PHẦN MỞ ĐẦU I Lí do chọn đề tài Trong sự nghiệp xây dựng đất nước tiến lên CNXH, chúng ta đã, đang và sẽ phải giải quyết hiệu quả mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại Tiếp thu sáng tạo, phát triể[.]
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài
Trong sự nghiệp xây dựng đất nước tiến lên CNXH, chúng ta đã, đang và sẽ phảigiải quyết hiệu quả mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại Tiếp thu sáng tạo, pháttriển tinh hoa các giá trị truyền thống, trong đó có các di sản tư tưởng của các danhnhân lịch sử nhằm phục vụ thiết thực công cuộc đổi mới đất nước là trách nhiệm củatoàn Đảng, toàn dân Hiện nay, chúng ta đang thực hiện công cuộc cải cách hành chínhnhằm tinh giản bộ máy hành chính, để cho việc quản lý, điều hành từ trên xuống dướiđược gọn nhẹ, hiệu quả thì những kinh nghiệm của lịch sử đáng để cho chúng tanghiên cứu và học hỏi Cuộc cải cách hành chính của vua Lê Thấnh Tông là một trongnhững cuộc cải cách lớn nhất trong lịch sử của nước ta Trong phạm vi nghiên cứu của
đề tài, tác giả chỉ xin giới hạn trong phạm vi cải cách chính quyền cấp cơ sở của vua
Lê Thánh Tông và ý nghĩa của nó tới ngày nay
Từ những lí do trên đây, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu của mình là: “Cải cách chínhquyền cấp sơ sở dưới thời Lê Thánh Tông”
II Đối tượng và phạm vi
2.1 Đối tượng: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cải cách chính quyền cấp cơ sở
dưới thời Lê Thánh Tông
2.2 Phạm vi: Trong giới hạn nhỏ bé của bài viết này, đề tài chỉ có thể nghiên cứu ở
khía cạnh cỉa cách chính quyền cấp cơ sở trong cuộc cải cách hnàh chính của LêThánh Tông
III Mục tiêu và nhiệm vụ
3.1 Mục tiêu: Đề tài làm rõc những cải cách, thay đổi trong hệ thống chính quyền cấp
cơ sở dưới thời Lê Thánh Tông nhằm đưa nông thôn vào trong một khuôn mẫu tổ chứcquản lý thống nhất, chặt chẽ trong đó mắt khâu yếu nhất, trọng tâm của mọi vấn đềchính là làm thế nào để có thể quản lý và sử dụng một cách có hiệu quả nhất dội ngũ
xã trưởng
3.2 Nhiệm vụ: Để đạt được mục tiêu trên, đề tài có nhiệm vụ trước hết là làm rõ hoàn
cảnh lịch sử Việt Nam thế kỉ XV, cuộc đời, sự nghiệp và nội dung công cuộc cải cáchcủa vua Lê Thánh Tông, trong đó đặc biệt chú ý tới cải cách chính quyền cấp cơ sở và
ý nghĩa của nó tới ngày nay
Trang 2IV Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài được ngiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng, Nhà nước về vấn đề này
Bên cạnh đó tác giả còn sử dụng một số phương pháp cụ thể như:
-phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu
-phương pháp quan sát
-phương pháp so sánh, thống kê, mô tả
.IV Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của đề tài được chia thành 4 chương
Trang 3PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I KHÁI LƯỢC HOÀN CẢNH LỊCH SỬ VIỆT NAM THẾ KỶ XV
1.1 Về kinh tế
Đầu thế kỉ XV đất nước Đại Việt đứng trước một thực trạng bi đát Cuộc khủngkinh tế-xã hội cuối thế kỉ XIV chưa được giải quyết thì đất nước rơi vào ách đô hộ tànbạo của nhà Minh liên tục suốt hai mươi năm(1407-1427) Kẻ thù xâm lược ra sức siếtchặt ách đô hộ nhằm bóc lột triệt để và đồng hoá dân tộc Nền sản xuất bị tàn phánghiêm trọng Quân xâm lược ra sức chiếm cướp đất đai xây dựng thành quách, ràođất làm đồn điền, phát canh thu tô, thiên tai, mất mùa, đói kém liên tiếp xảy ra, “ngườichết gối lên nhau” Tình trạng điêu tàn, xơ xác diễn ra khắp mọi nơi, sau chiến tranh,quê hương đất nước được giải phóng nhưng quang cảnh thật điêu tàn:
“Quay xe trở lại dạ thương đau Giặc phá, đồng hoang, nội cỏ rầu, Binh lửa mười năm tàn sức sống
Mơ màng ngàn dặm cảnh thương châu.”(1)(1)Nhà nước Lê sơ đứng trước hàng loạt vấn đề về kinh tế, xã hội quan trọng và cấpthiết đòi hỏi cần phải được giải quyết: vấn đề ruộng đất và nhân lực cho nông nghiệp,vấn đề giải phóng nô tỳ, phục hồi và phát triển sản xuất trong phạm vi cả nước để ổnđịnh chính trị xã hội Ra đời từ một cuộc trường kì kháng chiến và thắng lợi vẻ vangnhà Lê đã nhận thức được yêu cầu của lịch sử và đã thực hiện nhiều chính sách và biệnpháp kinh tế tích cực
*Chính sách ban cấp ruộng lộc cho quý tộc, quan lại (chế độ lộc điền)
Khác hẳn với các triều Lý, Trần, nhà Lê thực hiện chính sách lộc điền, đem ruộngđất thuộc quyền sở hữu của Nhà nước ban cấp cho tầng lớp quan lại cao cấp Đến thời
Lê Thánh Tông được quy định và ban hành thống nhất trong cả nước(2)(2) Nó có tácdụng củng cố bộ máy quan liêu, củng cố cơ sở xã hội của nhà nước phong kiến (giaicấp địa chủ), đánh dấu bước tiến trong quá trình hình thành và xác lập chế độ phongkiến Việt Nam
*Chính sách đối với bộ phận ruộng đất làng xã (chính sách quân điền)
Cũng như chính sách lộc điền, chíh sách quân điền đã được thực hiện lẻ tẻ ngay từnhững triều vua Thái Tổ, Thái Tông(3)(3) Đến thời Thánh Tông từ năm 1477 chính
(1) (1) Nguyễn Húc-một nho sĩ tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, sau chiến tranh trở về quê hương đau xót trước cảnh điêu tàn của làng xóm Trích “Hợp tuyển văn thơ Việt Nam” tập II, Hà Nội, 1957.
(2) (2) Ban hành vào năm 1477
(3) (3) Xem Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập III, Hà Nội, tr 127 Theo Phan Huy Chú thì dưới thời Thái Tổ đã có 24 điều luật về ruộng đất ( các điều 341,342, 345, 346…)
Trang 4sách quân điền mới được chính thức ban hành và từ năm 1481 được thực hiện trên quy
mô cả nước Đây là một đòn tấn công mạnh mẽ nhằm phủ định quyền chi phối ruộngđất công của làng xã theo tục lệ, buộc làng xã phải tuân thủ những nguyên tắc quy định
về phân chia và hưởng thụ bộ phận ruộng đất công-là bộ phận ruộng đất quan trọngnhất, lớn nhất của nhà nước, làng xã lệ thuộc chặt chẽ vào nhà nước
*Chính sách khẩn hoang và đồn điền
Để nhanh chóng phục hồi nền kinh tế nông nghiệp sau chiến tranh nhà nước Lê sơngay từ rất sớm đã có những chính sách khuyến khích nhân dân các làng xã khaihoang, lập làng, đặc biệt dưới thời Lê Thánh Tông Điều 349 trong bộ luật Hồng Đứcđịnh việc khai hoang, khai thác hết diện tích cấy cày thành pháp lệnh của nhà nước.Đến nửa sau thế kỉ XV diện tích sản xuất tăng thêm, nguồn thu nhập của nhà nước, bộphận nông dân tư hữu, tự do tăng lên, điều hoà mâu thuẫn giai cấp, ổn định xã hội,kinh tế nông nghiệp nhanh chóng được phục hồi và có bước phát triển
*Chính sách khuyến nông
Dưới thời Lê sơ, hàng loạt chính sách khuyến nông được thực hiện như chăm lo đêđiều và các công trình thuỷ lợi Nhà nước đặt riêng nghạch quan hà đê chuyên việctrông nom đê điều và nghạch quan khuyến nông lo đôn đốc việc sản xuất nông nghiệp
Tình hình công thương nghiệp
Thủ công nghiệp: Cùng với sự phát triển của nền kinh tế tiểu nông, thủ côngnghiệp có cơ sở và điều kiện mở rộng và khởi sắc Nhiều nghề thủ công truyền thốngnhư dệt vải, tơ, luạ, đan lát… khá phổ biến rộng rãi trong các gia đình nông dân Trongcác làng xã, nhiều làng thủ công nổi tiếng ra đời ngày càng nhiều, như làng Bát Tràng(Gia Lâm) chuyên sản xuất đồ gốm, làng Huê Cầu (Hải Hưng) nhuộm thâm, nghềnung vôi ở Yên Thế… Ở thành thị, thợ thủ công được tổ chức thành từng phườngchuyên môn Thăng Long có 36 Phố phương với những cơ sở sản xuất thủ công nổitiếng như phương Yên Thái làm giấy, Nghi Tàm, Thuỵ Chương dệt lụa, Hàng Đàonhuộm điều… Việc buôn bán cũng phát triển, các chợ đại phương phát triển rất mạnh,nhà Lê còn ban hành “lệ họp chợ” quy định việc chia chợ chợ cũ, thành lập chợ mới đểtiện việc trao đổi hàng hoá trong vùng
Có thể nói, đời sống của người nông dân nói riêng và nhân dân nói chung thời Lê
sơ tương đối được đảm bảo và ổn định.Cuộc sống thanh bình đó được phản ánh quanhững câu ca dao như:
Đời vua Thái Tổ, Thái TôngThóc lúa đầy đồng, trâu chẳng buồn ăn
Trang 51.2 Về chính trị
Nhà Lê trị vì đất nước Đại Việt trong nhiều thế kỉ, trải qua nhiều biến cố thăngtrầm Dười các triều vua Lê Thái Tổ (1428-1433), Lê Thái Tông (13\434-1442), LêNhân Tông (1443-1459) nhà nước quân chủ quan liêu chuyên chế (trung ương tậpquyền) ngày càng được củng cố và đạt đến độ phát triển cao dưới thời vua Lê ThánhTông (1460-1497)
Năm 1466, Lê Thánh Tông trong công cuộc cải cách hành chính đã chia cả nướclàm 12 đạo (còn gọi là thừa Tuyên) Năm 1471 lập thêm đạo Quảng Nam Quốc giaĐại Việt bấy giờ chia làm 13 đơn vị hành chính với tên gọi thống nhất( Thuận Hoá,Nghệ An, Thanh Hoá, Thiên Trường, Quốc Oai, Hưng Hoá, Nam Sách, Bắc Giang, AnBang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Nam) và 1 phủ là phủ PhụngThiên gồm 2 huyện: Thọ Xương và Quảng Đức Cả nước có 13 đạo, 49 phủ, 161huyện, 50 châu Các đơn vị cấp xã được quy định lại, xã lớn (gọi là đại xã) có từ 500
hộ trở lên, xã vừa (trung xã) có từ 300 hộ trở lên, xã nhỏ (tiểu xã) từ 100 hộ trở lên.Dưới thời Lê Thánh Tông, bộ máy quan liêu được tổ chức chặt chẽ và hoàn thiện từtrên xuống dưới, tập trung mọi quyền lực vào nhà nước trung ương đứng đầu là LêThánh Tông Nhà vua nắm tất cả quyền hành và là tổng chỉ huy quân đội, vua trực tiếpđiều khiển mọi việc triều chính Một số cơ quan trung gian cũng bị bãi bỏ như Nội mậtviện, Chính sự viện, Thượng thư sảnh, Môn hạ sảnh Giúp việc cho vua có các chứcThái sư, Thái phó, Thái bảo, Thái uý Đây là một bộ máy nhà nước quân chủ tập quyềnvững mạnh, chặt chẽ, hoàn chỉnh, thể hiện sức mạnh chi phối của chính quyền trungương xuống các đại phương và quyền hành chuyên chế tuyệt đối của nhà vua Các làng
xã trở thành đơn vị hành chính cấp cơ sở, lệ thuộc khá chặt chẽ vào chính quyền trungương, tính tự trị “phép vua thua lệ làng” bị giảm bớt rất nhiều
1.3 Về văn hoá tư tưởng
Nền kinh tế được phục hồi và phát triển, nhà nước quân chủ trung ương tập quyềnvững mạnh ở thế kỉ XV đã tạo những điều kiện tuận lợi cho sự phát triển văn hoá đạtđược nhiều thành tựu Đạo Nho được nhà nước Lê sơ tôn làm quốc giáo Các quanđiểm “tôn quân quyền”, “ quân chủ thần quyền”, “chính danh”, “lễ trị”, “đức trị”…được giai cấp phong kiến Đại Việt tiếp thu làm cơ sở tư tưởng chính trị pháp lý củagiai cấp mình Tư tưởng Đạo Nho đã chỉ đạo đường lối chính trị của nhà nước Lê sơ.Tầng lớp nho sĩ được đề cao trong xã hội, việc học và thi Nho giáo rất được nhà nướckhuyến khích Hệ thống trường học của Nhà nước mở đến cấp phủ Ngay từ năm
1428, nhà Lê đã cho lập Quốc tử giám ở kinh đô Năm 1484, Lê Thánh Tông cho xâydựng lại Văn Miếu và mở rộng Thái Học Viện Chế độ thi cử được Nhà nước quy địnhchặt chẽ, được tổ chức thường xuyên, đi vào nề nếp, có quy củ
Trang 6Văn học thời Lê sơ đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, để lại nhiều tác phẩm có giá trị:
Quân trung từ mệnh tập và Bình ngô đại cáo của Nguyễn Trãi.
Về sử học, tiêu biểu là Đại Việt sử kí toàn thư do Ngô Sĩ Liên biên soạn, Đại Việt
sử kí tục biên, Lam Sơn thực lục do Nguyễn Trãi viết.
Về địa lí có tác phẩm Dư địa chí của Nguyễn Trãi.
Về y học có Bản thảo thực vật toát yếu của Phan Phu Tiên…
Về toán học có Toán pháp đại hành Hai nhà toán học nổi tiếng thời Lê sơ là Lương
Thế Vinh và Vũ Hựu
Nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc cũng đạt được một số thành tựu, thể hiện ở cáccông trình kiến trúc điêu khắc như điện Lam Sơn, các tấm bia đá ở Lam Sơn, VănMiếu, cung điện ở Kinh đô, Lam Kinh…
Qua những nét khái lược về tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá-tư tưởng cho thấy,thời Lê sơ là một kỳ thịnh trị trong lịch sử chế độ quân chủ phong kiến Việt Nam
CHƯƠNG II
Trang 7CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP VUA LÊ THÁNH TÔNG
VÀ NHỮNG CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG XÂY DỰNG,
CẢI CÁCH CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN
2.1 Cuộc đời và sự nghiệp
Lê Thánh Tông huý là Tư Thành, sinh ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất 1442), là con thứ tư của vua Lê Thái Tông (1434-1442), mẹ là Tiệp dư Ngô Thị NgọcDao Tuổi ấu thơ của ông đã trải qua những tháng ngày cùng mẹ sống lánh mình trongdân gian Người đời vẫn thường ngợi ca công lao sinh dưỡng và dạy dỗ của người mẹ,
(25-8-bà Ngô Thị Ngọc Dao mà đương thời đã ngợi ca “trong cung đình, kẻ sang người hènđều gọi bà là Phật sống”
Lê Thánh Tông là người chăm chỉ ngày đêm lo học tập, trau dồi và tích luỹ kiếnthức Năm 1460, Tư Thành được lên ngôi vua sau khi lực lượng chính thống trungthành với triều Lê do Cương Quốc công Nguyễn Xí cầm đầu phế truất vua tiếm ngôi
Lê Nghi Dân Lúc bấy giờ Tư Thành 18 tuổi
Lê Thánh Tông là một tài năng xuất sắc trên nhiều lĩnh vực, một con người có ýchí và nghị lực cao, có cá tính mạnh mẽ và quyết đoán Tên tuổi và sự nghiệp của ông
đã đi vào lịch sử dân tộc như một vị “minh quân”, một Hoàng đế văn vũ kiêm toàn, là
“vua sáng lập chế độ”, là “vua anh hùng tài lược”(1)(1) , là vua “văn vũ tài lược hơn cảcác đời.”(2)(2)
Ông còn là một nhà thơ, nhà văn, nhà văn hoá lớn mang tâm hồn nghệ sĩ Ông cónhiều phẩm chất cao quý “tư chất và tính khí vua cao sáng, ham học không biết mỏi,tay không rời sách, kinh sử, chư tử, lịch số, toán chương đều tinh thông, văn thơ cànggiỏi hơn các bề tôi”(3)(3).Lê Thánh Tông để lại một di sản thơ văn phong phú đồ sộ
Thơ chữ Hán của ông còn được chép lại trong các tập thơ như Quỳnh uyển cửu ca, Châu cơ thắng cảnh, Chinh Tây kỷ hành, Minh Lương cẩm tú, Văn minh cổ xuý… và
rải rác trong các sách khác, ước khoảng trên 300 bài
Ông là người thích tuần du ngoạn cảnh, tham dự nhiều buổi diễn tập quân sự vàthân chinh xa Bước chân của ông in dấu trên nhiều miến của đất nước Ông còn cócông minh oan cho Nguyễn Trãi và ra lệnh thu thập di văn của vị anh hùng dân tộc vànhà văn hoá lớn với thái độ trân trọng “ Ức trai tâm thượng quang khuê tảo”
Bao trùm lên tất cả, Lê Thánh Tông là người có tinh thần yêu nước và dân tộc sâusắc, có ý thức cao về sứ mạng của nhà vua đối với dân với nước
“ Nhật nguyệt đôi vầng soi trước mặt,Càn khôn một gánh nặng trên vai”
(1) (1) Toàn thư, Sđd, tr 387
(2) (2) Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí Sđd, T1, tr 127
(3) (3) nt, tr 167
Trang 8(Vịnh Lưỡng Kiện sơn)
Với tinh thần và ý thức đó, ông lo xây dựng một vương triều quân chủ tập quyềnmạnh, quy củ trên nền tảng một đất nước thịnh đạt, dân được sống trong thanh bình vàyên vui Ước vọng và hoài bão của ông là:
“Thiên Nam vạn cổ sơn hà tại”
(Muôn thuở trời Nam, núi sông còn mãi)
(Thơ Ngự chế khắc ở núi Bài thơ, Quảng Ninh)Được mệnh danh là vị Hoàng đế “anh minh, quyết đoán”, nhà chính trị và là hiệnthân của một thời đại hàng kim của quốc gia Đạt Việt Ba mươi tám năm trị vì của LêThánh Tông là 38 năm “triệu dân vỗ yên, trăm việc chấn chỉnh,văn giáo rộng ban, vũcông đại định” Năm 1942, đúng vào dịp 500 năm sinh Lê Thánh Tông, Bác Hồ viếtcuốn lịch sử nước ta đã ca ngợi ông:
“Vua hiền có Lê Thánh Tông
Mở mang bờ cõi đã khôn lại lành”
Và vào ngày 3 tháng 3 năm 1497 (tức là ngày 30 tháng Giêng Âm lịch) cách ngàynay hơn 500, Lê Thánh Tông đã trở về cõi vĩnh hằng, trở về với đất tổ Lam Sơn, nằmkhiêm tốn bên cạnh người mẹ thân yêu vừa mới đi trước ông chưa tròn một năm vàngười cha đã mất từ khi ông chào đời
Trong lịch sử của các vương triều phong kiến Việt Nam, triều vua Lê Thánh Tông(1460-1497) với 2 niên hiệu Quang Thuận (1460-1469) và Hồng đức (1470-1497) giữmột vị trí và vai trò nổi bật, tiêu biểu cho một thời kì thịnh trị của quốc gia, một thànhcông lớn trong xây dựng đất nước và phục hưng dân tộc
2.2 Những cơ sở hình thành tư tưởng xây dựng, cải cách chính quyền nhà nước phong kiến
Một câu hởi đặt ra là, cuộc cải cách hành chính của Lê Thánh Tông có phải xuấtphát từ một yêu cầu của thực tiễn xã hội Đại Việt đương thời hay không? Hay chỉ là từmong muốn chủ quan của ông?
Để lý giải một cách chính xác những vấn đề của llịch sử đặc biệt với một cuộc cảicách lớn như của Lê Thánh Tông đối với tác giả thì thật quá sức Bản thân cá nhân tácgiả sử dụng phương pháp duy vật lịch sử, đứng trên lập trường quan điểm của chủnghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này cũng xin nêu ra 3 cơ sở hìnhthành tư tưởng xây dựng, cải cách chính quyền nhà nước phong kiến
2.2.1 Những giá trị tư tưởng truyền thống
Từ xa xưa, lớp lớp người dân Đại Việt đã luôn luôn có ý thức vươn tới một cuộcsống tốt đẹp, ấm no, hạnh phúc Lê Thánh Tông với tấm lòng “yêu dân như con”, làngười có tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc sâu sắc, ông luôn ấp ủ xây dựng mộtvương triều quân chủ tập quyền mạnh, quy củ trên nền tảng một đất nước thịnh đạt,dân được sống trong thanh bình, yên vui
Trang 9Mặt khác như chúng ta đã biết, từ giữa thời Trần, mầm mống của yêu cầu cải cáchhành chính đã nảy sinh Trong lúc vai trò của các vương hầu, quý tộc sa sút dần, saukhi lớp thân vương có tài năng và tâm huyết với triều đại mình đã chết hết, thì do khoa
cử được tổ chức đều đặn hơn, hình thành một lớp nho sĩ giỏi, có năng lực được bổdụng vào các chức quan cao cấp như Mạc Đĩnh Chi, Phạm Sư Mạnh… Những ngườinày đã ít nhiều nhận thấy tính chất lỗi thời của bộ máy hành chính đang tồn tại và đòihỏi một cuộc cải tổ nhằm giải quyết sự bất cập trong mối quan hệ tập trung-phân tán,nâng cao quyền lực của chính quyền trung ương
2.2.2 Nho giáo là nền tảng tư tưởng
Đạo Nho được Lê Thánh Tông tôn làm quốc giáo Chính hệ tư tưởng Nho giáo đãgóp phần tích cực củng cố nhà nước tập quyền quan liêu, củng cố nền thống nhất của
xã hội nông nghiệp tao ra một kỉ cương theo lề và pháp trên cơ sở gia đình-gia tộc.Một nền thống nhất và tập quyền dựa trên kinh tế nông nghiệp thì phải dựa vào cácbiện pháp quản lý hành chình là chính thì hệ tư tưởng Nho giáo có ý nghĩa tích cựchữu hiệu Một trong những công việc đầu tiên sau khi Lê Thánh Tông lên cầm quyền
là củng cố và phát triển nền giáo dục và khoa cử Nha giáo nhằm phục vụ thiết thực chocông cuộc cải cách đất nước, mà trước hết là giải quyết vấn đề tuyển chọn quan lại(bấy giờ gọi là nhân tài) với phương hướng quản lý bộ máy Nhà nước
2.2.3 Cơ sở tài năng và phẩm chất Lê Thánh Tông
Lớn lên trong những năm ổn định của nhà Lê, mặc dù luôn phải tự giấu mình, chỉbiết chăm lo học hành, hoàng tử Lê Tự Thành không thể bỏ qua những sự kiện chínhtrị lớn diễn ra ngay ở kinh thành có liên quan đến sự tồn vong của triều đại do ôngmình sáng lập Trong quá trình học tập và nghiên cứu, ông luôn tự so sánh lịch sử với
xã hội đương thời, quan tâm đến cuộc cải tổ bộ máy chính quyền của nhà Minh cũngnhư những sửa đổi ban đầu của Hồ Quý Ly vào đầu thế kỉ trước và nhân tố nào đãkhiến Lê Thái Tổ lập lại mô hình nhà nước Trần Vì vậy khi được suy tôn lên làm vuathay cho Lê Nghi Dân, với ý thức vươn lên mạnh bạo của một thanh niên, Lê ThánhTông không thể không nghĩ đến một cuộc cải cách hành chính vừa nhằm củng cố vữngchắc bộ máy nhà nước, giữ vững lâu dài quyền thống trị của dòng họ mình, vừa nângcao đất nước lên hàng tiên tiến làm sáng danh bản thân ông
CHƯƠNG III
Trang 10NỘI DUNG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG, CẢI CÁCH.
CẢI CÁCH CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ CỦA VUA LÊ THÁNH TÔNG.
3.1 Nội dung công cuộc cải cách
Lê Thánh Tông cải cách khá toàn diện ở các lĩnh vực như: hành chính, văn hoá giáodục, chế độ thi cử và tuyển chọn nhân tài, xây dựng và phát triển kinh tế đất nước, xâydựng quốc phòng, thể chế quân đội… Trong đó cải cách hành chính là một bước ngoặtđáng kể trong lịch sử Trước hết, Lê Thánh Tông bỏ hết các quan chức và cơ quantrung gian giữa vua và bộ phần thừa sảnh như Thượng thư sảnh, Trung thư sảnh, Môn
hạ sảnh… Vua trực tiếp nắm quyền chỉ đạo mọi cơ quan quan trọng của nhà nướccũng như liên hệ với các cơ quan thừa hành
Thứ hai, tách sáu bộ Lại, Lễ, Binh, Hình, Hộ, Công ra khỏi Thượng thư sảnh, lậpthành sáu cơ quan riêng biệt phụ trách các mặt hoạt động khác nhau của nhà nước Thứ ba, Lê Thánh Tông rất đề cao công tác thanh tra, giám sát quan lại, ở trungương bên cạnh Nghị sử đài vốn đã có từ thời Trần, ông cho dặt sáu khoa chuyên theodõi,giáu sát hành động của các quan ở sáu bộ
Thứ tư, Lê Thánh Tông đổi đặt sáu tự (Thượng bài, Đại lý, Hồng lê…) phụ tráchcác công việc phụ
Thứ năm, bỏ chế độ bổ dụng các vương hầu, quý tộc vào các trọng chức của triềuđình, lấy trình độ học vấn kiểm tra qua khoa cử làm tiêu chuẩn dùng người, khôngphân biệt thành phần xuất thân
Việc cải cách hệ thống hành chính địa phương có ý nghĩa hết sức quan trọng đối vớicông cuộc thống trị đương thời Năm 1466, cũng với việc lập các bộ, các tự, Lê ThánhTông đã chia cả nước thành 12 đạo thừa tuyên và một phủ trung đô Năm 1471, ôngcho lập thêm đạo thừa tuyên thứ 13 là Quảng Nam Các đạo thừa tuyên trở thànhnhững đơn vị hành chính trung gian thống nhất về tên gọi, quy mô và lịch sử Đạo và
lộ cũ bị bãi bỏ Chế độ An phủ sứ cũng không còn nữa Ở mỗi đạo thừa tuyên đều có
ba ty ngang quyền nhau, cùng cai quản: đô ty, thừa ty, hiến ty
Một ý tưởng hay của Lê Thánh Tông đó là ông không đặt chức quan đứng đầu đạothừa tuyên, ông mong muốn tránh được xu hướng ly tâm, gắn địa phương với trungương, ông giao cho các cơ quan trung ương nhiệm vụ đề cử quan chức lãnh đạo ở các
ty, theo tiêu chuẩn thống nhất đã ban hành, và bộ Lại xem xét, bổ dụng
Tóm lại, có thể nói rằng, thông qua phần cơ cấu tổ chức, cuộc cải cách hành chínhcủa Lê Thánh Tông đã tạo ra một hệ thống hành chính thống nhất từ trên xuống dướitrong phạm vi cả nước, gọn gàng, chức trách tương đối phân minh, đảm bảo được sựchỉ đạo và quyền lực tập trung của trung ương Mô hình tổ chức bộ máy hành chínhnày cũng là một mô hình tiên tiến nhất của chế độ quân chủ phong kiến đương thời,thực hiện được khá hoàn chỉnh tư tưởng chính trị của Lê Thánh Tông: “Lớn nhỏ cùng
Trang 11ràng buộc nhau, nặng nhẹ cùng kiềm chế nhau”, trung ương và địa phương gắn liềnnhau, quyền lực của vua và trung ương được đảm bảo Hệ thống hành chính đó cũngphù hợp với trình độ phát triển của xã hội và dân trí đương thời, và tất nhiên cũng làmột biểu hiện của tính pháp quyền.
Tuy nhiên, cuộc cải cách của Lê Thánh Tông vẫn khó tránh khỏi những hạn chế
Do ảnh hưởng quá nhiều của đạo Nho và bắt chước hình mẫu của Trung Hoa nênmang nặng tính tuyệt đối Nó đòi hỏi quá cao ở người làm vua khi phải một mìnhquyết định những việc lớn nhỏ, đa dạng của đất nước, hoặc như ở địa phương khi cómột sực cố lớn xảy ra-mà đây là chuyện thông thường ở thời phong kiến thì không cómột cơ quan hay một chức quan có đủ thẩm quyền giải quyết ngay trong lúc việc tâubáo, liên lạc với trung ương ở hoàn cảnh của nước ta thế kỉ XV-XVI rất khó khăn,chậm trễ…
Về lập pháp, đây cũng là triều đại đã cho ra đời bộ luật Hồng Đức nổi tiếng mang tên hiệu vua Lê Thánh Tông… Luật Hồng Đức còn lại cho đến nay là một trong những
bộ luật hoành chỉnh và có nhiều điểm tiến bộ nhất trong lịch sử luật pháp thời phongkiến nước ta
Lê Thánh Tông là một trong những ông vua ở ngôi lâu nhất trong lịch sử các ôngvua Việt Nam (38 năm) Nhưng điều đáng nhớ không phải vì ông ở ngôi lâu, mà vìnhững đóng góp của triều vua này vào đời sống mọi mặt của quốc gia Đại Việt thờiđấy Cuộc cải cách hành chính của Lê Thánh Tông vừa là một sự đổi mới có ý nghĩasâu sắc về chính trị, vừa đặt ra nhiều vấn đề cần suy nghĩ không chỉ đối với người xưa
mà cả đối với cuộc cải cách hành chính của Đảng và Nhà nước ta ngày nay
3.2 Cải cách bộ máy chính quyền cấp cơ sở dưới thời Lê Thánh Tông
3.2.1 Tầm quan trọng của việc cải cách bộ máy chính quyền cấp cơ sở
Trong bất cứ một hệ thống hành chính ở thời nào cũng vậy, cấp cơ sở luôn giữ một
vị trí đặc biệt quan trọng, là cấp thấp nhất trong các cấp độ quản lí của hệ thống chínhquyền nhà nước Đây là nơi cư trú, sinh sống của các tầng lớp dân cư nên đây là nơi
mà chính quyền gần dân nhất, hiểu dân nhất Hơn ai hết Lê Thánh Tông nhận thấyngười đứng đầu làng xã là người các vị trí đặc biệt quan trọng, là mắt khâu yếu nhấttrong bộ máy quản lý nông thôn Nhà nước phong kiến phải thông qua họ mới tớiđược người dân Xã quan dù có được cử về đến tận thôn xóm, dù có sống cùng dânlàng thì vẫn cứ là những người ở ngoài dân, ở trên dân và thật khó có thể hoà được vàocộng đồng làng xã để nắm làng xã một cách chặt chẽ Ông đã khéo biết khai thác vàlợi dụng tục bầu cử người đứng đầu trong các công xã nông thôn trước đây để tuyểnchọn người đứng đầu làng xã, bảo đảm họ vừa là đại diện của dân làng, vừa phục vụmột cách có hiệu quả cho yêu cầu quản lý làng xã của nhà nước trung ương
Năm 1428, đơn vị hành chính cơ sở là cấp xã chia làm 3 loại: đại xã (100 hộ trởlên), trung xã (50 hộ trở lên) và tiểu xã (có 10 hộ trở lên) do các xã quan đứng đầu Sốlượng xã quan được quy định: đại xã-3 người, trang xã-2 người, tiểu xã-1 người