ĐẠI CƯƠNG VĂN HÓA VIỆT NAM Câu 1 Phân tích sự khác nhau giữa loại hình văn hoá gốc chăn nuôi du mục và văn hoá gốc nông nghiệp trồng trọt Lý giải nguyên nhân của sự khác nhau đó Mỗi quốc gia, mỗi dân.
Trang 1ĐẠI CƯƠNG VĂN HÓA VIỆT NAM
Câu 1 Phân tích sự khác nhau giữa loại hình văn hoá gốc chăn nuôi du mục và văn hoá gốc nông nghiệp trồng trọt Lý giải nguyên nhân của sự khác nhau đó
Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có nền văn hóa riêng của mình, đó là tiêu chí quan trọn để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác Tuy nhiên, các nền văn hóa của mỗi dân tộc dù phong phú và
đa dạng đến mấy cũng đều có nguốn gốc xuất phát từ một trong hai loại hình văn hóa gốc là văn hóa gốc chăn nuôi du mục và văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt Giữa hai loại hình văn hóa gốc này có sự khác nhau mang tính tương đối căn cứ vào yếu tố trội như sau:
Về điều kiện tự nhiên và môi trường:
Loại hình văn hóa gốc chăn nuôi du mục là loại hình văn hóa gốc hình thành ở phương Tây, bao gồm toàn bộ châu Âu, do điều kiện khí hậu lạnh khô, địa hình chủ yếu là thảo nguyên, xứ
sở của những đồng cỏ, thích hợp chăn nuội vì vậy nghề truyền thống của cư dân phương Tây
cổ xưa là chăn nuôi
Trong khi loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt là nói đến văn hóa phương Đông gồm Châu Á và Châu Phi, điều kiện khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, có những con sông lớn, những vùng đồng bằng trù phú, phì nhiêu, thích hợp cho nghề trồng trọt phát triển
Về đặc trưng:
Đặc điểm đầu tiên là về lối sống, đối với loại hình văn hóa gốc chăn nuôi du mục ở phương Tây phổ biến với nghề chăn nuôi gia súc, đến mức trong Kinh Thánh từ cừu được nhắc tới 5.000 lần, tín đồ được gọi là con chiên, Chúa là người chăn chiên Lịch sử cho biết người phương Tây xưa chủ yếu nuôi bò, cừu, dê, ăn thịt và uống sữa bò, áo quần dệt bằng lông cừu hoặc làm bằng da thú vật Như vậy, vì là loại hình chăn nuôi gia súc đòi hỏi họ phải sống du
cư, nay đây mai đó, tạo thành thói quen, lối sống thích di chuyển, trọng động, hướng ngoại Còn loại hình văn hóa gốc nông nghiệp ở phương Đông do thuận lợi về điều kiện khí hậu nóng
ẩm, mưa nhiều, có những con sông lớn, những vùng đồng bằng trù phú, phì nhiêu, thích hợp cho nghề trồng trọt phát triển Do nghề trồng trọt buộc con người phải sống định cư để chờ cây cối lớn lên, ra hoa kêt trái và thu hoạch Và với lối sống định cư dẫn đến cư dân nông nghiệp phải lo tạo dựng cuộc sống lâu dài, không thích di chuyển, thích ổn định, trọng tĩnh, hướng nội
Ở đặc điểm thứ hai về cách ứng xử với môi trường tự nhiên, đối với loại hình văn hóa gốc chăn nuôi du mục vì luôn di chuyển nên cuộc sống của dân du mục không phụ thuộc vào thiên nhiên, nảy sinh tâm lý coi thường thiên nhiên và có tham vọng chinh phục, chế ngự tự nhiên Trong khi loại hình văn hóa gốc nông nghiệp ở phương Đông, do nghề trồng trọt phụ thuộc vào
Trang 2thiên nhiên nên cư dân rất tôn trọng và sùng bái thiên nhiên, với mong muốn sống hòa hợp với thiên nhiên
Đối với đặc điểm thứ ba về tính chất xã hội, vì sống du cư nên tính gắn kết cộng đồng của dân
du mục không cao, đề cao tính cá nhân dẫn đến tâm lý ganh đua, cạnh tranh, hiếu thắng, lối sống độc tôn, độc đoán trong tiếp nhận,cứng rắn trong đối phó Trong khi loại hình văn hóa gốc nông nghiệp ở phương Đông lại đề cao tính cộng đồng do cuộc sống nông nghiệp, phụ thuộc vào tự nhiên, buộc cư dân phải sống định cư, tính cộng đồng gắn kết, liên kết sức mạnh
Xét về nguyên tắc tổ chức cộng đồng, do cuộc sống du cư nên cần đến sức mạnh để bảo vệ dân
cư trong bộ tộc chống lại sự xâm chiếm của các bộ tộc khác nên người đàn ông có vai trò quan trọng, tư tượng trọng sức mạnh, trọng nam giới trong khi loại hình văn hóa phương Đông lại trọng tình nghĩa, trọng văn, trọng phụ nữ, vai trò của người phụ nữ được đề cao Người phụ nữ giữ vai trò quan trọng trong gia đình, chăm lo vun vén cho gia đình và làmcác công việc đồng
án
Về lối nhận thức tư duy, đối với loại hình văn hóa gốc chăn nuôi du mục thiên về tư duy phân tích, coi trọng vai trò của các yếu tố khách quan, vì nghề chăn nuôi du mục đòi hỏi sự khẳng định vai trò cá nhân, đối tượng tiếp xúc hành ngày là đàn gia súc với từng cá thể độc lập, từ đó hình thành kiểu tư duy phân tích chú trọng vào từng yếu tố Còn loại hình văn hóa gốc nông nghiệp ở phương Đông thì thiên về tư duy tổng hợp – biện chứng, coi trọng các mối qua hệ, thiên về kinh nghiệm chủ quan cảm tính hơn là coi trọng khách quan và khoa học thực nghiệm
do trồng trọt của cư dân phụ thuộc vào nhiều yếu tố như trời, đất, nắng, mưa…
Và ở đặc điểm cuối cùng về cách thức ứng xử trong cộng đồng, loại hình văn hóa gốc chăn nuôi du mục có lối sống trọng lí, ứng xử theo nguyên tắc, thói quen tôn trọng pháp luật khác với loại hình văn hóa gốc nông nghiệp do cuộc sống cộng đồng, gắn kết với nhau nên sống trọng tình, thái độ ứng xử mềm dẻo, linh hoạt
Trên đây là sự nhận diện khái quát hai loại hình văn hóa gốc với những đặc trưng nổi bật khác nhau Mỗi loại hình văn hóa đều có những điểm mạnh và điểm yếu của nó Tuy nhiên, trong thực tế thường không có nền văn hóa nào chỉ thuần túy mang tính chất nông nghiệp trồng trọt hay tính chất chăn nuôi du mục, bởi vậy, sự phân biệt hai loại hình văn hóa này mang tính tương đối và căn cứ vào các yếu tố, đặc điểm có tính trội
Câu 2 Hãy chứng minh rằng văn hoá Việt Nam thuộc loại hình văn hoá gốc nông nghiệp trồng trọt điển hình
Do Việt Nam là một nước nằm trong khu vực Đông Nam Á, với điều kiện vị trí địa lí, tự nhiên thuận lợi, nằm ở góc tận cùng phía Đông – Nam Châu Á, khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, có nhiều con sông lớn như sông Hồng, sông Mekong… nhiều vùng đồng bằng phù sa màu mỡ là
Trang 3điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp lúa nước nên văn hóa Việt Nam thuộc loại hình văn hóa nông nghiệp điển hình
Người Việt thích cuộc sống định cư, ổn định, không thích sự di chuyển, thay đổi, tình cảm gắn
bó với quê hương xứ sở, với làng, nước… nên hình thành lối sống tự trị, khép kín, hướng nội
Do cư dân Việt Nam sống bằng nghề nông nghiệp nên rất sùng bái tự nhiên, luôn mong muốn mưa thuận gió hòa để có cuộc sống no đủ “Lạy trời, ơn trời…”, có nhiều tín ngưỡng, lễ hội sùng bái tự nhiên vì vậy phổ biến ở các tộc người trên khắp mọi miền đất nước
Cuộc sống định cư tạo cho người Việt có tính gắn kết cộng đồng cao, xem nhẹ vai trò cá nhân:
“Bán anh em xa mua láng giềng gần”, “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”
Lối sống trọng tình nghĩa, các quan hệ ứng xử thường đặt tình cao hơn lí, ứng xử nhiều hóa, nhân ái, không thích sức mạnh, bạo lực Cuộc sống định cư ổn định của nghề nông nghiệp trồng trọt cần đến vai trò chăm lo thú vén của người phụ nữ, vai trò của người phụ nữ được tôn trọng và đề cao
Lối tư duy tổng hợp – biện chứng, nặng về kinh nghiệm chủ quan cảm tính cũng thể hiện rõ trong văn hóa nhận thức, ứng xử của người Việt, coi trọng kinh nghiệm chủ quan hơn là cơ sở khách quan và tri thức khoa học Kiểu tư duy thiên về chủ quan, cảm tính kêt hợp lối sống trọng tình đã tạo nên thói quen tư duy, ứng xử tùy tiện
Lối tư duy tổng hợp – biện chứng cũng là nguyên nhân dẫn đến lối ứng xử mềm dẻo, linh hoạt Như vậy, loại hình văn hóa Việt Nam được xem là loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt điển hình, đều được thể hiện rõ nét trong cách tổ chức đời sống phương thức tư duy, lối ứng xử của người Việt và được xem là nét đặc trưng trong văn hóa Việt Nam
Câu 3: Hãy chỉ ra sự tận dụng, thích nghi và ứng phó với môi trường tự nhiên của người Việt thể hiện ở lĩnh vực văn hoá vật chất
Trải qua trường kỳ lịch sử từ buổi đầu dựng nước, đặc biệt là qua mười thế kỷ xây dựng quốc gia phong kiến tự chủ, với ý tự lực tự cường và truyền thống lao động cần cù, cha ông ta xây dựng được một nền văn hóa vật chất với những nét bản riêng, trên nền tảng của nền văn minh nông nghiệp lúa nước, đồng thời cũng phản ánh sự tận dụng, thích nghi và ứng phó với môi trường tự nhiên của người Việt thể hiện ở lĩnh vực văn hoá vật chất
Qua quá trình lao động sản xuất, cha ông ta đã rút gọn được một hệ thống kinh nghiệm của nghệ thuật trồng lúa nước Kinh nghiệm sản xuất không được lưu truyền trong dân gian, mà vẫn được tập hợp lại, chỉnh sửa thành sách để phổ biến rộng rãi cho nông dân (Vi dụ: cuốn sách Minh nông phả của Trần Cánh đời Lê; Nông gia thuật sử dụng kinh nghiệm quyết định của
Trang 4Trần Ngọc Trác; Nông toàn đồ của Lê Thúc Hoạch đời Nguyễn) Để phục vụ cho nông nghiệp, cha ông ta cũng đã sáng tạo ra một hệ thống nông cụ truyền thông rất phong phú, đa dạng, gồm hàng tram kiểu loại khác nhau
Tất cả những kinh nghiệm được kết hợp và những thành tựu được tạo ra từ phương thức sản xuất nông nghiệp lúa nước đã phản ánh khả năng tận dụng, thích nghi và ứng phó với sự ưu tiên của người Việt đối với môi trường tự nhiên
Sự tận dụng, thích nghi và ứng phó với môi trường tự nhiên của người Việt cũng được thể hiện
rõ nét trong văn hóa ẩm thực qua lối ứng xử mêm déo, linh hoạt của cư dân nông
nghiệp Việt Nam Trước hết ở việc ăn uông theo mùa, theo vùng miền, đó là một biểu hiện của lối ứng xử thích nghi với môi trường tự nhiên cũng vừa là một cách tự thích nghi của nên kinh
tế tiểu nông tư túc tự cấp Tính linh hoạt cũng thế hiện ở việc chế biến và lựa chọn thế (điều hòa âm - dương, nóng - lạnh), giữa cơ thể với môi các món ăn để điều chỉnh, làm cân bằng các trạng thái của cơ trường để đối phó với thời tiết
Trong văn hóa trang phục Việt Nam, người Việt thường sử dụng các chất liệu có sẵn trong tự nhiên, mỏng, nhẹ và có nguồn gốc từ thực vật, mang đậm dấu ấn nông nghiệp trồng trọt, sống ở
xứ nóng nên chất liệu mỏng, nhẹ, thoáng mát như: tơ tằm,sợi bông, sợi đay, sợi gai… Màu sắc trang phục truyền thống của người Việt là màu nâu (màu đất) và màu đen (màu bùn) Điều đó cũng phản ánh phong cách truyền thống của người VN là ưa sự kín đaó, giản dị, đồng thời cũng thể hiện sự thích nghi với môi trường sống và sinh hoạt của nghề nông trồng lúa nước Ngoài ra chiếc nón lá cũng là một bộ phận kèm theo không thể thiếu trong trang phục của phụ nữ VN truyền thống Nón có vành rộng và có mái dốc do đặc thù khí hậu nắng lắm mưa nhiều Trang phục truyền thống của nam giới thường ngày là áo cánh, quần lá tọa phù hợp với khí hậu nóng bức và công việc đồng áng Ngày lễ tết, lễ hội thì đội khăn xếp, mặc áo the, quần ống sớ
Về văn hóa ở và sinh hoạt, vật liệu làm nhà có sẵn trong tự nhiên như gỗ, tre, nứa… thể hiện khả năng sáng tạo trọng việc thích nghi và tận dụng các ĐKTN Mang đậm dấu ấn của vùng sông nước với nhà sàn là kiểu nhà phổ biến, thích hợp cho cả miền sông nước lẫn miền núi để ứng phó với những tác động xấu của môi trường (tránh côn trùng, thú dữ, lũ, ngập lụt…) Sang thời phong kiến thì nhà đất bằng là phổ biến, song dấu ấn văn hóa song nước còn thể hiện ở kiểu nhà mái cong mô phỏng mũi thuyền, thậm chí cư dân sông nước còn dùng thuyền làm nhà
ở hình thành nên các xóm chài Không gian ngôi nhà Việt là không gian mở, có cửa rộng, thoáng mát, giao hoà vs tự nhiên, xung quanh có cây xanh bao bọc che chở Về việc chọn hướng nhà và chọn đất làm nhà, hướng nhà ưa thích của người Việt là hướng nam hoặc đông nam, các hướng này sẽ tận dụng được gió mát từ biển thổi vào và tránh được nắng nóng
Về văn hóa đi lại, giao thông đường bộ kém phát triển vì lối sống định cư nên cư dân ít có nhu cầu đi lại, do nền kinh tế tự cung tự cấp nên hạn chế nhu cầu trao đổi, mua bán giữa các vùng
Trang 5và do sông ngòi dày đặc Do đó, chỉ mới có những con đường nhỏ, cư dân chủ yếu là đi bộ, vận chuyển nhờ ngựa, voi, trâu; quan lại đi bằng cáng, kiệu
Giao thông đường thủy do địa hình nhiều sông ngòi, bờ biển kéo dài từ Bắc chí Nam nên người Việt đi lại chủ yếu bằng thuyền, ghe, xuồng,đò Vì đường thủy chiếm ưu thế nên phần lớn đô thị là các cảng sông, cảng biển (Vân Đồn, Thăng Long, Phố Hiến ) Cuộc sống sinh hoạt gắn liền với sông nước nên hình ảnh dòng sông, con đò đã ăn sâu vào trong tư duy, trong cách nghĩ (Thuyền theo lái, gái theo chồng; Thuyền về có nhớ bến chăng ) Ngay khi đi trên bộ, người Việt vẫn nói theo cách của người đi trên sông nước như lặn lội, quá giang, xe đò
Tóm lại, lao động sản xuất, ăn, mặc, ở và đi lại là những hoạt động để đáp ứng các nhu cầu cần thiết của con người, đồng thời cũng thể hiện sự ứng xử văn hóa của con người với môi trường
tự nhiên Qua đó, thể hiện rõ nét dấu ấn loại hình văn hóa nông nghiệp trồng trọt, đồng thời thể hiện khả năng tận dụng, thích nghi và ứng phó linh hoạt với môi trường sông nước và xứ sở thực vật
Câu 4 Hãy chỉ ra sự ứng xử với môi trường xã hội của người Việt được thể hiện ở lĩnh vực văn hoá vật chất
Trải qua trường kỳ lịch sử từ buổi đầu dựng nước, đặc biệt là qua mười thế kỷ xây dựng quốc gia phong kiến tự chủ, với ý tự lực tự cường và truyền thống lao động cần cù, cha ông ta xây dựng được một nền văn hóa vật chất với những nét bản riêng, trên nền tảng của nền văn minh nông nghiệp lúa nước, đồng thời cũng phản ánh sự ứng xử văn hoá của người Việt với môi trường xã hội thể hiện ở lĩnh vực văn hoá vật chất
Về văn hóa lao động sản xuất, nghề nông trồng lúa nước theo phương thức sản xuất tiêu nông
tự túc tự cấp là phương thức sản xuất chủ đạo, chi phối toản bộ nền tảng kinh tế của hội Việt Nam truyền thống Tiếp tục truyền thống nông nghiệp lúa nước đã được định hình từ thời Văn Lang - Âu Lạc và duy trì trong suốt ngàn năm Bắc thuộc, trong quá trình xây dựng quốc gia tự chủ, các triều đại phong kiến đều rất coi trọng việc canh nông và có các chính sách khuyến nông tích cực Bằng những công cụ dệt thủ công, với các loại nguyên liệu phong phú trong tự nhiện như: tơ chuối, sợi đay, sợi gai, tơ tăm và sợi bông, những người thợ thủ công đã dệt ra nhiều loại vải, lụa rất phong phú, không chỉ đáp ứng được nhu câu may mặc trong nước mà còn bán nước ngoài Như vậy, từ thời Hùng Vuơng dựng nước cho đến suốt thời phong kiến Đại Việt, phương thức sản xuất nông nghiệp lúa nước được duy trì và phát triển với vai trò kinh tế chủ đạo Cùng với nghề nông là sự mở rộng và phát triển các làng nghề thủ công phục vụ cho các nhu cầu sản xuất và sinh sống hàng ngày Tuy nhiên, do bị chi phối bởi phương thức sản xuất nông nghiệp tiêu nông tự cung tự cấp, các quan hệ giao luu bị hạn chể, do đó sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ của nên kinh tế tiêu nông đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng chứ không thế vuơn tâm phát triển thành nền kinh tế hàng hóa, thương mại
Trang 6Trong văn hóa ẩm thực, bữa ăn của người Việt là ăn chung, các thành viên trong bữa ăn liên quan và phụ thuộc nhau (chung nồi cơm, chung chén nước chấm…) Vì mang tính cộng đồng nên trong bữa ăn của người Việt rất thích trò chuyện Do lối sống cộng đồng cùng với sự chi phối của quan niệm Nho giáo coi trọng tôn ti, thứ bậc nên người Việst rất coi trọng nghi lễ và thái độ ứng xử, ý tứ trong bữa ăn (Ăn trông nồi, ngồi trông hướng)
Trong nền văn hóa trang phục của Việt Nam, người Việt thường chú trọng tính bền chắc “ăn chắc, mặc bền”, thích trang phục kín đáo, giản dị, ưa các màu sắc âm tính: nâu, đen, chàm…phù hợp với môi trường sông nước, lao động Các màu sắc dương tính (đỏ, vàng…) chỉ mặc vào dịp lễ hội và người Việt rất có ý thức về việc làm đẹp (Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân) Trang phục truyền thống của phụ nữ thời phong kiến gồm: váy, yếm, áo tứ thân, quần lĩnh, khăn chít đầu, thắt lưng Trong đó chiếc váy được bảo tồn như là một trong những nét bản sắc văn hóa dân tộc để phân biệt với trang phục người Tàu
Trong các dịp lễ hội, phụ nữ mặc áo dài (tứ thân hoặc năm thân với nhiều màu sắc) Trang phục truyền thống của nam giới thường ngày là áo cánh, quần lá tọa phù hợp với khí hậu nóng bức
và công việc đồng áng Ngày lễ tết, lễ hội thì đội khăn xếp, mặc áo the, quần ống sớ Trong sự ứng xử với môi trường xã hội, trang phục của người Việt thể hiện quan niệm thẩm mỹ về vẻ đẹp kín đáo, giản dị
Về văn hóa ở và sinh hoạt, ngôi nhà là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho cuộc sống định cư ổn định (an cư lạc nghiệp) Kiến trúc nhà của người Việt mang tính cộng đồng Nếu như kiểu kiến trúc nhà phương Tây được chia thành nhiều phòng biệt lập thì nhà Việt truyền thống là 1 không gian sinh hoạt cộng đồng giữa các thành viên trong gia đình, các gian nhà thường để thông nhau, không có vách ngăn Ranh giới giữa các nhà hàng xóm cũng thường chỉ được ngăn cách tượng trưng bằng một hàng cây (râm bụt, ruối, mồng tơi ) được xén thấp
Tóm lại, lao động sản xuất, ăn, mặc, ở và đi lại là những hoạt động để đáp ứng các nhu cầu cần thiết của con người, đồng thời cũng thể hiện sự ứng xử văn hóa của con người với môi trường
xã hội
Trang 7Câu 5 Hãy chỉ ra mối liên hệ giữa thuyết âm dương – Ngũ hành với sự hình thành các triết lý sống của người Việt
Nền tảng nhận thức của người Việt dựa trên thuyế âm dương – ngũ hành, đây là hệ tư tưởng triết học Trung Hoa cổ đại, phản ánh về bản chất và qui luật tồn tại của vạn vật trong vũ trụ bao gồm nhận thức về tự nhiên về đời sống xã hội con người Trang văn hóa bản địa của người Việt
cổ, cũng đã có sẵn ý niệm về sự tồn tại các cặp đôi, các hiện tượng như trời/đất, nóng/lạnh, sự đối ngẫu âm/dương, ý niệm về sự đối xứng, các tín ngưỡng nghi lễ, các câu chuyện thần thoại
Là cơ sở để thuyết âm dương ngũ hành ăn sau trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt, trở thành cơ sở nhận thức, từ đó người Việt hình thành triết lí sống cho mình và truyền bá cho thế hệ sau thể hiện qua các mối liên hệ với:
Mối quan hệ giữa thuyết âm dương ngũ hành với triết lí về sự cân xứng, cặp đôi: trong tâm thức của người Việt, âm dương luôn tồn tại trong sự cặp đôi, tương ứng, cân bằng ân dương thì
sự vật mới hoàn thiện trọn vẹn, bền vững hợp qui luật Các cặp âm dương thường được sử dụng cặp đôi như cha/mẹ, ông/bà, trời/đất, đất/nước…
Mối quan hệ âm dương ngũ hành với triết lý sống quân bình, hài hòa âm dương: từ triết lí âm dương người Việt quan niệm mọi sự vật tồn tại trong trạnh thái cân bằng, hài hòa âm dương thì mới bền vững, không bị biến đổi trạng thái Người Việt sống theo triết lí quân bình, duy trì trạng thái âm dương bù trừ nhau từ việc ăn uống tời việc làm nhà ở, cho đếm việc ứng xử hài hòa trong quan hệ với người khác để không làm mất lòng ai khiến cho người Việt tự bằng lòng,
an phận với những gì mình đang có, không hiếu thắng, do đó thường phê phán thái độ sống cực đoan
Mối quan hệ giữa âm dương ngũ hành với triết lí sống lạc quan của người Việt: do nhận thức được qui luật bù trừ âm dương, vận hành vào cuộc sống nên người Việt thường có cái nhìn bình tĩnh, lạc quan trước mọi sự biến, trong rủi có may, trong hỏa có phúc, nhận thức được qui luật chuyển hóa âm dương nên có cái nhìn biện chứng về cuộc sống Thuyết âm dương ngũ hành giúp cho con người có một triết lý sống lạc quan, tuy nhiên nếu lạc quan thái quá sẽ dẫn đến tiêu cực, tự bằng lòng và an bài với cuộc sống hiện tại, không nỗ lực cố gắng
Câu 6 Hãy trình bày những hiểu biết của anh/chị về phật giáo ở Việt Nam và vai trò của phật giáo đối với đời sống văn hoá tinh thần của người Việt xưa và nay
Phật giáo là một trong ba luồng tư tưởng nổi bật của tư tưởng và tôn giáo thời Đại Việt và cho đến ngày nay Vào những thế kỉ đầu thời kì Đại Việt, phật giáo phát triển rất nhanh và đạt tối cực thịnh vào thời Lý – Trần và được xem là quốc giáo với những đặc điềm nổi bật như sau:
Trang 8Tính nhập thế: Giáo lý của Phật giáo là cứu khổ cứu nạn, phổ độ chúng sinh, luôn đồng hành với cuộc sống chúng sinh bằng những việc làm thiết thực, tham gia các hoạt động XH: nhà chùa mở trường dạy học, tham gai đào tạo tri thức, nhiều nhà sư đồng thời nhà sư đồng thời là thầy thuốc chữa bệnh cho dân Giáo lý Phật giáo được người Việt cụ thể hóa trong các mối liên
- Dung hợp giữa các tông phái Phật giáo
- Dung hợp giữa Phật giáo với các tôn giáo khác như nho giáo, đạo giáo và bổ sung cho nhau
để cùng hướng về một mục đích vì cuộc sống tốt đẹp cho con người
Với tất cả những đặc điểm trên, Phật giáo đã bén rễ sâu vào truyền thống tín ngưỡng và văn hóa dân gian của quần chúng, khẳng định sự hiện diện qua hàng ngàn ngôi chùa trên khắp mọi miền đất nước Với người dân Việt, giáo lý phật giáo đã thấm sâu vào triết lí sống, ngôi chùa là nơi giáo dục đạo đức và lòng hướng thiện, nơi an cư của tâm hồn là trung tâm sinh hoạt cộng đồng và cũng là nơi ẩn chứa các giá trị văn hóa truyền thống đã có lịch sử từ lâu “Mái chùa che chở hồn dân tộc Nếp sống ngàn năm của tổ tiên”
Và đến ngày nay, trong số các tôn giáo có mặt ở Việt Nam, Phật giáo vẫn là tôn giáo lớn nhất,
có ảnh hưởng sâu sắc và rộng rãi nhất Theo viện nghiên cứu tôn giáo thì hiện nay Việt Nam có khoảng 7 đến 8 triệu tín đồ Phật giáo, chiếm đến 10% dân số Hiện nay, số lượng người đi chùa ngày càng đông, có niềm tin vào thuyết nhân quả, luân hồi Ăn chay vào các ngày rằm, mồng một, có treo ảnh phật và bàn thờ Phật trong nhà Qua đó ta thấy được vai trò của Phật giáo trong đời sống văn áo tinh thần của người Việt từ xưa đến nay
Câu 7 Hãy trình bày những hiểu biết của anh/chị về Nho giáo ở Việt Nam và vai trò của Nho giáo đối với đời sống văn hoá tinh thần của người Việt xưa và nay
Nho giáo du nhập vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc và đến thế kỉ XV, Nho giáo được xem là đạt đến cực thịnh khi nhà Lê tuyên bố lấy Nho giáo làm quốc giáo Các triều đại phong kiến Đại Việt lấy Nho giáo làm nền tảng để xây dựng hệ tư tưởng, đạo đức, giáo dục, pháp luật, qua đó
để xây dựng mô hình nhân cách con người Tuy nhiên do sự phân phối của văn hóa bản địa nên Nho giáo Trung Hoa đã được người Việt tiếp nhận và vận dụng một cách sáng tạo và linh hoạt:
Trang 9Nếu Nho giáo Trung Hoa đặc biệt coi trọng tư tưởng trung quân, quyền lực của nhà vua được
đế cao tuyệt đối thì Nho giáo Việt Nam tuy vẫn đề cao tư tưởng này nhưng không cực đoan đến mức phải hy sinh tính mạng vì vua, quan niệm trung quan của người Việt gắn liền với ái quốc, trong nhiều trường hợp nước còn được đề cao hơn vua Người Việt đề cao tinh thần yêu nước, thương dân, lấy dân làm gốc
Các khái niệm cơ bản của Nho giáo như nhân, nghĩa đã bị khúc xạ qua lăng kính của người Việt, nó không chỉ là một khái niện hạn hẹp về đạo đứcmà nó còn trở thành một lý tưởng xã hội cao đẹp vì cuộc sống hạnh phúc, bình yên của nhân dân – “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” trong Cáo bình Ngô của Nuyễn Trãi
Tư tưởng trọng nam khinh nữ của Nho giáo khi vào Việt Nam cũng nhẹ bớt đi bởi truyền thống trọng phụ nữa có trong văn hóa bản địa
Mặc dù, không thể phủ nhận một thực tế rằng trong gần 10 thế kỉ xây dựng và củng cố nhà nước phong kiến nho giáo đã trở thành nền tảng tư tưởng chi phối về mọi mặt của đời sống xã hội Việt Nam, thấy được vai trò của Nho giáo trong đời sống tư tưởng và văn hóa tinh thần của người Việt:
- Là nền tảng tư tưởng chính trị để tổ chức bộ máy nhà nước, là cơ sở pháp lý để quản lý, duy trì dự ổn định của xã hội dựa trên các mối quan hệ cộng đồng xã hội và gia đình theo quan niệm tam cương, ngũ thường
- Xây dựng nền tảng đạo đức, củng cố các mối quan hệ gia đình theo thứ bậc, kỹ cương của giáo lý nho giáo, xác lập chuẩn mực đạo đức để xây dựng mô hình nhân con người Việt Nam truyền thống với các tiêu chí: đạt đức, đạt đạo
- Ngoài ra, nho giáo đã chi phối trực tiếp và toàn diện hệ thống giáo dục, thi cử truyền thống, từ mục đích đến nội dung và phương pháp giáo dục
Câu 8 Hãy chỉ ra dấu ấn của văn hoá nông nghiệp ảnh hưởng đến văn hóa giao tiếp ứng
xử của người Việt, theo các bạn những đặc điểm giao tiếp ứng xử nào cần được giữ gìn và phát huy
Giao tiếp và ứng xử là một hình thức biểu đạt văn hóa của cá nhân, cộng đồng khá rõ nét Do
sự chi phối của lối sống nông nghiệp và tư tưởng Nho giáo nên văn hóa giao tiếp, ứng xử của người Việt có những đặc điểm cơ bản sau đây
Do nền văn hóa nông nghiệp sống quần cư, sự gắn kết cộng đồng cao nên người Việt coi trọng việc giao tiếp và thích giao tiếp Chào hỏi nhau được xem là một nghi thức ứng xử văn hóa quan trọng của người Việt “lời chào cao hơn mâm cổ”, thích thăm viếng nhau, coi việc thăm
Trang 10viếng như biểu hiện của tình cảm, tình nghĩa, để thắt chặt thêm quan hệ và giàu tính hiểu khách (khách đến nhà thường được đón tiếp niềm nở, chu đáo, tận tình)
Về cách ứng xử trong giao tiếp của người Việt, người dân Việt Nam thường thích tìm hiểu, quan sát, đảnh giá đối tượng giao tiếp, quan tâm đến những thông tin cá nhân của đôi tượng giao tiếp (tuổi tác, quê quán, nghề nghiệp, địa vị, hoản cảnh gia đình ) Đặc điểm này cũng có nguyên nhân từ tính cong đông và lôi sống trọng tinh (quan tâm đến ngưoi khác) Tuy nhiên, việc này cũng tác động đến cách ứng xử nặng tình cảm hơn lý trí Trong thực tế người Việt Nam vẫn coi trọng “cái tình” hơn cả, bất đắc dĩ lắm mới dùng “cái lý” để giải quyết những mâu thuẫn “Cái tình” sẽ làm cho người gần người hơn Xử sự với nhau bằng “cái tình” là rất đẹp,
để rồi “một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng”, để không phải hối hận về sau Người ta thường nói “tình làng nghĩa xóm” lúc “tắt lửa tối đèn” là để nhấn mạnh “cái tình”, chứ ít ai đưa “cái lý”
ra làm thước đo con người Tuy nhiên, cũng vì trọng tình hơn lý nên trong một số trươờng hợp ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống người dân Việt Vì không giải quyết theo lý mà chỉ lụy tình, người Việt thường có thói quen: Người càng thân ta thì càng đúng hơn Thậm chí có việc người nhà ta, người làng ta, người cơ quan ta sai lè lè, không còn cách nào khác, người đứng ra bênh vực bảo: “Anh này cũng đúng, anh kia cũng chẳng sai” Vì thế mọi người mới có kiểu xưng hùng xưng bá địa phương: “Chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng”
Tiếp theo, vì trọng tình cảm nên trong giao tiếp, người Việt có cách xưng hô theo quan hệ thân tộc, coi mọi người trong cộng đông như bà con họ hàng: cô, bác, chú, dì, cháu, con Ngoài ra, trong quan hệ ứng xứ, người Việt coi trọng danh dự, danh tiếng hơn là giá trị vật chất (Tốt danh hơn lành áo; Đói cho sạch, rách cho thơm; Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp; Trâu chết để da, người ta chết để tiếng ) Vì coi trọng danh dự nên nghi thức lời nói trong giao tiếp cũng thể hiện tính tôn ti, thứ bậc Văn hóa nông nghiệp ưa ổn định, sống chú trọng đến không gian nên người Việt Nam phân biệt kỹ các lời chào theo quan hệ xã hội và theo sắc thái tình cảm Trong khi đó văn hóa phương Tây ưa hoạt động
lại phân biệt kỹ các lời chào theo thời gian như chào gặp mặt, chào chia tay, chào buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều, buổi tối…
Chính vì quá coi trọng danh dự nên người Việt thường mắc bệnh sĩ diện “ở đời muôn sự của chung, hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi”; “đem chuông đi đánh nước người, không kêu cũng đánh ba hồi lấy danh”; “một quan tiền công không bằng một đồng tiến thưởng”; Vì trọng danh dự và sĩ diện nên người Việt rất sợ dư luận, bởi vậy, dư luận trở thành một thứ vũ khí lợi hại, một sợi dây vô hình để ràng buộc cá nhân với cộng đồng, nhờ đó mà duy trì sự ổn định của làng xã
Khi giao tiếp, người Việt thường có thói quen giữ ý, cả nể, thiếu tính quyết đoán trong giao tiếp, không đi thắng vào vấn đề cần nói, mà thường hay mở đầu “vòng vo tam quốc" để đưa đẩy, tạo không khí thân mật và thăm dò thái độ của đối tượng giao tiếp Chính sự đắn đo cân