1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tổng quát về công nghệ giáo dục

16 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổng quát về công nghệ giáo dục
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Công nghệ giáo dục
Thể loại bài luận
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 28,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TỔNG QUÁT VỀ CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC 1 Đặt vấn đề Trên thế giới, tư tưởng Công nghệ giáo dục (CNGD) ra đời vào những thập kỉ đầu của thế kỉ 20 ở một số nước Tây Âu, Mỹ và Nga Dạy học theo hướng Công nghệ g.

Trang 1

TỔNG QUÁT VỀ CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC

1 Đặt vấn đề

Trên thế giới, tư tưởng Công nghệ giáo dục (CNGD) ra đời vào những thập kỉ đầu của thế kỉ 20 ở một số nước Tây Âu, Mỹ và Nga. Dạy học theo hướng Công nghệ giáo dục, lấy học sinh làm trung tâm là một tư tưởng, quan điểm giáo dục, một cách tiếp cận quá trình dạy học chi phối toàn bộ quá trình dạy học cả về mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức, đánh giá Lịch sử phát triển giáo dục cho thấy, trong nhà trường một thầy dạy cho một lớp đông học trò, cùng lứa tuổi

và trình độ tương đối đồng đều thì giáo viên khó có điều kiện chăm lo cho từng học sinh nên đã hình thành kiểu dạy "Thầy nói - Trò ghi" Giáo viên có nhiệm vụ truyền đạt cho hết nội dung quy định trong sách giáo khoa, cố gắng làm cho mọi học sinh hiểu và nhớ những điều giáo viên giảng Cách dạy này khởi nguồn cho cách học tập thụ động, thiên về ghi nhớ, ít chịu suy nghĩ, nên đã hạn chế chất lượng và hiệu quả dạy và học Để khắc phục tình trạng này, các nhà sư phạm kêu gọi phải phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, quan tâm đến nhu cầu, khả năng của mỗi cá nhân học sinh trong tập thể lớp Không thể xem nhẹ hoạt động dạy của giáo viên, nhưng kết quả học tập có được chính là  do hoạt động học của học sinh, yếu tố bên trong quyết định. Dạy học theo hướng Công nghệ giáo dục ra đời trong hoàn cảnh đó

Cơ quan văn hoá và khoa học giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) đã đưa ra

định nghĩa về Công nghệ giáo dục như sau: “Công nghệ giáo dục là khoa học xác lập các nguyên tắc hợp lý của phương pháp dạy học và những điều kiện thuận lợi nhất để tiến hành quá trình giáo dục, cũng như các phương pháp, phương tiện có hiệu quả nhất để đạt được mục đích đào tạo với sự tiết kiệm sức lực của giáo viên

và học sinh”. Đồng thời đó còn là “tập hợp gắn bó chặt chẽ các phương pháp, phương tiện kỹ thuật, học tập và đánh giá được nhận thức và sử dụng tuỳ theo mục đích đang theo đuổi, có liên hệ với vận dụng dạy học và lợi ích của người học”. Công nghệ giáo dục về đến Việt Nam năm 1978, và chính thức ra đời năm

1992 cùng với việc thành lập Trung tâm Công nghệ giáo dục - thuộc Bộ Giáo dục

và Đào tạo, do GS.TSKH Hồ Ngọc Đại làm giám đốc Ở Việt Nam, từ khi ra đời cho đến nay, Công nghệ giáo dục được nhiều người ủng hộ, song cũng không ít ý kiến phản đối, nghi ngờ về sự tồn tại “có” hay “không” một Công nghệ giáo dục trong thực tế nhà trường? Câu trả lời còn đang để ngỏ, chờ đợi các nhà khoa học của tương lai

2 Phạm trù trẻ em

Trang 2

2.1 Trẻ em là gì

Xưa nay người ta hiểu học chỉ là việc học, hoặc học là cắp sách đến trường Nếu chấp nhận “chân lý” đó, thì chẳng phải làm gì thêm, cũng chẳng cần đổi mới gì hết

Để đổi mới cái nếp giáo dục vẫn tiến hành như một thói quen, thì điều trước tiên

phải hiểu : Trẻ em là gì? 

“Trẻ em là giai đoạn phát triển của đời người từ lúc sơ sinh cho đến tuổi trưởng thành Có đặc điểm nổi bật là sự tăng trưởng và phát triển liên tục về thể chất và tâm thần. Quá trình phát triển của trẻ em trải qua các thời kì: sơ sinh, bú mẹ, trước khi đi học, đi học và tuổi dậy thì Ở mỗi thời kì, có những đặc điểm sinh học khác nhau nên việc nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ cũng khác nhau, phù hợp với những đặc điểm của mỗi thời kì”(Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam).

Một trong những khuynh hướng của giáo dục học Âu – Mỹ cho rằng, trẻ em là Mặt trời mà tất cả mọi biện pháp giáo dục và phương pháp dạy học (nhất là trong các trường tiểu học) nhất thiết phải do hứng thú và nhu cầu trực tiếp, tự sinh của trẻ quyết định, chứ không xuất phát từ điều kiện xã hội kinh tế cũng như nhu cầu của

xã hội Thuyết trẻ em là trung tâm đã phê phán lối truyền thụ tri thức "từ bên

ngoài" và thay vào đó bằng việc tổ chức quá trình học sao cho "nhân cách của trẻ

có khả năng tự thể hiện tối đa". Họ phủ nhận vai trò quyết định của thầy giáo trong

việc dạy học và giáo dục trẻ Họ gạt bỏ việc dạy học có hệ thống và thay vào đó bằng những trò chơi, những cuộc mạn đàm Đúng là công việc dạy học và giáo dục phải xuất phát từ chính trẻ, phải làm sao cho nhân cách của trẻ được thể hiện tối

đa, nhưng không thể tách rời điều kiện kinh tế - xã hội, không thể đứng ngoài yêu cầu của chính trị

2.2. Charles Darwin(1809 - 1882) là người đầu tiên nghiên cứu và đo nghiệm trẻ

em Năm 1840, Ông ghi chép hàng ngày các thay đổi tâm lý của cậu con trai William Charles Darwin ghi chép các phản xạ lần đầu xuất hiện ở con trai Chẳng hạn, ngày tuổi thứ 9 cậu nhìn chằm chằm vào ngọn nến, ngày tuổi thứ 49 thì cậu chú ý vào cái tua sặc sỡ, vào ngày thứ 132 thì cậu tìm cách với tay đến đồ vật 37 năm sau Charles Darwin mới chịu công bố những ghi chép đó trên tạp chí Mind (Nga)

2.3. Jean Piaget (1896 - 1980) nhà tâm lý học, giáo dục học, triết học và lôgic học

Thuỵ Sĩ, một trong những người sáng lập ra môn tâm lí học phát triển, người đề xuất quan điểm thao tác về trí khôn và trí học phát sinh, chuyên nghiên cứu về tâm

lí học tư duy và tâm lí học trẻ em, tiếp tục cách ghi chép đó tiến hành thông qua những đứa con của mình là Lucienne, Jacqueline và Laurent cùng những học sinh

Trang 3

trường mầm non thuộc Viện Jean - Jacques Rousseau ở  Thụy Sĩ Tác phẩm

chính: "Tiếng nói và tư duy trẻ em" (1923). J.Piaget chia các

Giai đoạn phát triển trí tuệ của trẻ em như sau:

+ Giai đoạn 1: cảm giác vận động (0-2 tuổi) Giai đoạn này trẻ chỉ nhận thức được những cảm giác vận động, trẻ thường không có biểu tượng hoặc có ở mức tối thiểu Trẻ trong giai đoạn này có tính ích kỷ, nghĩa là trẻ lấy mình làm trung tâm để nhận

     + Giai đoạn 2: tiền thao tác (2-7 tuổi) Trẻ có ít biểu tượng và biết phân loại sự vật dựa trên sự giống nhau của chúng, trẻ giải quyết mọi việc dựa vào cảm tính hơn

     + Giai đoạn 3: thao tác cụ thể (7-11 tuổi) Trẻ hiểu đươc một số khái niêm phức tạp nhưng trẻ chỉ có thể vận dụng chúng vào những vấn đề cụ thể mà có thể giải quyết trực tiếp.Trẻ chưa có nhận thức về sự bảo toàn và bài toán ngược

+ Giai đoạn 4: thao tác hình thức (từ 11 tuổi trở đi) Trẻ có thể giải được bài toán bảo toàn và bài toán ngược, có thể vận dụng những khái niệm phức tạp vào trong những vấn đề trừu tượng cũng như cụ thể Ví dụ: A=B, B=C rút ra A=C

2.4. Vưgôtxki L.X (1896 - 1934) thường được đem so sánh với Jean Piaget, đặc

biệt là về lí thuyết phát triển nhận thức của trẻ Trái ngược với quan niệm vùng phát triển gần của LX.Vưgôtxki,  J.Piaget cho rằng, nguồn gốc quan trọng nhất của

sự nhận thức là ở chính đứa trẻ Tuy nhiên, LX.Vưgôtxki lại cho rằng, môi trường

xã hội có thể giúp phát triển nhận thức của trẻ Môi trường xã hội là một yếu tố quan trọng giúp cho đứa trẻ thích ứng về mặt văn hóa với tình trạng mới khi cần

Cả LX.Vưgôtxki và J.Piaget đều có chung một mục tiêu là tìm ra sự phát triển trí tuệ ở trẻ Lý thuyết của J.Piaget nhấn mạnh đến con đường tự nhiên của nhận thức, trong khi đó, lý thuyết của LX.Vưgôtxki quan tâm đến sự phát triển theo con đường văn hoá

2.5. Claparet (É Claparède) là nhà tâm lí học, giáo dục học người Pháp nổi tiếng,

sống tại Thụy Sĩ, tiến sĩ y khoa (1897), tiến sĩ danh dự của nhiều viện đại học, hội

viên danh dự của nhiều hội khoa học ở châu Âu và châu Mỹ đã viết:"Khoa sư phạm phải dựa vào sự hiểu biết đứa trẻ" và khẳng định kết luận của Rút xô (J J Rousseau) "Người ta không biết gì hết về tuổi trẻ" và "các bạn nên bắt đầu nghiên cứu kĩ hơn về những học sinh của các bạn, vì chắc chắn các bạn không biết gì về chúng".

Trang 4

2.6. J.Locke (1632 – 1704), xem trẻ em bị ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh

giống như khi sinh ra chỉ là tờ giấy trắng mà sự trải nghiệm cuộc sống tự do viết

lên đó J.Locke đã nhấn mạnh vai trò và quyền năng của giáo dục “trí tuệ của đứa trẻ cũng dễ dàng thay đổi giống như nước vậy” Ông nhấn mạnh tới mục tiêu rộng

lớn của giáo dục chính là để có những con người phù hợp với cuộc sống, với thế giới chứ không phải là để vào đại học Mục tiêu giáo dục quan trọng chính là đào tạo tính cách

2.7. Quan điểm của J.J. Rousseau (1712-1778) về trẻ em được thể hiện qua cuốn tiểu thuyết Emile hay bàn về giáo dục (5/1762) Trong đó Emile trải qua giai đoạn

giáo dục đầu tiên đến năm 12 tuổi; giáo dục về bản chất là hoàn toàn tự nhiên Giai đoạn hai từ 12 đến 15 tuổi: lí tính bắt đầu phát triển, và giai đoạn cuối cùng từ 15 tuổi trở đi: đứa trẻ tiếp tục phát triển thành người lớn. Trong tiểu thuyết này, J.J.Rousseau đã đưa ra một quan niệm mới về giáo dục: hãy để cho trẻ được phát triển theo quy luật tự nhiên, bố mẹ không nên cưỡng chế con cái theo ý mình Quan điểm giáo dục này của ông tuy có đôi chỗ thái quá, nhưng nhìn chung, hoàn toàn trái ngược với nền giáo dục gò bó của chế độ phong kiến và Giáo hội đương thời Cái bao trùm toàn bộ quan điểm giáo dục này là nêu cao tinh thần dân chủ và

tự do, hướng sự nghiệp giáo dục vào việc đào tạo ra những công dân kiểu mới trong một xã hội mới J.J. Rousseau không xem trọng sự cần thiết của giáo dục qua sách vở, cũng như việc ông nhấn mạnh sự cần thiết phải giáo dục cảm xúc cho trẻ

em trước khi giáo dục lí tính đã là tiền đề cho lý thuyết giáo dục hiện đại đặt trẻ em làm trung tâm. J.J. Rousseau cho rằng cần xây dựng một nền giáo dục mới, phù hợp với thiên nhiên và bản tính vốn có của con người Émile - người được hưởng

sự giáo dục toàn diện, trong đó thầy tôn trọng nhân phẩm trò, giáo dục trò bằng sự thuyết phục Tác phẩm thể hiện lòng yêu trẻ tha thiết, tinh thần dân chủ và chủ nghĩa nhân văn, tôn trọng tự do và nhân phẩm con người. J.J. Rousseau đã nhận xét : trẻ em có những cách nhìn, cách suy nghĩ, và cảm nhận riêng của nó Sự khác nhau giữa người lớn và trẻ em là sự khác nhau về chất. Để đứa trẻ có thể phát triển mọi năng lực của nó, việc chăm sóc, giúp đỡ của người lớn chỉ nên dừng lại ở mức thật cần thiết và cần chú ý đừng quá nuông chiều để làm “hư”

chúng. J.J. Rousseau viÕt : “Bất kỳ sự tai ác nào cũng từ sự yếu đuối mà ra; đứa trẻ chỉ tai ác vì nó yếu đuối; hãy làm cho nó mạnh, nó sẽ tốt; người nào có thể thực hiện mọi điều sẽ không bao giờ làm điều ác”.

2.8 J.Dewey(1859-1952)  

Là nhà triết học, tâm lý học, xã hội học, giáo dục học vĩ đại của Mỹ Ông là người khởi xướng trào lưu Tân giáo dục ở Mỹ cuối thế kỷ XIX, đã thành lập Trường

Trang 5

Thực nghiệm (1/1896), thuộc Đại học Chicago Đây là trường học đầu tiên của Mỹ

xác định “Trẻ em là trung tâm”. Hai khẩu hiệu: “Giáo dục là đời sống, chứ không phải chuẩn bị cho đời sống” và “Vừa làm vừa học” đã khái quát được tư tưởng dạy học của ông Với J.Dewey, “giáo dục chính là bản thân cuộc sống”, giáo dục chủ yếu phải là quá trình của người học chứ không phải của người dạy  “Trường học

và xã hội” (1899) và sau đó là Trẻ em và chương trình học (1902) là hai tác phẩm viết về triết lý giáo dục do ông khởi xướng Theo John Deweychương trình giáo

dục phải được xây dựng theo những lợi ích của trẻ, và mục tiêu của nhà trường là

sự trưởng thành của trẻ em trên mọi phương diện.Về sau, những ý tưởng này đã

được J.Dewey nói rõ hơn trong tác phẩm “Dân chủ và giáo dục”(1916).

2.9. Ferie A.(1879 - 1960), nhà giáo dục học Thụy Sĩ đầu thế kỷ 20, thành lập

trường thực nghiệm đầu tiên ở Glarixec (Thụy Sĩ) Chủ trương phát huy tính chủ động, thức tỉnh hứng thú của trẻ và chuẩn bị cho chúng tham gia hoạt động trong

cuộc sống Tác phẩm: "Chúng ta hãy biến đổi nhà trường" (1920), "Chế độ tự quản của học sinh" (1921), "Nhà trường hoạt động" (1920).

2.10. Lêôntiep A N. (1903 - 79), nhà tâm lí học Liên Xô, viện sĩ Viện Hàn lâm

Khoa học Giáo dục Liên Xô, tiến sĩ danh dự Trường Đại học Xoocbon (Sorbonne),

Pháp Những công trình khoa học đáng chú ý nhất gồm: "Sự phát triển chú ý có chủ định ở trẻ em" (1930), "Sự phát triển trí nhớ" (1931), "Hoạt động Ý thức -Nhân cách". Ông là một trong những người sáng lập ra Lí thuyết hoạt động tâm lí

người Giải thưởng Lênin (1963). Các quan niệm về trẻ em của Lêôntiep dựa trên lí thuyết hoạt động, một thành tựu lớn của Tâm lí học Xô Viết và thế giới Quan điểm tâm lý học của ông cho đến nay vẫn là kim chỉ nam cho tâm lí học Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 21

2.11 Tâm lí học ngày nay có những quan niệm về trẻ em  rất khác nhau:

+ Quan niệm thứ nhất cho rằng: trẻ em là người lớn thu nhỏ lại, sự khác nhau giữa

trẻ em và người lớn về tầm cỡ, kích thước, khác nhau về lượng, không khác nhau

về chất Bởi vì hoạt động của người lớn không cao hơn hẳn so với hoạt động của trẻ em, cũng làm bấy nhiêu việc với những thao tác giống hệt nhau Thời xa xưa, những thao tác lao động sản xuất không khác bao nhiêu so với thao tác sử dụng công cụ sinh hoạt Các thao tác hoạt động còn quá thô sơ, đơn điệu, khiến cho sự khác biệt về tâm lí giữa trẻ em và người lớn coi như không đáng kể

Trang 6

+ Quan niệm thứ hai cho rằng: xã hội càng văn minh, tuổi thơ được kéo dài hơn,

công cụ lao động đòi hỏi phải có những thao tác phức tạp hơn Nên những thao tác

sử dụng các công cụ lao động cao hơn những thao tác sử dụng đồ dùng sinh hoạt

Sự khác nhau đó đã làm cho tâm lí của trẻ em và người lớn có sự khác nhau về chất

+ Quan niệm thứ ba cho rằng: trẻ em vừa là trẻ em, vừa là người lớn đang hình

thành. Sự khác biệt tâm, sinh lý giữa trẻ em và người lớn vừa về lượng, vừa về chất (Nguyễn Hữu Long)

2.12  Quan điểm của Hồ Ngọc Đại

Trẻ em hiện đại là con đẻ rứt ruột của thời hiện đại Sinh ra, các em đã hưởng thụ ngay tất cả những thành quả mà cha ông đã dò dẫm suốt chiều dài lịch sử Đồng thời, chúng cũng phải đối mặt với những vấn đề mà thế hệ trước không biết đến và chưa từng trải qua Chính vì thế, như Hegel nói, các em sẽ tự sinh thành ra chính mình với những nét độc đáo của riêng mình Không thể áp đặt lên các em những chuẩn mực giáo dục của quá khứ

Trẻ em hiện đại sinh ra có đến 99,9% số gene giống nhau Tận dụng sự khác biệt nhỏ nhoi chỉ 0,1%, mỗi cá nhân cũng đủ trở thành chính mình, không lẫn với kẻ thứ hai Để có thể phát triển được,  trẻ em phải sống trong xã hội loài người, sống chung với người lớn. Trẻ em là một phạm trù phát triển, phát triển cùng với Phạm trù người Thuở nguyên sơ, tuổi thơ (thời trẻ con) rất ngắn và trừu tượng Phạm trù người càng phát triển, tuổi thơ càng dài ra và phân hoá Trẻ em hiện đại đã phát triển rất xa, nên đã phân hoá thành nhiều lứa tuổi : 0 – 2; 3 – 5; 6 – 12; 13 – 17;  Trẻ em hiện đại, xét về mặt triết học, dùng phép phủ định (biện chứng) các lứa tuổi đã qua để tạo ra sự phát triển của lứa tuổi đương thời Trẻ em là con đẻ của thời đại, nhà trường là nơi tổ chức cuộc sống thực của trẻ em. Trẻ em là nhân vật trung tâm trong nhà trường, mọi hoạt động trong nhà trường căn cứ vào trẻ em. Trẻ

em chấp nhận thì có cơ may thành công, trẻ em phản đối thì thất bại

3 Phạm trù học

3.1  Mục đích của học

Theo quan điểm của UNESCO mục đích của việc học là: “Học để Hiểu, Học để Làm, Học để Hợp tác, cùng chung sống và Học để làm người”.

3.1.1 Học để Hiểu

Trang 7

Ngày nay, học không thể dừng lại ở trình độ nhận biết, ghi nhớ, tái hiện, mà phải đạt trình độ thông hiểu Học - Hiểu là đi sâu nắm được bản chất sự vật, hiện tượng, nhận thức được quy luật của hiện thực khách quan, hiểu được chính bản thân mình

để có thể tự biến đổi mình Học - Hiểu là phát hiện, khai thác, phân tích, lý giải, xử

lí được thông tin, giải quyết vấn đề một cách có hiệu quả Học - Hiểu là học cách

tư duy, để tạo ra cho mình năng lực tư duy Học - Hiểu là học cách học, cách tự học, tự nghiên cứu, tự mình tìm ra kiến thức bằng hành động và thao tác tư duy của

chính mình. “Hãy học phương pháp chứ đừng học dữ liệu” (Thierry Gaudin) Học

- Hiểu là học cách học để tạo ra cho mình năng lực tự học và thói quen tự học suốt đời Học để Hiểu, Hiểu để Học Hiểu vừa là mục đích vừa là cách học Học là đi từ cái đã

 hiểu đến cái chưa hiểu, liên kết những cái đã hiểu, tạo ra các cầu nối nhận thức Học - Hiểu là phát huy đồng thời cả hai tố chất chính là tư duy và trí nhớ, học cách

tư duy và cách nhớ, làm cho trí nhớ ngày càng bền vững, tư duy ngày càng sắc bén Hiểu để nhớ Nhớ để hiểu Hiểu để học

3.1.2 Học để Làm

Học không chỉ để hiểu mà còn để ứng dụng, học để làm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã

nói: “Học với hành phải đi đôi Học mà không hành thì học vô ích. Hành mà không học thì hành không trôi chảy” “Cách tốt nhất để hiểu là làm” (Kant) Học

để Làm Làm để Học Làm vừa là mục đích vừa là cách học Hành để Học Vừa làm vừa học, hay vừa học vừa làm, học xen kẽ với làm, học lý thuyết kết hợp với lao động thực tiễn, đó là một đặc trưng cơ bản của việc học suốt đời, một xã hội

Học - Hành. “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”. (Nguyên lí giáo dục)

3.1.3 Học để hợp tác, cùng chung sống

Học để hợp tác Hợp tác để học Hợp tác vừa là mục đích vừa là cách học Học cá nhân phải kết hợp với học nhóm Học - Hiểu, Học - Làm, Học - Hợp tác là 3 mặt của một tổng thể, đan xen lẫn nhau, quyện vào nhau nhằm tạo ra những năng lực

cơ bản như: năng lực tư duy, năng lực phát hiện, hợp tác và giải quyết vấn đề, năng lực tự học và tổng hoà các năng lực đó thành nhân cách:  Học để làm người 3.1.4 Học để làm người Làm người phải học.“Học, học nữa, học mãi” (V.I Lê Nin)

Trang 8

3.2 Phong cách học (theo David A.Kolb Mỹ 1939).

Ông là tác giả của phương pháp học đổi mới Sau nhiều năm nghiên cứu đã xuất bản cuốn : The Kolb learning Style Inventory, 1975 Theo David A.Kolb, có thể chia cách học của học sinh thành 4 nhóm khác nhau

3.2.1 Học bằng cách quan sát người khác

Những học sinh có phong cách học này có thể nhìn sự vật từ nhiều hướng khác nhau Các em thích quan sát nhiều hơn hành động, có xu hướng thu thập thông tin

và sử dụng trí tưởng tượng để giải quyết vấn đề Các em  rất giỏi nhìn những tình huống cụ thể dưới một số quan điểm khác nhau,  có các mối quan tâm xã hội tổng quát và thích thu thập thông tin Hay quan tâm đến con người, hay tưởng tượng, giàu cảm xúc, giỏi các môn nghệ thuật Những học sinh có phong cách học này thích làm việc theo nhóm, lắng nghe với thái độ cởi mở và đón nhận phản hồi 3.2.2 Học bằng cách phát triển các lí thuyết

Phong cách học này thiên về phương pháp chính xác, lôgíc Các em giỏi trong việc hiểu rõ thông tin trên phạm vi rộng, và sắp xếp chúng dưới một hình thức rõ ràng, hợp lí Các em ít tập trung vào con người, mà quan tâm nhiều đến ý tưởng, các khái niệm trừu tượng Những học sinh này bị lôi cuốn vào những vấn đề mang tính

lí luận, lôgíc, hơn là các phương pháp dựa trên giá trị thực tế,  hợp với những nghề

về thông tin, khoa học, thích đọc, thuyết giảng, khám phá những mô hình phân tích

và dành thời gian để suy nghĩ thấu đáo

3.2.3 Học bằng cách dùng các lí thuyết đã được kiểm chứng để giải quyết vấn đề

và rút ra kết luận

Những học sinh có phong cách học này có thể giải quyết vấn đề và sẽ sử dụng những gì học được để tìm ra giải pháp cho những vấn đề thực tiễn Các em thích công việc kĩ thuật và ít quan tâm đến con người và các mối quan hệ giao tiếp Những học sinh  này giỏi tìm ra những ứng dụng thực tiễn cho các ý tưởng và lí thuyết Các em thường dùng các lí thuyết đã được kiểm chứng để giải quyết vấn đề

và rút ra kết luận

3.2.4 Học bằng cách rút ra từ kinh nghiệm mới

Những học sinh này học trên trực giác phán đoán hơn là lí luận lôgíc Các em này hay sử dụng những phân tích của các bạn và thích phương pháp thực tế dựa trên

Trang 9

kinh nghiệm. Các em bị lôi cuốn vào những thử thách trải nghiệm mới Phong cách học này thông dụng và hữu ích khi hành động và đề xuất sáng kiến Các em thích làm việc trong nhóm để hoàn thành nhiệm vụ, đặt ra mục tiêu và chủ động làm việc để tìm ra nhiều cách đạt tới mục tiêu

3.3 Phương pháp học

3.3.1 Học nghe

Ba tuổi đủ để học nói nhưng cả cuộc đời không đủ để biết lắng nghe Có miệng không có nghĩa là biết nói Có mắt không có nghĩa là biết đọc Có tay không có nghĩa là biết viết Vậy có tai đâu có nghĩa là biết lắng nghe Có sự khác biệt

giữanghe và lắng nghe.

Nghe là hành động vô thức nhận âm thanh bằng tai Khi học sinh không chủ động nghe, hành động nghe vẫn diễn ra Tuy nhiên lắng nghe là hành động có ý thức Lắng nghe đòi hỏi sự tập trung để não xử lí ý nghĩa của các từ và các câu Lắng

nghe dẫn đến việc học. “Một người biết lắng nghe luôn có gắng hiểu thấu đáo những gì người khác đang nói Dù cho dù sau đó, anh ta có thể phản đối người kia một cách kịch liệt, nhưng trước khi phản đối, anh ta sẽ lắng nghe để hiểu rõ ý kiến đó”(Kenneth A Wells, người Mỹ) Nghe chủ động có nghĩa là tập trung vào người

bạn đang lắng nghe, cho dù đó là cuộc nói chuyện trong nhóm hay là chỉ có hai người, để hiểu được họ đang nói điều gì Là người nghe, bạn nên tự mình có thể nhắc lại bằng từ ngữ của mình những gì họ vừa nói Điều đó không có nghĩa là bạn đồng ý với tất cả những gì họ nói, mà chỉ có nghĩa là bạn thực sự hiểu họ đang nói gì

Hầu hết mọi người thấy việc lắng nghe khó hơn là nghe vì nhiều trở ngại như : tâm

lí, không gian, ngôn ngữ, khả năng lĩnh hội v.v Vì thế để việc lắng nghe có hiệu quả, người nghe cần :

Chú ý: giúp hiểu rõ nội dung người nói đang trình bày, tôn trọng không cắt ngang

lời người nói

Mắt nhìn: mắt nhìn vào người nói để thấy được các cử chỉ hành vi phi ngôn ngữ.

Điều này giúp hiểu rõ nội dung hơn

Óc suy nghĩ: vừa nghe vừa phân tích nội dung của vấn đề đang được trình bày,

xem xét tính lôgíc của vấn đề

Không thành kiến: lắng nghe một cách khách quan Thể hiện sự đồng cảm với

người nói bằng cách đặt mình vào hoàn cảnh của người nói

Trang 10

Các cuộc nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng người ta lắng nghe nội dung chỉ được 25% hoặc ít hơn Một người trung bình chỉ nhớ 50% những gì đã nghe trong vòng mười phút nói chuyện và quên đi một nửa trong vòng bốn mươi tám tiếng đồng hồ Hầu hết mọi người thích nói hơn là nghe

Để nghe có hiệu quả, người học cần:

Đừng quá chú trọng vào phong cách giảng bài của giáo viên; Khách quan khi lắng nghe để  giảm được ảnh hưởng của cảm xúc khi nghe và kiên nhẫn cho đến khi bạn nghe được toàn bộ thông tin; Hãy lắng nghe để nắm được những khái niệm và tư tưởng cũng như các sự kiện, biết được sự khác biệt giữa sự kiện và nguyên tắc, ý kiến và ví dụ, bằng chứng và lập luận;

Hãy đoán xem những gì giáo viên  sẽ nói và suy nghĩ về những gì giáo viên  đã nói; Tìm kiếm thông tin không lời qua cách diễn tả của giáo viên; Hãy xem lại những điểm quan trọng, có ý nghĩa không? Những khái niệm có được minh họa bằng sự kiện không? Hãy cởi mở bằng cách nêu các câu hỏi làm sáng tỏ sự hiểu biết của bạn; Hãy khoan phán đoán phê bình cho đến khi giáo viên  kết thúc phần trình bày và chỉ phán đoán và phê bình nội dung chứ không phải phê bình giáo viên; Cần đưa ra ý kiến phản hồi để giáo viên  biết bạn đang theo dõi cuộc nói chuyện với họ; Tóm tắt nội dung bài giảng của giáo viên  sau khi giáo viên giảng xong; Cần ghi nội dung một cách ngắn gọn; Phải tập luyện kết hợp ba khả năng: nghe, nhìn và ghi Trí nhớ âm thanh sẽ được kết hợp với trí nhớ hình ảnh, ấn tượng của kiến thức dễ ăn sâu vào trong vỏ não Thoạt đầu, thì hai loại trí nhớ này hoạt động tách rời, chú ý nghe thì quên ghi hay trái lại Nhưng chỉ sau một thời gian tập luyện, ai cũng có thể kết hợp các khả năng này

Người không biết lắng nghe

 thường mắc phải những thiếu sót sau:

Không lắng nghe những chủ đề khô khan; Không chú ý nếu giáo viên  truyền đạt dở; Có khuynh hướng tranh luận; Ghi chép quá nhiều; Không thích đọc tài liệu dài

và khó; Thích phản ứng.Ngắt lời người nói (thiếu kiên nhẫn); Không có ánh mắt giao tiếp; Không quan tâm đến những gì giáo viên nói; Rất ít hoặc không đưa thông tin phản hồi cho giáo viên (cả ngôn từ và phi ngôn từ); Chỉ quan tâm đến mình;Đưa ra những lời khuyên không mong muốn; Không cởi mở

Người biết lắng nghe là những người:

Ngày đăng: 19/01/2023, 10:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hồ Ngọc Đại, 1994,1995. Công nghệ giáo dục (2 tập), Hà Nội, Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ giáo dục (2 tập)
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1994, 1995
2. Hồ Ngọc Đại, 2006. Giải pháp phát triển Giáo dục, Hà Nội, Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp phát triển Giáo dục
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2006
3. Nguyễn Cảnh Toàn, 2002 (Chủ biên). Học và dạy cách học, Nxb. Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học và dạy cách học
Tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn
Nhà XB: Nxb. Đại học Sư phạm
Năm: 2002
4. Phạm Quang Tiến, 2011. Công nghệ giáo dục bậc Trung học giai đoạn 1983 – 2010, Kỉ yếu hội thảo khoa học toàn quốc: Khoa học giáo dục Việt Nam 2/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ giáo dục bậc Trung học giai đoạn 1983 – 2010
Tác giả: Phạm Quang Tiến
Nhà XB: Khoa học giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
5. Phạm Quang Tiến, 2008. Phương pháp luận thiết kế bài học theo hướng Công nghệ học, Tạp chí Khoa học, Đại học sư phạm Hà Nội, tr 63-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận thiết kế bài học theo hướng Công nghệ học
Tác giả: Phạm Quang Tiến
Nhà XB: Tạp chí Khoa học, Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 2008
6. Phạm Quang Tiến, Lê Văn Hồng, 2008. Về Công nghệ giáo dục, Tạp chí Dạy và Học ngày nay Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về Công nghệ giáo dục
Tác giả: Phạm Quang Tiến, Lê Văn Hồng
Nhà XB: Tạp chí Dạy và Học ngày nay
Năm: 2008
7. J.Dewey, Dân chủ và giáo dục, Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ và giáo dục
Tác giả: J.Dewey
Nhà XB: Nxb. Tri thức
Năm: 2008
8. Geoffrey Petty, 1998. Dạy học ngày nay, Nxb. Stanley Thornes Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học ngày nay
Tác giả: Geoffrey Petty
Nhà XB: Stanley Thornes
Năm: 1998

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w