Do vậy, thu nhập thực tế tăng lên hay giảm xuống trong thời kỳ lạm phát phụ thuộc vào điều gì xảy ra với thu nhập bằng tiền, tức là, phải chăng các cá nhân có nhận thêm lượng tiền đã giả
Trang 1
ĐẠI HỌC UEH TRƯỜNG KINH DOANH KHOA KẾ TOÁN
TIỂU LUẬN
BỘ MÔN KINH TẾ HỌC - KINH TẾ VĨ MÔ
Đề tài: Tình hình lạm phát ở Việt Nam hiện nay
TP Hồ Chí Minh, ngày 4 tháng 3 năm 2022.
Trang 2
DANH SÁCH NHÓM THAM GIA VIẾT TIỂU LUẬN
Tên đề tài: Tình hình lạm phát ở Việt Nam hiện nay Thực trạng và giải pháp chính sách để kiềm chế lạm phát STT Họ và tên MSSV Nội dung thực hiện Tỷ lệ % hoàn thành 1 Từ Gia Hân 31211021773 Chương 2 100% 2 Nguyễn Hà My 31211023843 Chương 3 và kết luận 100% 3 Hoàng Vũ Kim Ngân 31211023565 Lời mở đầu và chương 1 100%
ĐIỂM:………
NHẬN XÉT CỦA GV: ………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
GV ký tên
Trang 3
MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU……….1
1 Lý do chọn đề tài ……… 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu……… 1
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA LẠM PHÁT 1.1Khái niệm về lạm phát và đo lường lạm phát
1.1.1 Khái niệm lạm phát
1.1.2 Đo lường lạm phát
2.1 Lạm phát trong ngắn hạn ………
2.1.1 Lạm phát do cầu kéo
2.1.2 Lạm phát do cho chi phí đẩy
2.1.3 Lạm phát ỳ ………
3.1 Lạm phát trong dài hạn …
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁT CHÍNH SÁCH ĐỂ KIỀM CHẾ LẠM PHÁT PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lạm phát vốn dĩ là vấn đề nhảy cảm của mỗi quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng Là một trong số chỉ tiêu để đánh giá trình độ kinh tế phát triển của một quốc gia song lạm phát cũng là công cụ gây trở ngại trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước Chính sách tiền tệ và chính sách tài chính của nhà nước chính là nguyên nhân sâu
xa dẫn đến tình trạng lạm phát và ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đến đời sống xã hội
Thế giới trong một thế kỷ vừa qua đã chứng kiến nhiều đợt bùng phát lạm phát ở nhiều nước Trong các đợt lạm phát này, đồng tiền mất giá, giá cả hàng hóa tăng vọt và kèm theo rất nhiều hệ lụy Đối với Việt Nam, trong một vài thập kỷ vừa qua, kể từ khi đổi mới nền kinh tế, cũng đã trải qua nhiều đợt bùng phát lạm phát và lạm phát hàng năm
Trang 4
thường ở mức cao Việc tìm ra đúng nguyên nhân là một điều quan trọng, nhưng quan trọng hơn là có chính sách đúng đắn để kiềm chế lạm phát và hơn nữa chính sách cũng phải linh hoạt uyển chuyển tùy thuộc vào tình hình thực tế Hiện tại vấn đề điều hành của chính phủ nhằm kiềm chế và giảm lạm phát vẫn đang là một vấn đề nhiều khó khăn Để
có cái nhìn thấu đáo về nguyên nhân lạm phát và nắm được các chính sách kiểm soát lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là gì? Hiệu quả của các chính sách như thế nào?
Là sinh viên chúng em thông qua các phương tiện truyền thông để tìm hiểu và đưa
ra những giải pháp hợp lý để giảm tỉ lệ lạm phát Vì vậy nhóm đã chọn đề tài nghiên cứu
về lạm phát ở Việt Nam và giải pháp kiềm chế lạm phát
Hy vọng bài tiểu luận này mang đến cho các bạn một lượng kiến thức nhỏ Trong quá trình làm tiểu luận Do kiến thức còn hạn chế và thời gian thực hiện ngắn nên không thể tránh có những sai sót Chúng em mong muốn nhận được những ý kiến góp ý quý giá
từ thầy cùng tất cả các bạn để tiểu luận được hoàn thiện hơn, rút được kinh nghiệm cho nhóm sau khi nghiên cứu đề tài này
Nhóm em xin chân thành cảm ơn
2, Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài thực hiện để tìm hiểu về thực trạng của lạm phát ở Việt Nam và đưa ra các giải pháp phù hợp kiềm chế lạm pháp giúp phát triển đất nước một cách toàn diện
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, quá trình nghiên cứu đề tài cần giải quyết những nhiệm
vụ cụ thể sau:
Thứ nhất: Tìm hiểu khái quát về lạm phát, lạm phát trong dài hạn và trong ngắn hạn Thứ hai: Tình hình lạm phát ở Việt Nam hiện nay, nguyên nhân và thực trạng.
Thứ ba: Đưa ra các giải pháp chính sách để kiềm chế lạm phát
Trang 5
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA LẠM PHÁT
1.1 Khái niệm và thước đo
1.1.1 Khái niệm
Một cách chung nhất có thể coi lạm phát là sự tăng lên liên tục của mức giá chung, hoặc lạm phát là sự giảm liên tục của giá trị đồng tiền Mức giá chung được hiểu là mức giá trung bình của giỏ hàng hóa và dịch vụ Khi mức giá chung tăng, người ta phải trả nhiều tiền hơn cho cùng một lượng hàng hóa, nói cách khác giá trị hay sức mua của đồng tiền bị giảm
Lạm phát được định nghĩa là sự gia tăng liên tục trong mức giá chung Điều này không nhất thiết có nghĩa giá cả của mọi hàng hóa và dịch vụ đồng thời phải tăng lên theo cùng một tỷ lệ, mà chỉ cần mức giá trung bình tăng lên Lạm phát vẫn có thể xảy ra khi giá của một số hàng hóa giảm, nhưng giá cả của các hàng hóa và dịch vụ khác tăng đủ mạnh Lạm phát cũng có thể được định nghĩa là sự suy giảm sức mua của đồng tiền Trong bối cảnh lạm phát, một đơn vị tiền tệ mua được ngày càng ít đơn vị hàng hóa và dịch vụ hơn Hay nói một cách khác, trong bối cảnh lạm phát, chúng ta sẽ phải chi ngày càng nhiều tiền hơn để mua một giỏ hàng hóa và dịch vụ nhất định Nếu thu nhập bằng tiền không tăng kịp tốc độ trượt giá, thì thu nhập thực tế, tức là sức mua của thu nhập bằng tiền sẽ giảm Do vậy, thu nhập thực tế tăng lên hay giảm xuống trong thời kỳ lạm phát phụ thuộc vào điều gì xảy ra với thu nhập bằng tiền, tức là, phải chăng các cá nhân
có nhận thêm lượng tiền đã giảm giá trị đủ để bù đắp cho sự gia tăng của mức giá hay không Người dân vẫn có thể trở nên khá giả hơn khi thu nhập bằng tiền tăng nhanh hơn tốc độ tăng giá Một điều quan trọng mà chúng ta cần nhận thức là lạm phát không chỉ đơn thuần là sự gia tăng của mức giá mà đó phải là sự gia tăng liên tục trong mức giá Nếu như chỉ có một cú sốc xuất hiện làm tăng mức giá, thì dường như mức giá chỉ đột ngột bùng lên rồi lại giảm trở lại mức ban đầu ngay sau đó Hiện tượng tăng giá tạm thời như vậy không được gọi là lạm phát Tuy nhiên, trong thực tế mỗi cú sốc thường có ảnh hưởng kéo dài đối với nền kinh tế và do đó có thể gây ra lạm phát
1.1.2 Đo lường lạm phát
Để đo lường mức độ lạm phát mà nền kinh tế trải qua trong một thời kỳ nhất định, các nhà thống kê kinh tế sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ lạm phát- thước đo tình trạng lạm phát chủ yếu trong một thời kỳ, được tính bằng phần trăm thay đổi của mức giá chung Tỷ lệ lạm phát
Trang 6
cho thời kỳ t được tính theo công thức sau:
Trong đó:
t: tỷ lệ lạm phát của thời kỳ t (có thể là tháng, quí, hoặc năm)
CPIt: chỉ số giá tiêu dùng của thời kỳ t
CPIt-1: chỉ số giá tiêu dùng thời kỳ trước đó
Tỷ lệ lạm phát (theo CPI) trong thời gian t còn có thể tính theo công thức sau:
2.1 Lạm phát trong ngắn hạn
2.1.1 Lạm phát do cầu kéo
Lạm phát do cầu kéo xảy ra do tổng cầu tăng, đặc biệt khi sản lượng đã đạt hoặc vượt quá mức tự nhiên Thực ra đây cũng là một cách định nghĩa về lạm phát dựa vào nguyên nhân gây ra lạm phát: lạm phát được coi là do sự tồn tại của một mức cầu quá cao Theo
lý thuyết này nguyên nhân của tình trạng dư cầu được giải thích do nền kinh tế chi tiêu nhiều hơn năng lực sản xuất Tuy nhiên để cho định nghĩa này có sức thuyết phục thì cần phải giải thích tại sao chi tiêu lại liên tục lớn hơn mức sản xuất Chúng ta sẽ lần lượt xem xét các thành tố của tổng cầu Lạm phát có thể hình thành khi xuất hiện sự gia tăng đột biến trong nhu cầu về tiêu dùng và đầu tư Chẳng hạn, khi có những làn sóng mua sắm mới làm tăng mạnh tiêu dùng, giá cả của những mặt hàng này sẽ tăng, làm cho lạm phát dâng lên và ngược lại Tương tự, lạm phát cũng phụ thuộc vào sự biến động trong nhu cầu đầu tư: sự lạc quan của các nhà đầu tư làm tăng nhu cầu đầu tư và do đó đẩy mức giá tăng lên Trong nhiều trường hợp, lạm phát thường bắt nguồn từ sự gia tăng quá mức trong các chương trình chi tiêu của chính phủ Khi chính phủ quyết định tăng chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư nhiều hơn vào cơ sở hạ tầng, thì mức giá sẽ tăng Ngược lại, khi chính phủ quyết định cắt giảm các chương trình chi tiêu công cộng, hoặc các công trình đầu tư lớn đã kết thúc, thì mức giá sẽ giảm
Trang 7
Lạm phát cũng có nguyên nhân từ nhu cầu xuất khẩu Tuy nhiên, hàng xuất khẩu tác động tới lạm phát trong nước theo một cách khác: khi nhu cầu xuất khẩu tăng, lượng còn lại để cung ứng trong nước giảm và do vậy làm tăng mức giá trong nước Ngoài ra, nhu cầu xuất khẩu và luồng vốn chảy vào cũng có thể gây ra lạm phát, đặc biệt trong chế độ
tỷ giá hối đoái cố định, vì điều này có thể là nguyên nhân dẫn tới sự gia tăng lượng tiền cung ứng Tình hình ngược lại sẽ xảy ra khi nhu cầu xuất khẩu và luồng vốn nước ngoài chảy vào giảm do nền kinh tế thế giới hay trong khu vực lâm vào suy thoái Trong đồ thị tổng cung - tổng cầu, lạm phát do cầu kéo xuất hiện khi có sự dịch chuyển sang bên phải của đường tổng cầu Như minh họa trong hình 1, sự gia tăng của một thành tố nào đó của tổng cầu sẽ làm dịch chuyển đường tổng cầu sang bên phải Do đường tổng cung dốc lên trong ngắn hạn, nền kinh tế sẽ có tốc độ tăng trưởng cao hơn và thất nghiệp thấp hơn, nhưng đồng thời lại phải đối mặt với lạm phát Rõ ràng lạm phát do cầu kéo sẽ không phải là vấn đề mà thực ra còn cần thiết và có lợi cho nền kinh tế nếu như nền kinh tế còn nhiều nguồn lực chưa sử dụng như trong trường hợp đường tổng cầu dịch chuyển từ AD0 đến AD1: lạm phát sẽ khá thấp trong khi sản lượng và việc làm sẽ tăng đáng kể Ngược lại, lạm phát do cầu kéo sẽ trở thành vấn đề thực sự nếu như toàn bộ nguồn lực đã sử dụng hết và đường tổng cung trở nên rất dốc như trong trường hợp đường tổng cầu dịch chuyển từ AD0 đến AD1 Khi đó, sự gia tăng tổng cầu chủ yếu đẩy lạm phát dâng cao trong khi sản lượng và việc làm tăng lên rất ít
2.1.2 Lạm phát do chi phí đẩy
Lạm phát cũng có thể xảy ra khi một số loại chi phí đồng loạt tăng lên trong toàn bộ nền kinh tế Trong đồ thị tổng cung - tổng cầu, một cú sốc như vậy sẽ làm đường tổng cung dịch chuyển lên trên và sang bên trái Trong bối cảnh đó, mọi biến số kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế đều biến động theo chiều hướng bất lợi: sản lượng giảm, cả thất nghiệp
và lạm phát đều tăng Chính vì vậy, loại lạm phát này được gọi là lạm phát do chi phí đẩy hay lạm phát đi kèm suy thoái (stagflation)
Trang 8
Ba loại chi phí thường gây ra lạm phát là: tiền lương, thuế gián thu và giá nguyên liệu nhập khẩu Khi công đoàn thành công trong việc đẩy tiền lương lên cao, các doanh nghiệp sẽ tìm cách tăng giá và kết quả là lạm phát xuất hiện
Vòng xoáy đi lên của tiền lương và giá cả sẽ tiếp diễn và trở nên nghiêm trọng nếu chính phủ tìm cách tránh suy thoái bằng cách mở rộng tiền tệ Việc chính phủ tăng những loại thuế tác động đồng thời đến tất cả các nhà sản xuất cũng có thể gây ra lạm phát Ở đây, thuế gián thu (kể cả thuế nhập khẩu, các loại lệ phí bắt buộc) đóng một vai trò đặc biệt quan trọng, vì chúng tác động trực tiếp tới giá cả hàng hoá Nếu so sánh với các nước phát triển là những nước có tỷ lệ thuế trực thu cao, chúng ta có thể nhận định rằng ở các nước đang phát triển, nơi mà thuế gián thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn thu từ thuế, thì thay đổi thuế gián thu dường như có tác động mạnh hơn tới lạm phát
Đối với các nền kinh tế nhập khẩu nhiều loại nguyên, nhiên, vật liệu thiết yếu mà nền công nghiệp trong nước chưa sản xuất được, thì sự thay đổi giá của chúng (có thể do giá quốc tế thay đổi hoặc tỷ giá hối đoái biến động) sẽ có ảnh hưởng quan trọng đến tình hình lạm phát trong nước Nếu giá của chúng tăng mạnh trên thị trường thế giới hay đồng nội
tệ giảm giá mạnh trên thị trường tài chính quốc tế, thì chi phí sản xuất trong nước sẽ tăng mạnh và lạm phát sẽ bùng nổ Những yếu tố nêu trên có thể tác động riêng rẽ, nhưng cũng có thể gây ra tác động tổng hợp, làm cho lạm phát có thể tăng tốc Nếu chính phủ phản ứng quá mạnh thông qua các chính sách thích ứng, thì lạm phát có thể trở nên không kiểm soát được, như tình hình của nhiều nước công nghiệp trong thập niên 1970
và đầu thập niên 1980
2.1.3 Lạm phát ỳ
Trong các nền kinh tế hiện đại trừ siêu lạm phát và lạm phát phi mã, lạm phát vừa phải có
xu hướng ổn định theo thời gian Hàng năm, mức giá tăng lên theo một tỷ lệ khá ổn định
Tỷ lệ lạm phát này được gọi là tỷ lệ lạm phát ỳ Đây là loại lạm phát hoàn toàn được dự tính trước Mọi người đã biết trước và tính đến khi thỏa thuận về các biến danh nghĩa được thanh toán trong tương lai
Trang 9
Lạm phát ỳ xuất hiện là do lạm phát trong quá khứ ảnh hưởng đến kỳ vọng về lạm phát trong tương lai và kỳ vọng này tác động đến tiền lương và giá cả mà mọi người ấn định Vào thời kỳ lạm phát cao của những năm 1970 ở Mỹ, R Solow đã nắm bắt chính xác khái niệm lạm phát ỳ và kết luận “Vì sao đồng tiền của chúng ta (nước Mỹ) lại mất giá?
Có lẽ chúng ta có lạm phát đơn giản là do chúng ta dự kiến lạm phát và chúng ta dự kiến lạm phát vì chúng ta có nó” Đồ thị cho thấy lạm phát ỳ xảy ra như thế nào Cả đường tổng cung và đường tổng cầu cùng dịch chuyển lên trên với tốc độ như nhau Sản lượng luôn được duy trì ở mức tự nhiên, trong khi mức giá tăng với một tỷ lệ ổn định theo thời gian
3.1 Lạm phát trong dài hạn
Lý thuyết tiền tệ là cách giải thích thuyết phục nhất về nguồn gốc sâu xa của hiện tượng lạm phát Tư tưởng cơ bản của các nhà tiền tệ là luận điểm cho rằng lạm phát về cơ bản là hiện tượng tiền tệ Tuy nhiên, nhiều tác giả khác, ví dụ như Friedman đã đi xa hơn và đề
ra một hình thái mạnh hơn của chủ nghĩa tiền tệ Họ đã chỉ ra mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa cung tiền và lạm phát: "Lạm phát ở đâu và bao giờ cũng là hiện tượng tiền tệ
và nó chỉ có thể xuất hiện một khi cung tiền tăng nhanh hơn sản lượng"
Thực ra, kết luận này dựa trên hai điều Thứ nhất, các nhà tiền tệ cho rằng lạm phát gây
ra bởi sự dư thừa tổng cầu so với tổng cung, và nguyên nhân của sự dư cầu này là do có quá nhiều tiền trong lưu thông Nếu cách giải thích này đúng về mặt lịch sử, thì nó khẳng định rằng lạm phát gây ra bởi sức ép từ phía cầu, chứ không phải từ phía cung Thứ hai, các nhà tiền tệ giả thiết rằng mối quan hệ nhân quả bắt nguồn từ cung ứng tiền đến mức giá, chứ không phải ngược lại là giá cả tăng lên làm tăng lượng tiền cung ứng Để hiểu mối quan hệ đó chúng ta phải xem xét cơ chế lan truyền Với giả thiết về thị trường cân bằng, và bắt đầu từ vị trí cân bằng trên thị trường tiền tệ, khi đó sự gia tăng trong cung ứng tiền tệ sẽ dẫn đến sự mất cân bằng trên thị trường tiền tệ Để thiết lập trạng thái cân bằng, một phần của số tiền dư thừa được dùng để mua hàng hoá và dịch vụ Tuy nhiên, vì
số lượng hàng hoá và dịch vụ được qui định bởi các nguồn lực khan hiếm trong nền kinh
tế, do đó xuất hiện dư cầu trên thị trường hàng hoá Điều này, đến lượt nó sẽ gây áp lực
Trang 10
làm giá cả tăng lên để thiết lập trạng thái cân bằng mới trên thị trường hàng hoá Trong
mô hình tổng cung - tổng cầu, sự gia tăng cung ứng tiền tệ sẽ dẫn đến sự dịch chuyển sang bên phải của đường tổng cầu và làm tăng mức giá do đường tổng cung thẳng đứng trong dài hạn Điểm khởi đầu cho lý thuyết số lượng là quan sát cho thấy dân cư giữ tiền chủ yếu để mua hàng hóa và dịch vụ Giả sử Y là mức sản lượng mà nền kinh tế tạo ra trong một năm và P là giá của một đơn vị sản lượng điển hình, khi đó số đồng được trao đổi trong năm bằng P.Y Vì tiền trao tay khi giao dịch, chúng ta có thể sử dụng thông tin này để dự đoán số lần mà một tờ giấy bạc điển hình trao tay trong năm Nếu chúng ta ký hiệu V là tốc độ chu chuyển, tức là số lần trung bình mà một tờ giấy bạc điển hình được
sử dụng để mua hàng hóa và dịch vụ trong một năm, và M là cung tiền, thì số đơn vị tiền
tệ trao đổi trong năm cần phải bằng M.V Do vậy, chúng ta có đồng nhất thức:
M.V = P.Y
Trong đó:
- M: lượng cung tiền danh nghĩa
- V: tốc độ lưu thông tiền tệ
- P: chỉ số giá tiêu dùng
- Y: sản lượng thực
Đó là phương trình số lượng, bởi vì nó phản ánh mối quan hệ giữa lượng tiền cung ứng (M) và GDP danh nghĩa (P.Y) Phương trình số lượng cho thấy sự gia tăng lượng tiền trong nền kinh tế phải được phản ánh ở một trong ba biến số khác: mức giá phải tăng, sản lượng phải tăng, hoặc tốc độ chu chuyển tiền tệ phải giảm Nhìn chung, tốc độ chu
chuyển tiền tệ tương đối ổn định theo thời gian Khi đó, lạm phát (P tăng) chỉ có thể xảy
ra khi lượng tiền cung ứng (M) tăng nhanh hơn sản lượng (Y): tốc độ tăng cung tiền càng cao thì tỷ lệ lạm phát càng cao (khi các nhân tố khác không thay đổi) Đồng thời, các biện pháp chính sách mà một nước cần thực hiện để giảm lạm phát chính là cắt giảm tốc độ cung ứng tiền tệ Như vậy, theo quan điểm này, chính sách tiền tệ sẽ là chính sách then chốt nhằm kiểm soát lạm phát; và chính sách tài khoá cũng có thể ảnh hưởng đến lạm phát bởi vì thâm hụt ngân sách của chính phủ có xu hướng làm tăng cung tiền
Do đó nhóm nhà kinh tế thuộc phái tiền tệ cổ điển cho rằng giá cả phụ thuộc vào lượng tiền phát hành Khi lượng cung tiền tăng lên thì mức giá cũng tăng theo cùng tỷ lệ, lạm phát xảy ra Thuyết này chỉ đúng khi cả V và Y không đổi Nhóm nhà kinh tế thuộc phái tiền tệ trọng tiền hiện đại, tiêu biểu là Milton Friedman cho rằng: Khi dự đoán được tốc
độ tăng trưởng của Y hàng năm và tốc độ lưu thông tiền tệ ổn định, thì chúng ta có thể xác định tỷ lệ tăng lượng cung tiền tương ứng mà không gây ra lạm phát Do đó ông đưa
ra quy tắc tiền tệ: Khi Y tăng theo tỷ lệ ổn định thì chính sách tốt nhất là tăng lượng cung tiền theo một tỷ lệ không đổi đã định thì P sẽ ổn định Tuy nhiên trong thực tế tốc độ tăng