1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tiểu luận cao học triết, đặc điểm lý luận hình thái kinh tế xã hội qua các tác phẩm “tuyên ngôn của đảng cộng sản”, “phê phán cương lĩnh gô ta”, “nguồn gốc của gia đình,

34 13 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm lý luận hình thái kinh tế xã hội qua các tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, “Phê phán cương lĩnh gôta”, “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”
Tác giả Karl Marx, Friedrich Engels
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn Hà Nội
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Tiểu luận cao học
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 44,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A ĐẶT VẤN ĐỀ Triết học là một trong những hình thái xã hội phản ánh nhận thức và thái độ của con người với thế giới xung quanh Triết học là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội v[.]

Trang 1

Triết học có lịch sử ra đời từ rất lâu nhưng chỉ có sau chế độ chiếm hữu

nô lệ mới hình thành rõ nét, những tư tưởng triết học đầu tiên của con ngườicòn lưu giữ đến ngày nay

Triết học là một bộ phận cấu thành của kiến trúc thượng tầng bị quyđịnh bởi sự phát triển của cơ sở hạ tầng xã hội, sự phát triển của triết học nóiriêng và các yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng nói chung và khi có cơ sở hạtầng thay đổi, tất yếu có sự thay đổi về nhận thức, về tư tưởng của con người,trong đó tư duy, quan điểm về triết học

Để thấy được các đặc điểm của triết học, theo tôi phải bắt đầu từ nghiêncứu đặc điểm của các hình thái kinh tế xã hội, từ đó nêu ra các đặc điểm vàphát triển chung nhất của sự hình thành lịch sử tư tưởng triết học Triết phải

có tư tưởng, lập trường đúng đắn, để thấy được ý nghĩa lớn lao của việcnghiên cứu lịch sử triết học như một khoa học

Trong khuôn khổ của bài tiểu luận này tôi xin nêu một số đặc điểm lýluận hình thái kinh tế xã hội qua các tác phẩm: “Tuyên ngôn của Đảng Cộngsản”, “Phê phán cương lĩnh Gô-ta”, “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tưhữu và của nhà nước” của Mác, Ăngghen Trong đó tôi cũng ý thức được rằngphải dựa vào phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử để thấy rõ đặc điểm đó

Trang 2

B NỘI DUNG:

I CƠ SỞ CHO SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊ NIN

Triết học Mác-Lê Nin cũng như toàn bộ chủ nghĩa Mác-Lê Nin ra đờivào những năm 40 của thế kỷ XIX do Các Mác và Ph.Ăngghen sáng lập, sau

đó V.I Lê Nin phát triển hơn Sự xuất hiện của triết học Mác – Lê Nin là mộttất yếu lịch sử, một hiện tượng hợp với quy luật Nó là kết tinh những giá trịquý báu của tư duy triết học, văn hoá, khoa học trong lịch sử nhân loại, đápứng những đòi hỏi khách quan về kinh tế – xã hội đạt được ở Tây Âu nhữngnăm giữa thế kỷ XIX

1.Cơ sở kinh tế – xã hội cho sự ra đời của triết học Mác.

Vào những năm 30 – 40 của thế kỷ XIX chủ nghĩa tư bản ở một sốnước Tây Âu như Anh, Pháp và một phần ở nước Đức có bước phát triển mới.Nước Anh khi đó đã là một nước tư bản, một cường quốc công nghiệp hùngmạnh Nước Pháp cũng hoàn thành cuộc cách mạng công nghiệp vào nhữngnăm 50 – 60 của thế kỷ XIX Nhờ công nghiệp, lực lượng sản xuất xã hộităng lên rất nhiều Sự phát triển về sản xuất dẫn đến chiếm hữu về tư liệu sảnxuất, gây ra xung đột, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và vô sản ngày mộtmạnh mẽ, đã xuất hiện những cuộc đấu tranh của công nhân chống lại giai cấp

tư sản như cuộc khởi nghĩa của những người thợ dệt ở Lyông (Pháp) vào năm

1931 và 1934, cuộc nổi dậy của công nhân Pari năm 1932, cuộc khởi nghĩacủa những người thợ dệt ở Xilêdi của Đức năm 1844, phong trào hiến chươngAnh 1830-1840 các phong trào đó chứng tỏ rằng:

Thứ nhất, xã hội tư bản không phải là sự hoà hợp lợi ích chung giữa tư

bản và lao động, không phải là sự kết hợp hài hoà hạnh phúc chung cho tất cảmọi người

Thứ hai, vai trò lịch sử của gia cấp tư sản về cơ bản đã bắt đầu mất dần Thứ ba, giai cấp công nhân là sản phẩm của nền đại công nghiệp

Trang 3

Triết học Mác đã ra đời, giai cấp công nhân đã tìm thấy trong đó sứcmạnh và vũ khí tinh thần cũng như vật chất của mình Triết học Mác đã dẫndắt phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân đi từ tự phát triển đến tự giác.

Sự xuất hiện của triết học Mác và chủ nghĩa Mác đã phản ánh nhu cầukhách quan của các quá trình kinh tế – xã hội, phản ánh nhu cầu của cuộc đấutranh giữa giai cấp vô sản và tư bản ở các nước Tây Âu giữa thế kỷ XIX

2 Cơ sở lý luận của sự ra đời triết học Mác.

Sự xuất hiện triết học Mác không chỉ được quyết định bởi những điềukiện kinh tế – xã hội mà còn quy đinh bởi toàn bộ đời sống văn hóa, nhữngthành tựu của tư tưởng khoa học của nhân loại trước đó Triết học Mác khôngphải là một trào lưu biệt phái Sự ra đời của nó là sự kế thừa nền văn minh củanhân loại, trực tiếp nhất là những trào lưu tư tưởng và lý luận ở Châu Âu thế

kỷ XIX như:

a) Triết học cổ điển Đức: ý nghĩa to lớn của triết học cổ điển Đức là

một trong ba tiền đề lý luận để Mác, Ăngghen chuyển từ thế giới quan sangthế giới quan duy vật

Các Mác và Ph.Ăngghen đã dùng những tư tưởng cách mạng trongphép biện chứng của Hêghen để luận giải cho những khát vọng phong tràocách mạng của mình Các Mác và Ph.Ăngghen đã đánh giá cao công lao củaHêghen trong việc phát triển phép biện chứng như là lý luận sâu sắc về sựphát triển Tuy nhiên, hai ông đã phê phán quyết liệt chủ nghĩa duy tâm củaHêghen biểu hiện trong học thuyết về “ý niệm tuyệt đối”, trong quan niệm vềnhà nước và pháp quyền

b) Kinh tế chính trị cổ điển Anh.

Việc tham gia vào phong trào cách mạng và nghiên cứu kinh tế họcchính trị đã làm cho Các Mác và Ph.Ăngghen nhận thức được rằng những lợiích kinh tế, lợi ích vật chất của các giai cấp giữ vai trò quyết định trong cuộcđấu tranh chính trị và tư tưởng; chính hoạt động lao động sản xuất của con

Trang 4

người là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển xã hội và chế độ sở hữu tư nhân về

tư liệu sản xuất chủ yếu và lao động là cơ sở kinh tế của những mâu thuẫngiai cấp

c) Học thuyết xã hội chủ nghĩa của các nhà không tưởng.

Học thuyết xã hội chủ nghĩa của các nhà không tưởng trước Mác cóảnh hưởng tới sự hình thành thế giới quan duy vật của Các Mác và Ăngghen.Các đại biểu của chủ nghĩa khoa học không tưởng như Xanh Xi Mông, Phuriê

và Oocu đã phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa tư bản, vạch ra những mâu thuẫncủa xã hội tư bản, một bên là sự giàu sang thừa thái của thiểu số bọn sở hữu,bọn tư bản và một bên là cuộc sống nghèo khổ, cùng cực của đông đảo quầnchúng nhân dân, sự đối lập giữa lao động trí óc và lao động chân tay, giữathành thị và nông thôn Các Mác và Ăngghen đã cải biến những tư tưởng đódựa trên cơ sở thực tiễn của phong trào cách mạng, để xây dựng quan điểmduy vật lịch sử, biến chủ nghĩa xã hội không tưởng thành xã hội

Các Mác và Ăngghen đã đưa ra một thế giới quan mới thật sự khoa học– thế giới quan triết học duy vật biện chứng Thế giới mà không bị nhữngthành kiến lịch sử trói buộc

3 Cơ sở của khoa học tự nhiên của sự ra đời của triết học Mác

Nếu sự phát triển của khoa học tự nhiên vào thế kỷ XVII, XVIII chủyếu là của các khoa học cụ thể, khoa học nghiên cứu các bộ phận riêng rẽ của

tự nhiên và do đó làm thành phương pháp siêu hình, thì cuối thế kỷ XVIII đầuthế kỷ XIX, sự phát triển của khoa học tự nhiên đã chuyển sang một giai đoạnmới, giai đoạn phát triển tự nhiên lý luận Khoa học này đòi hỏi phải chuyểnphương pháp nghiên cứu từ siêu hình máy móc sang phương pháp biện chứngnghĩa là, trình bầy sự phát triển của tự nhiên như một quá trình vận động, liên

hệ, thống nhất

Sự phát triển của khoa học tự nhiên đầu thế kỷ XIX ảnh hưởng khôngnhỏ đến sự phát triển của khoa học xã hội, trước hết đối với triết học Mác, nó

Trang 5

tạo ra cơ sở lý luận để xây dựng thế giới quan và phương pháp luận Mác Xít.Những thành tựu của khoa học tự nhiên, đặc biệt là ba phát minh vĩ đại.

Định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng

Học thuyết tế bào

Học thuyết tiến hoá của Đắc Uyn

Những phát minh trên chứng tỏ giới tự nhiên phát triển môt cách biệnchứng, mọi sự vật và hiện tượng có mối liên hệ khách quan trong sự hìnhthành, phát sinh và phát triển Chính đây là cơ sở khoa học để Mác, Ăngghenxây dựng chủ nghĩa duy vật biện chứng của mình

Như vậy, những điều kiện lịch sử, những tiền đề về kinh tế xã hội, lýluận và khoa học có một ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự ra đời của triết họcMác

Sự ra đời của triết học Mác không phải là kết quả của sự suy tư cá nhân

mà là sự suy tư mang tầm vóc đúc kết và khái quát lịch sử thời đại

II TIỂU SỬ MÁC, ĂNGGHEN VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA QUÁ TRÌNHHÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN HÌNH THÁI KINH TẾ – XÃ HỘI QUAMỘT SỐ TÁC PHẨM

1 Tiểu sử

A, Các Mác (5.5.1818 – 14.3.1883)

Mác sinh ra trong một gia đình luật sư tại thành phố Tơ-re-vơ của nướcĐức Năm 1830 – 1835, Mác học tại trường trung học Tơ-re-vơ Sau đó họctại trường Đại học Tổng hợp Bon (1835 – 1836) và trường Đại học Tổng hợpBeclin (1836 – 1841) Ở Beclin Mác chuyển sang nghiên cứu triết học và lịch

sử Ngay từ thời sinh viên, Mác đã có tư tưởng chống lại chế độ xã hội đangthống trị ở Đức lúc đó

Năm 1837, Mác bắt đầu làm quen với triết học của Hêghen và đã có ýthức rút ra từ triết học đó những kết luận có tính chất vô thần và cách mạng.Cũng thời gian này Mác tham gia phái Hêghen trẻ

Trang 6

Từ năm 1839 đến 1841, Mác bắt đầu nghiên cứu lịch sử triết học cổ HyLạp, triết học thời kì cận đại và viết luận án tiến sĩ với đề tài: “Sự khác nhaugiữa triết học tự nhiên của Đêmôcrít và triết học tự nhiên của Êpiquya” Vớibản luận án đó, Mác được nhận bằng luận án Tiến sĩ triết học (tháng Tư năm1841).

Trong bản luận án này, Mác còn chịu ảnh hưởng duy tâm của Hêghen,bởi vì đề cao không đúng mức vai trò ý thức của con người, coi vai trò pháttriển tự ý thức con người như là động lực phát triển của lịch sử nhân loại.Nhưng ngay trong đó, Mác đẫ bộc lộ những quan điểm trái với Hêghen, nghĩalà: Mác không lấy đề tài về triết học của Hêghen, khi nhấn mạnh cuộc đấutranh của Êpiquya chống tôn giáo thì đẫ tuyên truyền chủ nghĩa vô thần Ôngđánh giá cao vai trò của Êpiquya trong việc làm phong phú thêm nguyên tửluận của Đêmôcrít

Trong bản luận văn cũng manh nha tư tưởng về phép biện chứng giữatồn tại và ý thức thông qua hoạt động thực tiễn của con người Theo Mác, sự

tự thống nhất của tự ý thức và hiện thực và bên ngoài phải trải qua nhữngtrình độ khác nhau, cụ thể: sự hoà hợp (kết quả của sự phát triển tự ý thức)được thay thế bằng cuộc xung đột sâu sắc mà không thể giải quyết bằng conđường lý luận, phê phán mà phải bằng thực tiễn, bằng cách mạng Sự xungđột đó lại xác lập trở lại một thời gian nhất định sự hoà hợp giữa tự ý thức vàtồn tại, nhưng sự hoà hợp đó không thể là tuyệt đối, không thể là vĩnh viễn

Mác đặc biệt đối lập với Hêghen và phái Hêghen trẻ trong quan điểm

về vai trò của phép biện chứng và triết học nói chung Mác coi nhiệm vụ củatriết học là phục vụ cuộc đấu tranh chính trị, phục vụ sự nghiệp giải phónggiai cấp những người lao động Phép biện chứng phải có nhiệm vụ phá bỏhiện thực cũ lỗi thời, hạn chế

Như vậy, ngay từ thời kì đầu hoạt động chính trị – xã hội và khoa học,mặc dù còn chịu ảnh hưởng tư tưởng duy tâm của Hêghen, song Mác đã thể

Trang 7

hiện rõ khuynh hướng dân chủ cách mạng cũng những bất đồng nhất định đốivới phái Hêghen trẻ trong việc giải quyết nhiều vấn đề triết học trong thời kìnày.

Từ năm 1838 đến năm 1841, Ăngghen sống ở Bác-men, vừa làm tronghãng buôn vừa tự học Năm 1839, ông bắt đầu nghiên cứu triết học Đức, đặcbiệt là các tác phẩm của Hêghen Vào tháng 3.1839, Ăngghen đăng bài báo

đầu tiên có tựa đề: “Những bức thư từ Vúp-pơ-tan” Trong đó, Ăngghen bắt

đầu thể hiện lập trường dân chủ cách mạng của mình, đồng thời phê phán bộmặt sùng đạo của bọn chủ xưởng và tỏ ra có thiện cảm sâu sắc với công nhân.(Tuy nhiên, lúc này Ăngghen vẫn chưa hiểu được bản chất của giai cấp côngnhân như một giai cấp cách mạng nhất trong các giai cấp bị bóc lột ở xã hộihiện đại)

Năm 1841, Ăngghen đi Beclin làm nghĩa vụ quân sự và dự thính cácbài giảng ở trường Đại học tổng hợp Beclin Thời gian này, ông đã tham giaphái Hêghen trẻ và muốn phái này rút ra từ triết học của Hêghen những kếtluận có tính chất vô thần và cách mạng Cuối năm 1841, ông nghiên cứu tác

phẩm nổi tiếng của Phơibắc: “Bản chất đạo Cơ đốc” – một tác phẩm có ảnh

hưởng lớn đến thế giới quan của ông

Thời kì 1841 - 1842, Ăngghen còn viết nhiều tác phẩm phê phán các

quan điểm phản động của Sê-linh như: “Sê-linh nói về Hêghen”, “Sê-linh và khải thị”, “Sê-linh – nhà triết học ở trong Chúa” Đặc biệt trong tác phẩm:

“Sê-linh và khải thị” (1842), Ăngghen thể hiện mình như nhà vô thần, nhà

Trang 8

dân chủ cách mạng Mặc dù chưa thoát khỏi lập trường duy tâm, song ôngcũng thấy sự mâu thuẫn giữa tiến bộ và bảo thủ trong triết học của Hêghen,đồng thời thấy được các nguyên lý triết học của Phơibắc triệt để hơn củaHêghen.

Cũng như Mác, Ăngghen cho rằng: Nhiệm vụ của triết học là phải gắnvới thực tiễn đấu tranh chính trị Cuối năm 1842, Ăngghen sang Anh đểnghiên cứu công việc buôn bán tại xưỏng dệt vải ở Man-se-xtơ Trên đường

sang Anh, Ăngghen có ghé thăm toà soạn báo “Sông Ranh” ở Khuên; tại đây

lần đầu tiên ông gặp Mác (nửa sau tháng mười một năm 1842) Ở Anh, ôngbắt đầu nghiên cứu kinh tế chính trị học, trực tiếp nghiên cứu phong trào côngnhân ở một nước công nghiệp phát triển nhất thời kì đó Đây là bước chuẩn bịquan trọng cho sự chuyển biến thế giới quan và lập trường chính trị của ông

Nhìn chung, ngay từ bước đầu hoạt động chính trị- xã hội và khoa học(cho đến giữa năm 1842), C.Mác và Ph.Ăngghen vẫn đứng trên lập trườngcủa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa dân chủ cách mạng Mặc dù vậy các ông

đã cố găng để vượt ra khỏi khuôn khổ của nó, song chưa thực hiện được

2 Các tác phẩm

A, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản – Tác phẩm thể hiện sự chín muồi

hoàn toàn của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủnghĩa cộng sản khoa học, tác phẩm có tính cương lĩnh của Đảng Cộng sản

Năm 1936 “đồng minh những người chính nghĩa” – tổ chức của những

người công nhân Đức di cư ở Luân Đôn được thành lập Nhưng đây là tổ chứcchính dựa trên cơ sở lý luận pha tạp, thể hiện lập trường tư tưởng tiểu tư sản.Những người lãnh đạo tiến bộ của tổ chức này mời Mác và Ăngghen tham gia

và cải tổ nó Mác, Ăngghen quyết định giúp họ từ bỏ phương châm cáchmạng tiểu tư sản không tưởng

Mùa hạ năm 1847, tại đại hội lần thứ nhất của tổ chức này, Mác,Ăngghen đề nghị thay đổi khẩu hiệu hành động “Mọi người đều là anh em”

Trang 9

bằng khẩu hiệu “Vô sản tất cả các nước liên hiệp lại” Đồng thời Đại hội

cũng thông qua điều lệ mới do Mác, Ăngghen soạn thảo tuyên bố lật đổ giaicấp tư sản bằng cách mạng thiết lập chính quyền giai cấp công nhân, xâydựng xã hội vô sản không còn giai cấp

Tháng 12 năm 1847, tổ chức giao cho Ăngghen soạn thảo “Những nguyên lý của chủ nghĩa Cộng sản” Dưới hình thức hỏi đáp, Ăngghen trình

bày một cách phổ thông phương châm của những người Cộng sản

Nguyên lý của chủ nghĩa Cộng sản nói rõ lý luận Cộng sản là họcthuyết về những điều kiện giải phóng giai cấp vô sản, giải thích nguồn gốckhác nhau giữa giai cấp vô sản với những người nô lệ, nông nô và tiểu tư sản,nhận thấy mâu thuẫn trong xã hội tư bản là không thể điều hoà được Các ôngcũng đã dự báo trong thế kỷ XIX, cách mạng vô sản không thể thắng lợi ởmột nước riêng biệt mà xảy ra ở đồng thời các nước Những nguyên lý cũngđặt ra vấn đề lật đổ giai cấp tư sản bằng nền chuyên chính của giai cấp vô sản

Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản là tác phẩm chuẩn bị cơ sở tư

tưởng cho tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ra đời Đây là tác phẩm có tính chất cương lĩnh của “Đồng minh những người Cộng sản” thông

qua tháng 3 năm 1848

Tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” tổng kết toàn bộ quá trình

hình thành chủ nghĩa Mác, trình bày những luận điểm cơ bản của chủ nghĩaMác, thế giới quan khoa học của Đảng Cộng sản Tác phẩm là mẫu mực, tàitình về sự phê phán có tính chất cách mạng với chủ nghĩa tư bản, hệ tư tưởng

tư sản và các hình thức khác của chủ nghĩa xã hội không tưởng

Ngay từ phần đầu tác phẩm, Mác - Ăngghen đã khái quát phân tích toàn

bộ lịch sử phát triển loài người theo các cặp giai cấp tiêu biểu đặc thù, đốikháng nhau về cơ sở kinh tế - xã hội và đấu tranh quyết liệt với nhau trên bìnhdiện chính trị – xã hội Từ đó rút ra các chế độ xã hội loại hình xã hội tươngứng

Trang 10

Theo trình tự thời gian lịch sử, lần lượt đó là:

Xã hội thời kì tiền sử, chưa “thành văn”, tức công xã nguyên thuỷ, và

các xã hội thời kì “thành văn”, bao gồm:

a Xã hội cổ đại, chiếm hữu nô lệ, với các giai cấp đối kháng cơ bản làngười tự do và nô lệ, quý tộc và bình dân

b Xã hội trung cổ phong kiến với chúa đất và nông nô, thợ cả và thợbạn

c Xã hội Cộng sản văn minh tương lai sẽ ra đời từ sự diệt vong của Xãhội Tư bản

d Xã hội tư bản hiện đại với Tư sản và Vô sản

Trong những phần sau, Mác - Ăngghen tập trung tiến hành việc nghiên

cứu, “giải phẫu” sâu sắc xã hội Tư bản trước hết ở nền tảng kinh tế – xã hội

và phương thức sản xuất của nó Từ đây, các ông đã vạch ra quy luật phátsinh, phát triển và diệt vong của xã hội này nói riêng, quy luật vận động phổbiến, chung nhất của tất cả các loại hình xã hội trong lịch sử nói chung Đó làquy luật về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản suất, xác địnhrằng sự phát triển tối hạn của lực lượng sản xuất sẽ dẫn đến chỗ phá vỡ quan

hệ sản xuất cũ, thúc đẩy phương thức sản xuất phát triển lên một trình độ mớicao hơn, cách mạng hoá toàn bộ đời sống xã hội

Như vậy, cấu trúc nội dung của quan niệm duy vật lịch sử đã được xáclập hoàn chỉnh ở Tuyên ngôn, bao gồm hai bộ phận hợp thành chính:

Một là: hệ thống lôgic lý luận có tính khái quát tổng hợp và trừu tượngbao gồm các nguyên lý, quy luật, phạm trù, khái niệm Triết học duy vật lịch

sử phản ánh toàn bộ kết cấu “cơ thể” xã hội nói chung.

Hai là: những khảo sát, phân tích cụ thể sinh động từ góc độ tiếp cậncủa các khoa học chuyên ngành Lịch sử, Xã hội, Kinh tế

Hai hợp phần nội dung này là do kết quả của hai phương pháp nghiêncứu tương đối khác nhau nhưng vẫn thống nhất với nhau trong một tiến trình

Trang 11

chung, vừa làm tiền đề cho nhau, vừa là hệ quả cho nhau để đạt tới nhận thứckhoa học sâu sắc, đúng đắn và chính xác về hệ thống quy luật phổ biến, chungnhất của lịch sử, xã hội Phương pháp biện chứng khoa học đã được thể hiện

đặc sắc “đi từ cái cụ thể (trong hiện thực) - đến cái trừu tượng – trở về với cái cụ thể (trong tư duy)”.

Tư tưởng hình thái kinh tế – xã hội của Mác - Ăngghen trong Tuyênngôn được rút ra từ quá trình nghiên cứu theo phương pháp đầy hiệu lực và

duy nhất đúng đắn ấy (xét ở góc độ tiếp cận khái quát triết học), chính là “cái

cụ thể” xét trên cả hai phương diện trong cấu trúc chung của quan niệm duy

vật lịch sử

Thứ nhất, với tính cách là cái cụ thể trong hiện thực hình thái kinh tế –

xã hội phản ánh lịch sử loài người bao gồm các thời kì, các giai đoạn với cácloại hình, chế độ cơ bản khác nhau, kế tiếp và tương đối tách biệt nhau Trong

đó mỗi thời kì, giai đoạn lịch sử, mỗi loại hình, chế độ lại có những nội dung,tính chất, đặc điểm riêng biệt khác nhau nhất định về lực lượng sản xuất, quan

hệ sản xuất, về cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, về cơ cấu và mâuthuẫn giai cấp xã hội, về hệ thống chính trị và đời sống tinh thần

Thứ hai, với tính cách là “cái cụ thể trong tư duy”, hình thái kinh tế xã

hội thống nhất, kết hợp, tổng hợp với hệ thống các nguyên lý, quy luật, phạmtrù khái niệm triết học duy vật lịch sử để tạo thành một quan niệm duy vậtlịch sử có nội dung vừa khái quát, vừa sinh động, vùa mang tính logic, vừamang tính lịch sử, vừa bao hàm cái chung, vừa thể hiện cái riêng, vừa khẳngđịnh cái phổ biến, vừa phản ánh cái đặc thù

Với nội dung hàm ý nghĩa như thế, quan niệm duy vật lịch sử này trởthành thế giới quan và phương pháp khoa học thực sự để nhận thức và địnhhướng đúng đắn cho hoạt động cải tạo thế giới Nó khác biệt về chất so vớinhững triết học – lịch sử mang “đức tính cao cả nhất là đức tính siêu lịch sử”,

Trang 12

tách rời khỏi mọi hoàn cảnh lịch sử thực tiễn cụ thể, có cao vọng trở thànhchìa khoá vạn năng để hiểu biết toàn bộ đời sống lịch sử, xã hội.

Hình thái kinh tế – xã hội với tính cách là một đối tượng nghiên cứuchỉnh thể cũng được Mác - Ăngghen đi sâu phân tích kĩ lưỡng hơn cũng theo

phương pháp “cụ thể – trừu tượng – cụ thể” giống như toàn bộ cấu trúc “cơ

thể” đời sống xã hội, toàn bộ lịch sử nhân loại nói chung Nhờ vậy các ông đã

phác hoạ, khái quát toàn bộ lịch trình tiến bộ loài người thành “mô hình”,

“sơ đồ” Mang tính “chuẩn hoá” gồm 5 hình thái kinh tế xã hội Trong đó,

sự vận động, phát triển của mỗi hình thái kinh tế – xã hội cũng như bướcchuyển từ hình thái kinh tế – xã hội này sang hình thái kinh tế – xã hội khácđều theo các quy luật duy vật lịch sử chung nhất, phổ biến, tất yếu

Đồng thời, Mác - Ăngghen cũng luôn xem xét khảo sát một cách cụthể, chi tiết và sâu sắc diễn biến, nội dung đời sống lịch sử hiện thực trực tiếpcủa nhiều loại hình xã hội đã từng tồn tại ở Tây Âu và các nước, khu vực kháctrên thế giới Từ đó, hai ông đã đạt tới nhận thức toàn diện về cả cái lịch sửlẫn cái lôgic, cái đặc thù lẫn cái phổ biến, cả cái riêng lẫn cái chung, cả cái bộ

phận lẫn cái toàn thể , tức là cả “cái cụ thể trong hiện thực” lẫn “ cái trừu tượng” Kết quả cuối cùng của sự nghiên cứu này là sự thống nhất, hợp nhất, tổng hợp của chính thành “cái cụ thể trong tư duy” vừa phong phú sinh động

hơn, vừa sâu sắc đầy đủ và hoàn chỉnh hơn Đáng chú ý rằng, đây là điều mà

không phải các nhà triết học đều thấy Trong khi đó, các nhà “phê phán Mác

- Ăngghen” cả trước lẫn nay thường bỏ qua đều rồi quay trở lại quy kết ông là

“giáo điều”, coi học thuyết hình thái kinh tế – xã hội là một loại quyết định luận mang tính “kinh viện”, “định mệnh”, “khuôn mẫu”, “cứng nhắc” và chỉ

có ý nghĩa “hạn hẹp”, “cục bộ”.

Mác - Ăngghen đã vạch ra “hạn chế tất yếu lịch sử” của sự phát triển

chủ nghĩa Tư bản mà chính các ông đã vạch ra, chỉ trong phạm vi các nước

Tây Âu và tư tưởng về vượt cấp “đặc thù”, “phi chuẩn hoá” của các hình

Trang 13

thái kinh tế – xã hội bên cạnh tiến trình phát triển chung nhất, phổ biến củachúng Phép biện chứng của đời sống thực tiễn ở đây là: cái chung, cái phổbiến, cái trừu tượng không phải luôn luôn đồng nhất với cái riêng, cái đặc thù,cái cụ thể Trái lại trong sự vận động phát triển của hiện thực, lịch sử xã hội,cái đặc thù, cái riêng, cái cụ thể và cái chung, cái phổ biến, cái trừu tượng cóthể không đồng nhất với nhau nhưng vẫn hoàn toàn thống nhất với nhau.

Tư tưởng về hình thái kinh tế – xã hội trong tác phẩm gắn liền với tưtưởng về phát triển vượt cấp Bởi vì thực ra những tư tưởng đó cùng với nhiều

tư tưởng cơ bản quan trọng khác trong tổng thể nội dung của quan niệm duyvật lịch sử, đều đã được Mác - Ăngghen đề cập đến trong suốt những năm 40của thế kỉ XIX Tức là giai đoạn cac ông mới hình thành thế giới quan duy vậtbiện chứng – duy vật lịch sử, lập trường cộng sản chủ nghĩa của mình Ngoài

ra, phát triển vượt cấp cũng cần được xem là vấn đề thuộc về chính nội dung

của Tuyên ngôn Nó được Mác và Ăngghen trực tiếp nhắc tới trong “Lời tựa cuối cùng” mà hai ông cùng soạn thảo, viết cho “Tuyên ngôn” xuất bản bằng

tiếng Nga, lần thứ hai, vào năm 1882

Tư tưởng Mác – Ăngghen về phát triển vượt cấp bao gồm những nộidung chính sau:

Trong một số điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, hình thái kinh tế – xã

hội thấp (thứ nhất) có thể phát triển vượt cấp lên một trình độ cao hơn hẳn (thứ ba), bỏ qua giai đoạn phát triển của hình thái kinh tế – xã hội kế tiếp liền

kề (thứ hai) Hiện tượng “lệnh chuẩn” so với “sơ đồ mẫu năm hình thái” này thực ra không mẫu thuẫn mà còn thống nhất với sự phát triển tuần tự qua “sơ

đồ mẫu” cũng không loại trừ mà bao hàm chính những bước nhảy vượt cấp

bỏ qua Đây chính là phép biện chứng sinh động giữa cái chung và cái riêng,cái trừu tượng và cái cụ thể, cái phổ biến và cái đặc thù, cái tổng thể và cái bộphận trong sự vận động và phát triển của lịch sử hiện thực của xã hội loàingười

Trang 14

Những điều kiện cho sự phát triển vượt cấp bao gồm:

Một là, xã hội thứ nhất phải vừa có mối liên hệ trực tiếp ít nhiều sâu

rộng chặt chẽ, đồng thời vừa có vị thế đối lập tương đối nhất định đối với xãhội thứ hai

Hai là, xã hội thứ hai không chỉ là phải đang tồn tại mà còn phải phát

triển đến một mức độ chín muồi nhất định của chính nó

Ba là, tuy xã hội thứ nhất có trình độ kinh tế thấp hơn, nhưng phương

thức sản xuất kém phát triển hơn, nhưng vẫn phải có những nhân tố vật chất,

xã hội nội tại nhất định có sức sống mạnh mẽ và mang tính tích cực bền vững,

để có thể tham gia được vào quá trình kết hợp, tổng hợp hình thành nền kếtcấu kinh tế- xã hội mới của xã hội thứ ba

Theo sự khảo sát, phân tích lịch sử của Mác – Ăngghen, thì sự pháttriển vượt cấp đã từng diễn ra với một số trương hợp Chẳng hạn, xã hội công

xã nguyên thuỷ của người Giéc Manh và xã hội chiếm hữu nô lệ của người La

Mã thời kỳ cuối cổ đại chuyển sang đầu trung đại Lúc đó người Giéc- Manh

có trình độ phát triển thấp hơn, nhưng lại chinh phục được đế quốc La Mãphát triển cao hơn Kết quả là các xã hội này đã thống nhất, hợp nhất với nhau

và cùng đi lên xã hội phong kiến Ở đây, phương thức sản xuất mới hìnhthành chính là kết quả của việc kế thừa, kết hợp, tổng hợp cải biến hai yếu tốchính: lực lượng sản xuất của người La Mã và quân sự của người Giéc Manh

Hoặc ngay trong thời hiện đại, có liên quan đến chủ đề này là nước Ngaphong kiến chuyên chế nửa cuối thế kỷ XIX Trong cuộc đời và hoạt độngcủa mình, Mác – Ăngghen sớm quan tâm đến nước Nga Xô Viết Đó là cườngquốc Âu - Á có kiến trúc thượng tầng phong kiến, chuyên chế và cơ sở hạtầng tư bản chủ nghĩa phát triển không cao, được hai ông đề cập riêng khánhiều trong vài ba thập niên cuối đời Mác - Ăngghen không chỉ chú ý đếntình thế cách mạng đang ngày càng gay gắt tại Nga nói chung, mà còn nhìnthấy ở nước này những khả năng nhất định cho sự phát triển bỏ qua Xã hội

Trang 15

Tư bản vượt cấp lên là xã hội Cộng sản Theo Mác - Ăngghen từ những tiền

đề cơ bản như: ở đây có kết cấu công xã nông thôn tồn tại khắp cả nước, cộngthêm vị thế độc lập thuận lợi của một nước lớn trong cục diện quốc tế đươngthời, đặt trong bối cảnh chủ nghĩa Tư bản phát triển mạnh ở Châu Âu, thìnước này có thể thực hiện bước chuyển vượt cấp lên Chủ nghĩa xã hội, bỏ qua

“khe sâu Cáp-đi-a”, là những nỗi tai ương đau khổ, của Chủ nghĩa tư bản.

Trên những tài liệu cụ thể sinh động đó hai ông cũng củng cố, khẳng định vàkhái quát vững chắc thêm nội dung lý luận chung trong tư tưởng về phát triển

vượt cấp vốn sớm hình thành từ thời kì mới viết “tác phẩm đầu tay” cho đến

Tuyên Ngôn

Trong giai đoạn từ Tuyên Ngôn trở đi với thực tiễn của Chủ nghĩa Tưbản nửa cuối thế kỉ XIX, trong đó có tình hình nước Nga phong kiến chuyênchế đã bước vào thời kì Tư bản hoá từ năm 1861, hai ông lại tiếp tục việcnghiên cứu khoa học chuyên biệt về vấn đề phát triển vượt cấp với sự vận

dụng phương pháp biện chứng “cụ thể – trừu tượng – cụ thể” Theo đó, Mác

- Ăngghen đã bổ sung vào các tài liệu lịch sử đã có từ thời trung cổ – trungđại và cận đại về phát triển vượt cấp bằng những tài liệu mới của nước Nga

đương thời Qua đấy “cái cụ thể trong hiện thực” về hiện tượng lịch sử đặc

biệt này được làm phong phú thêm, đồng thời “cái trừu tượng” (logic lý luậnchung về hiện tượng đó), cũng được củng cố, khẳng định thêm Cuối cùng

quá trình nhận thức đạt đến “cái cụ thể trong tư duy” này chính là tiền đề

nhận thức, lý luận dẫn đến tư tưởng về sự phát triển vượt cấp trong thời hiệnđại với nội dung bỏ qua xã hội Tư bản quá độ lên xã hội cộng sản như mộtkhả năng mới mẻ dẫn đến tư tưởng về sự phát triển vượt cấp trong thời hiệnđại với nội dung bỏ qua xã hội Tư bản quá độ lên xã hội cộng sản như mộtkhả năng mới mẻ có tính hiện thực trực tiếp cao Khả năng này có thể cònkhông phải là ngoại lệ cá biệt, xét trong bối cảnh mới của Chủ nghĩa Tư bảncuối thế kỉ thứ XIX đã công nghiệp hoá và quốc tế hoá mạnh mẽ, bước đầu

Trang 16

vượt khỏi phạm vi Tây Âu để vươn sang địa bàn Đông Âu, Bắc Mỹ và toànthế giới.

B.Phê phán cương lĩnh Gô-ta

Mác, Ăngghen tiếp tục phát triển sáng tạo học thuyết của mình vềchuyên chính vô sản, về hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa qua tác

phẩm “Phê phán cương lĩnh Gô-ta”.

Nước Đức vào những năm 1875 có hai tổ chức công nhân cùng hoạtđộng Một là đảng Xã hội dân chủ (phái Ai-xơ-nách), phong trào này do Líp-nếch và Bê-ben lãnh đạo, phong trào này theo khuynh hướng cơ hội chủnghĩa Năm 1875 hai phái này hội nghị hợp nhất ở Gô-ta, phái Ai-xơ-nách về

sự hợp nhất quá sớm với phái Lát-xan và đòi phái Lát-xan phải thừa nhận lý

luận chủ nghĩa xã hội khoa học là nền tảng tư tưởng Trong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gô-ta”, Mác không chỉ phê phán cương lĩnh chủ nghĩa cơ

hội đó mà còn phát triển một cách sáng tạo học thuyết của mình về chuyênchính vô sản, về xã hội chủ nghĩa Cộng sản

Tác phẩm viết năm 1875 nhưng mãi đến năm 1891, nghĩa là sau khi

Mác qua đời được đăng trên tạp chí “NeueZeit” (cơ quan lý luận của Đảng

Xã hội Dân chủ Đức) Ăngghen viết lời nói đầu, Mác viết toàn bộ nội dung

Sở dĩ có sự đứt quãng giữa thời gian tác phẩm được viết và công bố là do saukhi Mác, Ăngghen phê phán ban lãnh đạo phái Ai-xơ-nách là những ngườiđầu hàng Lát-xan, họ ít nhiều thức tỉnh, đi con đường đúng Vì vậy, Mác,Ăngghen thấy không cần thiết phải công bố Nhưng sau đại hội Đảng Xã hộiDân chủ Đức tháng 10-1890 ở Han-lơ đã quyết định một cương lĩnh mới chođại hội sau theo đề nghị của Líp-nếch, Ăngghen công đi tới kết luận công bố

ngay tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gô-ta”.

Tác phẩm đề cập đến những vấn đề sau:

Trang 17

Vấn đề thứ nhất: Những người thảo ra cương lĩnh Gô-ta đã không nhậnthức rõ mối quan hệ giữa lao động và điều kiện vật chất để lao động, do đókhông nêu ra được yêu cầu tư liệu sản xuất phải thuộc về người lao động

Nói tới những người lao động trong xã hội tư sản, trước hết là nói đếnnhững người công nhân làm thuê Hoàn toàn không có tư liệu sản xuất và phảibán sức lao động cho giai cấp tư sản là giai cấp chiếm hữu các tư liệu laođộng trên cơ sở đó bóc lột những người lao động về giá trị thặng dư và nôdịch họ Những xuất phát từ tình hình thực tế của nước Đức lúc này thì khôngchỉ giai cấp tư sản mà giai cấp địa chủ cũng là kẻ chi phối những nguồn sinhsống của người lao động trong đó có ruộng đất

Trong tác phẩm “Cương lĩnh Gô-ta”, cho rằng: “Lao động là nguồn gốc của mọi của cải và mọi văn hoá”, Mác đã phê phán quan niệm về phương

diện này Theo Mác, lao động không phải là nguồn gốc duy nhất tạo ra giá trị

sử dụng mà nó tạo ra (tức là của cải vật chất) mà “giới tự nhiên cũng như lao động là nguồn gốc của những giá trị sử dụng và chính bản thân lao động cũng chỉ là biểu hiện của một sức tự nhiên, sức lao động của con người” Vậy

lao động có kết hợp với đối tượng lao động và tư liệu sản xuất mới tạo rađược của cải

Mác chỉ rõ: do lao động cần được gắn liền với những điều kiện vật chất

để lao động, cho nên rất dễ hiểu là nêu công nhân có sức lao động mà không

có những điều kiện vật chất để lao động, thì nhất định sẽ phải làm nô lệ chonhững kẻ nắm trong tay những điều kiện vật chất ấy Trong trường hợp nhưthế, công nhân chỉ có thể lao động cũng như chỉ có thể sống nếu như họ đượcchiếm hữu những điều kiện vật chất cho phép Theo Mác, chính vì công nhânkhông phải làm chủ các tư liệu sản xuất, cho nên lao động càng phát triển lênthành lao động xã hội, thì ở phía người lao động, cảnh nghèo khổ và cảnhsống vất vưởng ngày càng phát triển, còn ở phía kẻ không lao động, của cải

và văn hoá lại càng phát triển

Ngày đăng: 20/01/2023, 00:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w