Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển của các doanh nghiệp xây dựng nhà nước những năm gần đây
Trang 1thực tiễn như vậy, tôi mạnh dạn thực hiện đề án: “Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển của các doanh nghiệp xây dựng nhà nước những năm gần đây” Trong quá trình thực hiện đề án này, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ rất nhiệt tình của giáo viên hướng dẫn TS.Đinh Đào Ánh Thuỷ,
tôi xin gửi lời cảm chân thành nhất tới giáo viên hướng dẫn Tuy nhiên do cònnhiều hạn chế trong vấn đề nhận thức, cùng với thời gian thực hiện đề án cóhạn, vì vậy bài viết của tôi không thể tránh nhiều thiếu sót Rất mong nhậnđược sự đóng góp ý kiến của các thày cô giáo, cùng các bạn đọc để bài viếtcủa tôi thêm hoàn thiện Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 2CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH XÂY DỰNG.
I Lý luận chung về đầu tư, đầu tư phát triển.
1 Khái quát về đầu tư, đầu tư phát triển
1.1 Đầu tư
Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành cáchoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơncác nguồn lực đã bỏ ra để đạt được kết quả đó Như vậy, mục tiêu của mọicông cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh vềnguồn lực mà người đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư
Nguồn lực phải hy sinh có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sứclao động và trí tuệ
Đầu tư được chia làm ba loại chính:
- Đầu tư phát triển
- Đầu tư tài chính
- Đầu tư thương mại
Ba loại đầu tư này luôn luôn tồn tại và có quan hệ tương hỗ nhau Đầu tưphát triển để tăng tích lũy, phát triển đầu tư tài chính và đầu tư thương mại.Ngược lại đầu tư tài chính và đầu tư thương mại hỗ trợ và tạo điều kiện đểtăng cường đầu tư phát triển
1.2 Đầu tư phát triển
1.2.1 Khái niệm đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển là bộ phận của đầu tư, là việc chi dùng vốn ở hiện tại
để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật
Trang 3chất (nhà xưởng thiết bị…) và tài sản trí tuệ (tri thức, kỹ năng…), gia tăngnăng lực sản xuất, tạo nên việc làm và vì mục tiêu phát triển.
Đầu tư phát triển cần rất nhiều loại nguồn lực Theo nghĩa hẹp, nguồnlực cho đầu tư phát triển là tiền vốn Theo nghĩa rộng, nguồn lực cho đầu tưphát triển là tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc thiết bị, tài nguyên Nhưvậy, khi xem xét lựa chọn dự án đầu tư hay đánh giá hiệu quả hoạt động củađầu tư phát triển cần tính đúng tính đủ các nguồn lực tham gia
Đối tượng của đầu tư phát triển là tập hợp các yếu tố được chủ đầu tư bỏvốn thực hiện nhằm đạt được nhưng mục tiêu nhất định Trên quan điểm phâncông lao động xã hội, có hai nhóm đối tượng đầu tư chính đó là đầu tư theongành và đầu tư theo lãnh thổ Trên góc độ tính chất và mục đích đầu tư, đốitượng đầu tư chia làm hai nhóm chính: công trình vì mục tiêu lợi nhuận vàcông trình phi lợi nhuận Trên góc độ xem xét mức độ quan trọng, đối tượngđầu tư chia thành: loại được khuyến khích đầu tư, loại không được khuyếnkhích đầu tư và loại bị cấm đầu tư Từ góc độ tài sản, đối tượng đầu tư chiathành: những tài sản vật chất (tài sản thực) và tài sản vô hình Tài sản vậtchất, ở đây, là những tài sản cố định được dùng cho sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp và nền kinh tế và tài sản lưu động Tài sản vô hình phát minhsáng chế, uy tín, thương hiệu…
Các kết quả đạt được của đầu tư góp phần làm tăng thêm năng lực sảnxuất của xã hội Hiệu quả của đầu tư phát triển phản ánh quan hệ so sánh giữakết quả xa hội thu được với chi phí chi ra để đạt được kết quả đó Kết quả vàhiệu quả đầu tư phát triển cần được xem xét cả phương diện chủ đầu tư và xãhội, đảm bảo kết hợp hài hòa giữa các loại lợi ích, phát huy vai trò chủ độngsáng tạo của chủ đầu tư, vai trò quản lý giám sát của cơ quan quản lý nhànước các cấp Thực tế, có những khoản đầu tư tuy không trực tiếp tạo ra tàisản cố định và tài sản lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh như đầu tưcho y tế, giáo dục, xóa đói giảm nghèo…nhưng lại rát quan trọng để nâng cao
Trang 4chất lượng cuộc sống và vì mục tiêu phát triển, do đó, cũng được xem là đầu
tư phát triển
1.2.2 Mục đích và kết quả chung
Mục đích của đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững vì lợi íchquốc gia, cộng đồng và nhà đầu tư Trong đó, đầu tư trong nước nhằm thúcđẩy tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập quốc dân, góp phần giải quyết việc làm
và nâng cao đời sống các thành viên trong xã hội
1.2.3 Đặc điểm đầu tư phát triển.
- Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho đầu tư phát triểnthường rất lớn Vốn đầu tư lớn nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình đầu tư.Quy mô vốn đầu tư lớn đòi hỏi phải có giải pháp tạo vốn và huy động vốnhợp lý, xây dựng các chính sách, quy hoạch, kế hoạch đầu tư đúng đắn, quản
lý chặt chẽ tổng vốn đầu tư, bố trí vốn theo tiến độ đầu tư, thực hiện đầu tưtrọng tâm trọng điểm
- Thời kỳ đầu tư kéo dài Thời kỳ đầu tư tính từ khi khởi công xây dựng
dự án đến khi dự án hoàn thành và đi vào hoạt động Nhiều công trình đầu tưphát triển kéo dài hàng chục năm Do vốn lớn lại khê đọng trong suốt quátrình thực hiện đầu tư nên để nâng cao hiệu quả sử vốn đầu tư, cần tiến hànhphân kỳ đầu tư, bố trí vốn và các nguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểmtừng hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư, khắcphục tình trạng thiếu vốn, nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản
- Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài Thời gian vận hành cáckết quả đầu tư tính từ khi đưa công trình vào hoạt động cho đến khi hết thờihạn sử dụng và đào thải công trình Nhiều thành quả đầu tư phát huy tác dụnglâu dài, có thể tồn tại vĩnh viễn như Kim Tự Tháp ở Ai Cập, Nhà Thờ La Mã
ở Roma, Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc….Trong suốt quá trình vận
Trang 5hành, các thành quả đầu tư chịu tác động của hai mặt, cả tích cực và tiêu cực,của nhiều yếu tố tự nhiên, chính trị, xã hội…
- Các thành quả trong hoạt động đầu tư phát triển mà là các công trìnhxây dựng thường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng nên, do
đó quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kỳ vận hành các kết quả đầu tưchịu ảnh hưởng lớn của các nhân tố tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng Không thể
dễ dàng di chuyển các công trình đã đầu tư từ nơi này sang nơi khác nên côngtác quản lý đầu tư phát triển cần quán triệt đặc điểm này trên một số nội dungsau:
+ Trước tiên cần phải có chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư đúngđắn Đầu tư cái gì, công suất bao nhiêu là hợp lý… cần phải được nghiên cứu
kĩ lưỡng, dựa trên những căn cứ khoa học
+ Lựa chọn địa điểm đầu tư hợp lý Để lựa chọn địa điểm đầu tư đúngcần phải dựa trên những căn cứ khoa học, dựa vào một hệ thống các chỉ tiêukinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, văn hóa…Cần xây dựng một bộ tiêu chíkhác nhau và nhiều phương án so sánh để lựa chọn vùng lãnh thổ và địa điểmđầu tư cụ thể hợp lý nhất, sao cho khai thác được tối đa lợi thế vùng và khônggian đầu tư cụ thể, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
+ Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao Do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kỳđầu tư kéo dài và thời gian vận hành các kết quả đầu tư cũng kéo dài…nênmức độ rủi ro của hoạt động đầu tư phát triển thường cao Rủi ro đầu tư donhiều nguyên nhân trong đó nguyên nhân chủ quan từ phía các nhà đầu tưquản lý kém, chất lượng sản phẩm không đạt yêu cầu…có nguyên nhân kháchquan như giá nguyên liệu tăng, giá sản phẩm giảm, công suất không đạt côngsuất thiết kế….Như vậy, để quản lý hoạt động đầu tư có hiệu quả, cần thựchiện các biện pháp quản lý rủi ro bao gồm:
Trang 6+ Thứ nhất, nhận diện rủi ro đầu tư Có nhiều nguyên nhân rủi ro, dovậy, việc xác định đúng nguyên nhân rủi ro sẽ là khâu quan trọng đầu tiên đểtìm ra giải pháp phù hợp để khắc phục.
+ Thứ hai, đánh giá mức độ rủi ro Rủi ro có khi xảy ra rất nghiêm trọng,nhưng có khi chưa đến mức gây nên những thiệt hại về kinh tế Đánh giáđúng mức độ rủi ro sẽ giúp ta đưa ra nhưng biện pháp phòng và chống phùhợp
+ Thứ ba, xây dựng các biện pháp phòng và chống rủi ro Mỗi loại rủi ro
và mức độ rủi ro nhiều hay ít sẽ có biện pháp phòng và chống tương ứngnhằm hạn chế đến mức thấp nhất có thể có do rủi ro này gây ra
1.2.4 Nguồn vốn cho đầu tư phát triển
Nguồn lực để thực hiện đầu tư là vốn Nội dung và nguồn gốc của vốn lànhững vấn đề cốt lõi cần phải giải quyết của lý thuyết đầu tư phát triển Bảnchất của đầu tư phát triển còn được thể hiện ở nội dung vốn và nguồn vốn đầu
tư, lý luận biện chứng về mối quan hệ hữu cơ giữa hai vấn đề này
Vốn đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của vốn nói chung Trên phươngdiện kinh tế, vốn đầu tư phát triển là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những chiphí đã chi ra để tạo ra năng lực sản xuất (tăng thêm tài sản cố định và tài sảnlưu động) và các khoản đầu tư phát triển khác.Về cơ bản vốn đầu tư phát triểnmang những đặc trung của vốn như: (1) vốn đại diện cho một lượng giá trị tàisản;(2) vốn phải vận động sinh lời;(3) vốn cần được tích tụ và tập trung đếnmột mức nhất định mới có thể phát huy tác dụng;(4) vốn phải gắn với chủ sởhữu;(5) vốn có giá trị về mặt thời gian
Nội dung cơ bản của vốn đầu tư phát triển trên phạm vi nền kinh tế baogồm:
Trang 7(a) Vốn đầu tư xây dựng cơ bản: là những chi phí bằng tiền để xây dựngmới ,mở rộng,xây dựng lại hoặc khôi phục năng lực sản xuất của tài sản cốđịnh trong nền kinh tế quốc dân.
(b) Vốn lưu động bổ sung: bao gồm những khoản đầu tư nhằm mua sắmnguyên vật liệu, thuê mướn lao động…làm tăng tài sản lưu động trong kỳ củatoàn bộ xã hội
(c) Vốn đầu tư phát triển khác: là tất cả các khoản đầu tư của xã hộinhằm gia tăng năng lực phát triển của xã hội, nâng cao trình độ dân trí,cảithiện chất lượng môi trường Ví dụ như vốn đầu tư cho lĩnh vực giáo dục:chương trình phổ cập giáo dục, nghiên cứu, triển khai đào tạo…Vốn chi chocác chương trình mục tiêu quốc gia nhằm tăng cường sức khoẻ cộng đồngnhư chương trình tiêm chủng mở rộng, chương trình nước sạch nông thôn…Nguồn vốn đầu tư phát triển là thuật ngữ chỉ các nguồn tích luỹ, tậptrung và phân phối cho đầu tư Về bản chất, nguồn hình thành vốn đầu tư pháttriển chính là phần tiết kiệm hay tích luỹ mà nền kinh tế có thể huy động đểđưa vào quá trình tái sản xuất xã hội Nguồn vốn đầu tư phát triển trênphương diện vĩ mô, bao gồm nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài
Nguồn vốn trong nước gồm: Vốn nhà nước, vốn dân doanh và vốn trên thị trường vốn Nguồn vốn nước ngoài bao gồm: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn vay thương mại nước ngoài và nguồn vốn trên thị trường vốn quốc tế Trong mỗi thời kỳ khác
nhau, quy mô và tỷ trọng vốn của từng nguồn vốn có thể thay đổi nhưng đểchủ động phát triển KTXH của quốc gia theo định hướng chiến lược và kếhoạch đặt ra, cần nhất quán quan điểm: xem vốn trong nước giữ vai trò quếtđịnh, vốn nước ngoài là quan trọng
Trang 8II Lý luận về doanh nghiệp xây dựng (DNXD).
1 Khái niệm chung về DNXD.
Theo khoản 1 điều 4 chương I của Luật doanh nghiệp 2005 (sửa đổi) thì:
“Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch
ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mụcđích thực hiện các hoạt động kinh doanh”
Ngành xây dựng theo nghĩa rộng bao gồm chủ đầu tư có công trình cầnxây dựng kèm theo các bộ phận có liên quan, các doanh nghiệp chuyên nhậnthầu xây lắp công trình, các tổ chức tư vấn đầu tư và xây dựng, các tổ chứccung ứng vật tư thiết bị cho xây dựng, các tổ chức tài chính và ngân hàngphục vụ xây dựng, các tổ chức nghiên cứu đào tạo phục vụ xây dựng, các cơquan nhà nước trực tiếp liên quan đến xây dựng và các tổ chức dịch vụ khácphục vụ xây dựng
Ngoài ra theo khoản 1 điều 3 chương I của Luật xây dựng 2003 thì “hoạt động xây dựng bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xâydựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi côngxây dựng công trình, quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, lựa chọn nhàthầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác có liên quan đến xâydựng công trình”
Vai trò và nhiệm vụ của ngành xây dựng có thể thấy rõ ở những điểmsau:
- Ngành xây dựng là một trong những ngành kinh tế lớn của nền kinh tếquốc dân, đóng vai trò chủ chốt ở khâu cuối cùng của quá trình sáng tạo nên
cơ sở vật chất - kỹ thuật và tài sản cố định cho mọi lĩnh vực hoạt động của đấtnước và xã hội dưới mọi hình thức
Trang 9- Các công trình xây dựng luôn luôn có tính chất kinh tế, kỹ thuật, vănhoá, nghệ thuật và xã hội tổng hợp, là kết tinh của các thành quả khoa học, kỹthuật và nghệ thuật của nhiều ngành ở thời điểm xem xét.
- Ngành xây dựng chi phí một nguồn vốn khá lớn của quốc gia và xã hội.Những sai lầm trong xây dựng thường gây nên những thiệt hại khá lớn và rấtkhó sửa chữa trong nhiều năm
- Ngành xây dựng cũng có một phần đóng góp đáng kể vào giá trị tổngsản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân
2 Các nội dung cơ bản của hoạt động đầu tư phát triển của các doang nghiệp ngành xây dựng
Theo khái niệm, nội dung đầu tư phát triển bao gồm: Đầu tư những tàisản vật chất (tài sản thực) và đầu tư những tài sản vô hình Đầu tư phát triểncác tài sản vật chất gồm: đầu tư tài sản cố định (đầu tư xây dựng cơ bản) vàđầu tư vào hàng tồn kho Đầu tư phát triển tái sản vô hình gồm các nội dung:đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đầu tư nghiên cứu triển khai cáchoạt động khoa học - công nghệ - kĩ thuật, đầu tư xây dựng thương hiệu-quảng cáo… Từ các nội dung của đầu tư phát triển đã trình bày ở trên, cácDNNN hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau cần xác định nội dung nào làquan trọng, có vai trò quyết định đến các nội dung khác ở DN mình để tậptrung đầu tư và phát triển Riêng đối với các DN xây dựng thì hoạt động đầu
tư phát triển chủ yếu tập trung vào 3 nội dung chính sau đây:
2.1 Đầu tư xây dựng cơ bản
Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động đầu tư nhằm tái tạo tài sản cố địnhcủa doanh nghiệp Đầu tư xây dựng cơ bản bao gồm các hoạt động chính như:Xây lắp và mua sắm máy móc thiết bị Trong doanh nghiệp đặc biệt doanhnghiệp sản xuất kinh doanh, để các hoạt động diễn ra bình thường đều cầnxây dựng nhà xưởng, kho tàng, các công trình kiến trúc, mua và lắp đặt trên
Trang 10nền bệ các máy móc thiết bị… Hoạt động đầu tư này đòi hỏi vốn lớn và chiếm
tỉ trọng cao trong tổng vốn đầu tư phát triển của đơn vị
2.2 Đầu tư phát triển nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế và doanhnghiệp Chỉ có nguồn nhân lực chất lượng cao mới đảm bảo dành thắng lợitrong cạnh tranh Do vậy, đầu tư nâng cao chất lượng nhân lực là rất cần thiết.Đầu tư phát triển nguồn nhân lực bao gồm: đầu tư cho hoạt động đào tạo(chính quy, không chính quy, dài hạn, ngắn hạn, bồi dưỡng nghiệp vụ….) độingũ lao động; đầu tư cho công tác chăm sóc sức khỏe-y tế; đầu tư cải thiệnmôi trường-điều kiện lao động của người lao động…Trả lương đúng và đủcho người lao động cũng được xem là hoạt động đầu tư phát triển Đầu tưphát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp bắt đầu từ khâu tuyển người laođộng Đây là cơ sở để có được lực lượng lao động tốt, bởi vậy khâu tuyểnngười đòi hỏi cần phải rất khắt khe cẩn thận nhất.Tuyển người hiện nay đòihỏi phải đạt được các yêu cầu như : Trình độ văn hoá , ngoại ngữ, trình độ vitính …Tiếp đến là quá trình nâng cao khả năng lao động của người lao độngthường xuyên.Trong điều kiện đổi mới hiện nay rất nhiều công nghệ hiện đại
đã và đang được ứng dụng trong các loại hình doanh nghiệp nước ta.Vì vậyviệc đào tạo lao động là yêu cầu vô cùng quan trọng Cuối cùng là việc khenthưởng tổ chức các hoạt động về tinh thần giúp người lao động hăng say trongcông việc từ đó nâng cao năng suất lao động Các hinh thức khen thưởng đangđược thực hiện ở các doanh nghiệp các cá nhân thành viên có thanh tích tốtđều được thưởng xứng đáng góp phần nâng cao trong xí nghiệp , công ty , cáccuộc thi các cá nhân …Nhờ có chính sách đào tạo lao động nhiều doanhnghiệp đã đạt được những thanh công to lớn , góp phần không nhỏ trongchiến lược sản xuất kinh doanh cũng như chiến lược cạnh tranh của mình
Trang 112.3 Đầu tư nghiên cứu và triển khai các hoạt động khoa học và công nghệ.
Phát triển sản phẩm mới và các lĩnh vực hoạt động mới đòi hỏi đầu tưcho các họat động nghiên cứu, triển khai, ứng dụng công nghệ Đầu tư nghiêncứu hoặc mua công nghệ đòi hỏi vốn lớn và độ rủi ro cao Hiện nay khả năngcho họat động nghiên cứu và triển khai khoa học và công nghệ của doanhnghiệp Việt Nam còn khá khiêm tốn Cùng với đà phát triển của kinh tế đấtnước và doanh nghiệp, trong tương lai tỷ lệ chi cho hoạt động đầu tư này sẽngày càng tăng ương ứng với nhu cầu và khả năng của doanh nghiệp
*Các yếu tố ảnh hưởng đến nghiên cứu và triển khai của doanh nghiệp
- Khả năng tài chính của doanh nghiệp: khả năng tài chính của doanhnghiệp sx cho phép xác định được khả năng và quy mô đầu tư nghiên cứu vàtriển khai của doanh nghiệp
- Quy mô sản xuất kinh doanh cua doanh nghiệp: quy mô sản xuất kinhdoanh cang lớn thì khả năng quy mô đầu tư nghiên cứu triển khai càng lớn
- Cơ hội về đổi mới kĩ thuật và các cơ hội trong ngành: những ngành cónhiều cơ hội đổi mới công nghệ và kĩ thuật đòi hỏi các doanh nghiệp trongngành đó phải tích cực đầu tư cho nghiên cứu nắm bắt kịp thời các cơ hội về
kĩ thuật và công nghệ của ngành
Khi đánh giá hiệu quả đầu tư nghiên cứu triển khai các doanh nghiệpthường dựa trên một số quan điểm sau :
+ Thứ nhất là, hiệu quả đầu tư nghiên cứu triển khai phải được xem xétđánh giá toàn diện về các mặt tài chính kinh tế xã hội , môi trường
+ Thứ hai là, hiệu quả đầu tư nghiên cứu và triển khai vừa có thể lượnghoá được vừa có thể không lượng hoá được Do đó kết quả của đầu tư chonghiên cứu và triển khai có thể được thể hiện dưới dạng hiện hoặc dưới dạng
ẩn tuỳ theo dự án, chương trình nghiên cứu
Trang 12Tóm lại có thể nói đầu tư cho nghiên cứu triển khai đóng vai trò quantrọng trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Các chương trình và
dự án R&D gắn chặt với chiến lược kinh doanh giúp các doanh nghiệp đạtđược các mục tiêu ngắn hạn cũng như dài hạn về kinh tế cũng như các ảnhhưởng khác
III Hiệu quả đầu tư và các chỉ tiêu đánh giá
1 Khái niệm và phân loại hiệu quả đầu tư
Hiệu quả đầu tư là phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa cáckết quả kinh tế-xã hội đạt được của hoạt động đầu tư với các chi phí phải bỏ
ra để có các kết quả đó trong một thời kì nhất định
Để đáp ứng nhu càc quản lý và nghiên cứu thì có thể phân loại hiệu quảđầu tư theo các tiêu thức sau đây:
- Theo lĩnh vực hoạt động của xã hội có hiệu quả kinh tế, hiệu quả xãhội, hiệu quả kĩ thuật hiệu quả quốc phòng
- Theo phạm vi tác dụng của hiệu quả, có hiệu quả đầu tư của từng dự
án, từng doanh nghiệp, từng ngành, địa phương và toàn bộ nền kinh tế quốcdân
- Theo phạm vi lợi ích có hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế-xãhội Hiệu quả tài chình là hiệu quả kinh tế được xem xét trong phạm vi mộtdoanh nghiệp còn hiệu quả kinh tế-xã hội là hiệu quả tổng hợp được xem xéttrong phạm vi toàn bộ nền kinh tế
- Theo mức độ phát sinh trực tiếp hay gián tiếp có hiệu quả trực tiếp vàhiệu quả gián tiếp
-Theo cách tình toán, có hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối Hiệuquả tuyệt đối là hiệu quả được tính bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí Cònhiệu quả tương đối được tính bằng tỷ số giữa kết quả và chi phí
Trang 132 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư
2.1 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của hoạt động đầu tư
Hiệu quả tài chính (Etc) của hoạt động đầu tư là mức độ đáp ứng nhu cầuphát triển hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và nâng cao đời sống củangười lao động trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ trên cơ sở vốnđầu tư mà cơ sở đã sử dụng so với các kì khác, các cơ sở khác hoặc so vớiđịnh mức chung
Etc được coi là hiệu quả khi Etc >Etc0
Trong đó:
sở đạt được chọn làm cơ sở so sánh, hoặc của đơn vị khác đạt tiêu chuẩn hiệuquả
Để đánh giá hiệu quả tài chính chúng ta phải sử dụng một hệ thống cácchỉ tiêu
Mỗi một chỉ tiêu phản ánh một khía cạnh của hiệu quả và sử dụng trongnhững điều kiện nhất định Các chỉ tiêu này được xét trên hai phương diệnkhác nhau là đối với dự án đầu tư và đối với doanh nghiệp thực hiện đầu tư
* Đối với dự án đầu tư:
Các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của hoạt động đầu tư bao gồm :
+1 Chỉ tiêu lợi nhuận thuần, thu nhập thuần của dự án:
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả tuyệt đối của dự án đầu tư Chỉ tiêu lợinhuận thuần tình cho từng năm của đời dự án, phản ánh hiệu quả hoạt độngtrong từng năm của đời dự án Chỉ tiêu thu nhập thuần phản ánh hiệu quả hoạtđộng của toàn bộ công cuộc đầu tư Các chỉ tiêu này phải được tính chuyển vềmặt bằng tiền tệ theo thời gian
+2 Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư:
Trang 14RRi là mức sinh lời của vốn đầu tư năm i
Wipv là lợi nhuận năm I tính chuyển về thời điểm hiện tại
Iv0 là vốn đầu tư tại thời điểm hiện tại (tại thời điểm dự án bắt đầu hoạtđộng)
Chỉ tiêu này phản ánh mức lợi nhuận thu được từng năm trên một đơn vịvốn đầu tư (1000đ, 1000000đ,…)
v0
I
NPV npv
Trong đó:
NPV - là thu nhập thuần tính về thời điểm hiện tại
Chỉ tiêu này phản ánh mức thu nhập thuần tính cho một đơn vị vốn đầutư
+3 Chỉ tiêu thời gian thu hồi vốn đầu tư (T)
Chỉ tiêu này cho biết thời gian ma dự án cần hoạt động để thu hồi vốnđầu tư đã bỏ ra từ lợi nhuận và khấu hao thu được hàng năm Dự án có hiệuquả khi T T định mức Thời gian thu hồi vốn càng ngắn thì hiệu quả của dự
án càng cao
+4 Chỉ tiêu hệ số hoàn vốn nội bộ (IRR) :
Hệ số hoàn vốn nội bộ là mức lãi suất nếu dùng nó làm tỷ suất chiết khấu
để tính chuyển các khoản thu, chi của dự án về mặt bằng thời gian hiện tại thìtổng thu cân bằng với tổng chi Dự án có hiệu quả khi IRR r giới hạn Tỷsuất giới hạn được xác định căn cứ vào cấc ngườn vốn huy động của dự
án Chẳng hạn dự án vay vốn đầu tư thì tỷ suất giới hạn là lãi suất vay; nếu sử
Trang 15dụng vốn tự có để đầu tư thi tỷ suất giới hạn là mực chi phí cơ hội của vốn;nếu huy động vốn từ nhiều nguồn, tỷ suất giới hạn là tỷ suất bình quân từ cácnguồn huy động v.v…
* Đối với doanh nghiệp thực hiện đầu tư:
Các chỉ tiêu hiệu quả tài chính được tính như sau:
+1 Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư:
vr vb
i j i
I
W I
I I
Ivb là vốn đầu tư thực hiện trong năm i của doanh nghiệp
Ivr là vốn đầu tư thực hiện chưa phát huy tác dụng ở cuối năm của doanhnghiệp
Ive là vốn đầu tư phát huy tác dụng ở cuối năm i
vhdpv
I là vốn đầu tư được phát huy tác dụng bình quân năm thời kìnghiên cứu tính theo mặt bằng với lợi nhuận thuần
Trang 16W là lợi nhuận bình quân năm của thời kì nghiên cứu tính theo giá trị
ở mặt bằng hiện tại của tất cả các dự án hoạt động trong kì
+2 Chỉ tiêu thời hạn thu hồi vốn đầu tư giảm kì nghiên cứu (t) so với kỳtrước (t-1):
0
)
T T t T t K
K là hệ số mức ảnh hưởng của đầu tư
+3 Chỉ tiêu mức tăng năng suất lao động của từng năm hoặc bình quânnăm thời kì so trước thời kỳ do đầu tư:
0 )
(
0 )
(
1 1
E E
K E
E E
Lt Lt
Lt
Li Li
là mức tăng năng suất lao động năm i so với năm i-1
2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội
+1 Giá trị gia tăng thuần túy ký hiệu là NVA (Net value added):
Đây là chỉ tiêu cơ bản phản ánh hiệu quả kinh tế -xã hội của hoạt độngđầu tư NVA là mức chêng lệch giữa giá trị đầu ra và giá trị đầu vào Côngthức tính toán như sau:
MI I v
O
Trong đó
NVA lá giá trị gia tăng thuần túy do đầu tư mang lại
O(Output) là giá trị đầu ra của dự án
MI(Material input) là giá trị đầu vào vật chất thường xuyên và dịch vụmua ngoài theo yêu cầu để đạt được đầu ra trên
Trang 17Iv là vốn đầu tư bao gồm chi phí xây dựng nhà xưởng, mua máy móc,thiết bị …NVA bao gồm 2 yếu tố:chi phí trực tiếp trả cho người lao động kýhiệu là Wg(wage) (tiền lương, tiền thưởng kể cả phụ cấp ).Và thặng dư xã hội
ký hiệu là SS (social surplus).Thặng dư xã hội thể hiện thu nhập của xã hội từ
dự án thông qua thuế gián thu, trả lãi vay, lãi cổ phần, đóng bảo hiểm, thuêđấtm, tiền mua phát minh sáng chế …
Đối với các dự án có liên quan đền các yếu tố nước ngoài (liên doanh,vay vốn từ bên ngoài, thuê lao động nước ngoài ), thì giá trị gia tăng thuần túyquốc gia (tíng cho cả đời dự án (NNVA) được tính như sau :
Trong đó:
PR là giá tri gia tăng thuần túy được chuyển ra nước ngoài
+2 Chỉ tiêu số lao động có việc làm do thực hiện dự án:
Ở đây bao gồm số lao động có việc làm trực tiếp cho dự án và số laođộng có việc làm ở các dự án khác được thực hiện do do đòi hỏi của sự ánđang được xem xét Trong khi tạo việc làm cho một số lao động, thì sự hoạtđộng của dự án mới cũng có thể làm cho một số lao động ở các cơ sở sản xuấtkinh doanh khác bị mất việc do các cơ sở này không cạnh tranh nổi với sảnphẩm của dự án mà phải thu hẹp sản xuất trong số những lao động của dự án,
có thể có một số là người nước ngoài Do đó số lao động của đất nước có việclàm từ việc sẽ chỉ bao gồm lao động trực tiếp và lao động gián tiếp phục vụcho dự án, trừ đi số lao động mất việc ở các cơ sở có liên quan và số ngườinước ngoài làm việc cho dự án
+3 Chỉ tiêu mức giá trị gia tăng của mỗi nhóm dân cư:
Chỉ tiêu này phản ánh tác động điều tiết thu nhập giữa các nhóm dân cưhoặc vùng lãnh thổ Để xác định chỉ tiêu này trước hết phải xác định nhóm
Trang 18dân cư hoặc vùng được phân phối giá trị tăng thêm (NNVA) của dự án Sau
đó xác định phần giá trị tăng thêm do dự án tạo ra mà nhóm dân cư hoặc vùnglãnh thổ thu được Cuối cùng tình chỉ tiêu tỷ lệ giá trị gia tăng của mỗi nhómdân cư hoặc mỗi vùng lãnh thổ thu được trong tổng giá trị gia tăng ở năm hoạtđọng bình thường của dự án
Trang 19CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VỐN CHO HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC DNXD NHỮNG
NĂM GẦN ĐÂY
Số DNXD đang hoạt động sản xuất kinh doanh tại thời điểm 31/12 hàngnăm phân theo thành phần kinh tế ở nước ta có thể được thể hiện qua bảng sốliệu sau:
Bảng 1: Số DNXD hoạt động tại thời điểm 31/12/2002 đến 31/12/2006
Vận tải, kho bãi và
(Nguồn: Niên giám thống kê 2007)
Từ bảng số liệu chúng ta thấy rằng số DNXD có xu hướng tăng dần theothời gian, với một tốc dộ tăng tương đối ổn định (mỗi năm có thêm khoảng
2000 đến 3000 DNXD được thành lập mới để tham gia vào lĩnh vực hoạt
Trang 20động này) Tổng số DNXD hoạt động đứng thứ 2 về số lượng trong tổng sốcác DN của cả nước chỉ sau lĩnh vực mũi nhọn của nước ta là công nghiệp chếbiến Tỷ trọng số DNXD luôn dao động từ 12% đến 14% trên tổng số DN cảnước Tất cả các chỉ dẫn trên đều nhằm thể hiện tính chất quan trọng củangành xây dựng trong nền kinh tế quốc dân Không những thế, chúng còn thểhiện sự phù hợp với định hướng phát triển của đất nước ta là phấn đấu đếnnăm 2020 đưa nước ta trở thành nước công nghiệp Vì vậy, xây dựng phải làquá trình đi tiên phong để tạo nên hệ thống cơ sở vật chất đồng bộ, hiện đạiphục vụ cho quá trình công nghiệp hóa đất nước Trong những năm gần đây,phần lớn các DNXD đã và đang được sắp xếp lại theo hướng cổ phần hóanhằm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm đối với nền kinh tế, sản xuấtkinh doanh đã có lãi, nhiều DN đã mạnh dạn đầu tư đổi mới côn nghệ, máymóc thiết bị để nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, khắc phục tìnhtrạng lỗ lũy kế và có vốn tích lũy để tái sản xuất mở rộng Trong đó vốn lànguồn lực để thực hiện đầu tư phát triển Việc sử dụng vốn như thế nào khôngchỉ có ý nghĩa quan trọng với DN mà còn tác động tới toàn bộ nền kinh tế.Ngành xây dựng với đặc trưng là chi phí một nguồn vốn khá lớn của quốc gia
và xã hội vì vậy việc sử dụng vốn có hiệu quả hay không ảnh hưởng rất nhiềuđến sự phát triển của nền kinh tế Vì vậy việc nghiên cứu chi phí sử dụng vốncua các DNXD cũng là một chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
Trang 21Bảng 2: Vốn sản xuất kinh doanh bình quân hằng năm của các doang
nghiệp phân theo ngành kinh tế.
Vận tải, kho bãi và
(Nguồn: Niêm giám thống kê 2007)
Từ bảng số liệu, chúng ta thấy rằng vốn sản xuất kinh doanh bình quânhàng năm của các DNXD cũng chiếm một tỷ trọng rất lớn trong nền kinh tế(giao động xung quanh mức từ 7,5% đến mức 8,4% tổng vốn sản xuất kinhdoanh bình quân của cả xã hội) và chỉ đứng thứ hai so với các DN trongngành tài chính – ngân hàng Điều này càng thể hiện rõ hơn nữa vai trò củacác DNXD trong tiến trình công nghiệp hóa của đất nước, đồng thời cũng lkafmột chú ý quan trọng đối với các nhà quản lý bởi những sai lầm trong xâydựng thường gây nên những thiệt hại khá lớn và rất khó sửa chữa trong nhiều
Trang 22năm Thứ hai nữa là các số liệu trên mới chỉ thể hiện được phần bên ngoàitrong việc sử dụng vốn của các DNXD, điều quan trọng hơn mà chúng taquan tâm là với lượng vốn sản xuất bình quân lớn như vậy thì các DNXD sửdụng như thế nào, hiệu quả ra sao và các kết quả đạt được từ việc sử dụng cácnguồn vốn đó Đi ssaau vào phân tích hoạt động sử dụng vốn vào SXKD vàquan trọng hơn là mảng sử dụng vốn cho hoạt động đầu tư phát triển của cácDNXD, chúng ta có thể bắt gặp một số tồn tại cơ bản sau:
1.Về đầu tư xây dựng cơ bản.
Xây dựng cơ bản luôn là quá trình đi tiên phong của bất cứ quá trình đầu
tư nào Nó tạo ra các cơ sở vật chất mới làm tiền đề cho việc tiến hành hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp
Bảng 3: Quyết toán chi ngân sách nhà nước (tóm lược)
(Nguồn: Quyết toán chi ngân sách nhà nước-Tổng cục thống kê)
Từ bảng số liệu chúng ta thấy rằng chi cho xây dựng cơ bản chiếm tỷtrọng rất lớn trong tổng chi cho đầu tư phát triển (luôn đạt mức trên 85%), qua
đó chúng ta mới thấy được vai trò quan trọng xây dựng cơ bản trong đầu tưphát triển Tuy nhiên chúng ta cũng nhận thấy rằng quy mô tăng của vốn xây
Trang 232002-2003 vốn tăng 13650 tỷ đồng nhưng giai đoạn 2003-2004 vốn chỉ tăng
7316 tỷ đồng Điều này có thể giải thích là giai đoạn đầu các doanh nghiệp
phải đầu tư mới hoàn toàn vì vậy vốn xây dựng cơ bản đòi hỏi lớn, đến giai
đoạn vận hành sản xuất thì doanh nghiệp chỉ phải đầu tư sửa chữa và mở rộng
sản xuất do đó lượng vốn cho xây dựng cơ bản không cần nhiều như ban đầu
Không chỉ huy động nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, ngành xây dựng
còn thu hút được một lượng khá lớn vốn đầu tư trục tiếp nước ngoài Tính đến
hết năm 2007, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có tỷ trọng lớn nhất với
5.745 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký hơn 50 tỷ USD, chiếm 66,8% về
số dự án, 61% tổng vốn đăng ký và 68,5% vốn thực hiện
Bảng 4: Vốn FDI vào một số ngành tiêu biểu
Đơn vị: USD
3,861,511,815 5,148,473,303
(Nguồn: Cục xúc tiến đầu tư nước ngoài – Bộ kế hoạch và đầu tư)
Mặc dù xây dựng cơ bản đóng vai trò quan trọng như vậy nhưng quá
trình tiến hành hoạt động này của các DNXD lại chưa thực sự coi trọng nó
Có thể đề cập ở đây chính là vấn đề thất thoát và lãng phí trong đầu tư xây
dựng cơ bản Lãng phí và thất thoát, tiêu cực trong đầu tư và xây dựng đang
là vấn đề nhức nhối, cả xã hội quan tâm; kéo dài nhiều năm với mức độ ngày
càng trầm trọng mà đến nay vẫn chưa có biện pháp hữu hiệu để hạn chế
Không có một bộ số liệu chính thức nào thống kê được chính xác tỷ lệ thất
Trang 24thoát trong hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản nhưng có thể khẳng định rằng:
“Mọi dự án đầu tư xây dựng cơ bản đều có sai phạm”
Kết quả kiểm tra năm 2002 của 995 dự án với tổng vốn đầu tư 20.736 tỷđồng, đã phát hiện sai phạm về tài chính và sử dụng vốn đầu tư là 1.151 tỷđồng, bằng khoảng 5,5% tổng vốn đầu tư các công trình được kiểm tra Riêng
17 công trình do Thanh tra Nhà nước thực hiện kiểm tra phát hiện sai phạmtài chính lên tới 13% Đó là chưa kể đến các lãng phí lớn do chậm triển khaicông trình và nhất là do sai sót trong chủ trương đầu tư mà hiện chưa có cáchđánh giá thống nhất
(Nguồn:Báo cáo tại hội nghị toàn quốc về quản lý đầu tư và xây dựng cơ
bản)
Theo kết quả thanh tra quản lý đầu tư xây dựng, tất cả các dự án đều cósai phạm, diễn ra ở tất cả các khâu, các giai đoạn đầu tư, đặc biệt là công táclập dự án, thiết kế sơ sài dẫn tới vượt dự toán rất cao
Qua thống kê 36 tỉnh, thành phát hiện tổng giá trị sai phạm lên tới113,913 tỷ đồng, chủ yếu là thất thoát, lãng phí do chất lượng khảo sát, thiết
kế không phù hợp, thay đổi chủng loại vật liệu, trang thiết bị không đảmbảo… Trong công tác đấu thầu, các sai phạm thường gặp như chỉ định thầu,xét thầu, áp dụng kết quả đấu thầu sai qui định, bán thầu
Đây là một kết quả đáng chú ý của việc thực hiện việc thanh tra, kiểm trahành chính, chuyên ngành năm 2006 Đến nay, toàn ngành thanh tra đã cơbản kết thúc 12.636 cuộc trong tổng số 14.167 cuộc đã triển khai; phát hiệnsai phạm với tổng giá trị 6.382,961 tỉ đồng và 5.478,583 triệu USD, hơn11.346ha đất Qua thanh tra, kiểm tra, ngoài kiến nghị xử lý, khắc phục phần
có giá trị sai phạm, giảm trừ, loại khỏi quyết toán , các tổ chức thanh tra nhànước đã kiến nghị thu hồi 447,712 tỉ đồng và 207.923 USD; kiểm tra xử lýhành chính gần 3.000 trường hợp và kiến nghị cơ quan điều tra xử lý 95 vụ