các doanh nghiệp cần đầu tư trang thiết bị để nâng cao chất lượng sản phẩm và đạt hiệu quả sản xuất cao cùng với việc nâng cao chất lượng sản phẩm là đa dạng hoá các loại sản phẩm, mục tiêu mở rộng thị rường và thu hút nhiều khách hàng trong và ngoài nước.

Ngày đăng: 20/01/2023, 21:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w