1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Guanxi vs mạng lưới: những khía cạnh khác nhau của niềm tin dựa trên cơ sở cảm tính và lý tính của những nhà quản lý Trung Quốc và Mỹ " potx

46 505 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Guanxi vs mạng lưới: những khía cạnh khác nhau của niềm tin dựa trên cơ sở cảm tính và lý tính của những nhà quản lý Trung Quốc và Mỹ
Tác giả Roy Y J Chua, Mchiael W Morris, Paul Ingram
Trường học Đại học Harvard, Columbia University
Chuyên ngành Kinh doanh quốc tế
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 610,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Guanxi vs networking: Distinctive configurations of affect- and cognition-based trust in the networks of Chinese vs American managers Guanxi vs mạng lưới: những khía cạnh khác nhau của

Trang 1

Guanxi vs networking: Distinctive

configurations of affect- and

cognition-based trust in the networks of Chinese vs American managers

Guanxi vs mạng lưới: những khía cạnh khác nhau của niềm tin dựa trên cơ sở cảm tính và lý tính của những nhà quản

lý Trung Quốc và Mỹ

Roy Y J Chua1, Mchiael W Morris2 và paul Ingram2

1 Havard Business School, Boston, USA

2 Columbia University, Columbia Business School, New York, USA

(lấy mình làm trung tâm) cho thấy niềm tin dựa trên tình cảm (niềm tinh cảm

tính) và dựa trên nhận thức (niềm tin lý tính) gắn liền với các nhà quản lý người Trung Quốc hơn so với những nhà quản lý người Mỹ Điều này phù

hợp với giả thuyết về chủ nghĩa tập thể gia đình của người Trung Quốc Ngoài

Trang 2

ra, sự trao đổi kinh tế dựa trên cơ sở niềm tin cảm tính có tác động tích cực

tới người Trung Quốc hơn so với người Mỹ, trong khi đó, tác động của mối quan hệ tình bạn đối với người Mỹ tích cực hơn so với người Trung Quốc Cuối cùng, mức độ gắn bó của một người trong một mối quan hệ nhất định

với các bên thứ ba sẽ tăng cường sự tin tưởng trên cơ sở nhận thức của

người Trung Quốc đối với người đó, chứ không làm tăng cường niềm tin đó đối với người Mỹ Điều này đều được ám chỉ trong nghiên cứu văn hóa và trong các tập quán kinh doanh quốc tế

Journal of International Business Studies (2009) 40, 490-508

Tạp chí Nghiên cứu Kinh doanh quốc tế (2009) 40, 490-508

GIỚI THIỆU

Ở mọi nơi trên thế giới, trong kinh doanh luôn tồn tại những mối quan

hệ tin tưởng giữa các bên Tuy nhiên, liệu những mối quan hệ này có phát triển theo cùng một khuôn mẫu đối với những nền văn hóa khác nhau hay không? Một chủ đề chính trong nghiên cứu phương Tây về các mối quan hệ công việc là đạo Tin lành về các mối quan tâm vụ lợi (instrumental concern)

và các mối quan tâm thuộc cảm xúc xã hội tách biệt với nhau (Sanchez-Burks, 2002; Weber, 1904/1930) Trái lại, các nhà nghiên cứu văn hóa Trung Quốc

nhấn mạnh rằng các mối quan hệ trong công việc kết hợp với các mối quan hệ

vụ lợi và tình cảm (Bond & Hwang, 1986; Yang, 1994) Không thể phủ nhận

rằng mối quan hệ trong kinh doanh của người Trung Quốc có chứa phần lớn nhân tố cảm xúc xã hội, tiêu biểu là những món quà tặng cá nhân, các bữa ăn chung, và việc giới thiệu thành viên gia đình (Pearce & Robinson, 2000; Trompenaars, 1994; Yang, 1988; Yang, 1994) Mô hình đặc thù của quan hệ tin tưởng này của người Trung Quốc trong kinh doanh được mô tả bởi nhiều

học giả theo một khái niệm dân gian quen thuộc là guanxi (King; 1991; Lin,

2001) Một số học giả cho rằng những tập quán được gọi là guanxi tồn tại duy

nhất đối ở văn hóa Trung Quốc (Hung, 2004; Lin, 2001; Vanhonacker, 2004), trong khi những học giả khác đánh đồng những tập quán này với những tập

quán được biết tới như mạng lưới phương tây (Wellman, Chen và Dong, 2001) Nghiên cứu hiện nay mới đi được nửa chặng đường trong quá trình

Trang 3

hình thành các khái niệm khoa học xã hội phương Tây và các phương pháp

nhằm làm sáng tỏ sự khác biệt giữa văn hóa Trung Quốc và văn hóa Mỹ về

hình thái của niềm tin trong mạng lưới nghề nghiệp của các nhà quản lý

Chúng ta cho rằng việc kinh doanh của người Trung Quốc so với của phương Tây được phân biệt rõ rệt bởi niềm tin trong các mối quan hệ kiểu gia

đình (family-like), nơi các mối liên hệ tình cảm gắn liền với những trao đổi

mang tính công cụ; và nơi, sự tin tưởng vào một ai đó phụ thuộc phần lớn vào

sự gắn bó của người đó trong hệ thống chung Chúng tôi phát triển giả thuyết

từ ý tưởng chủ nghĩa tập thể gia đình của người Trung Quốc, hình thành nên

sự khác biệt giữa niềm tin xuất phát từ trái tim (dựa trên cơ sở tình cảm: niềm tin cảm tính) và niềm tin xuất phát từ cái đầu (dựa trên cơ sở nhận thức: niềm tin lý tính) (Lewis & Weigert, 1985; McAllister, 1995) Một cách cụ thể,

chúng tôi điều tra mức độ mà hai kiểu niềm tin này gắn bó với nhau trong các mối quan hệ kinh doanh đối với các nhà điều hành người Trung Quốc so với các nhà quản lý người Mỹ Chúng tôi cũng kiểm chứng sự khác biệt văn hóa

trong (a) đặt niềm tin cảm tính vào một người khác liên hệ như thế nào với

việc nhận được các nguồn lực kinh tế và tình bạn trong mối quan hệ và (b)

niềm tin lý tính dành cho một ai đó dựa trên mức độ gắn kết của người đó

vào mạng lưới chung Chúng tôi tập trung phân tích vào sự tin tưởng, vì nó là

nhân tố vô cùng quan trọng đối với trao đổi xã hội hiệu quả và thường được

viện dẫn trong cả mạng lưới xã hội lẫn trong nghiên cứu guanxi Các tiếp cận

của nghiên cứu này cho phép chúng ta làm sáng tỏ một cách thường xuyên những khác biệt đã được bàn tới trong hệ thống mạng lưới nghề nghiệp của

người Mỹ và người Trung Quốc bằng cách làm rõ cấu trúc xã hội của niềm tin

khác biệt giữa hai nền văn hóa trên như thế nào

CÁC MÔ HÌNH VỀ CÁC MỐI QUAN HỆ TIN TƯỞNG

Sự tin tưởng dựa trên cảm xúc và dựa vào nhận thức

Nghiên cứu về niềm tin đã phân biệt những đặc tính xác định và đặc tính biến đổi Một đặc điểm xác định của sự tin tưởng là sẵn sàng làm tổn

thương mình trước một người khác dù không chắc chắn về động cơ, ý định và hành động tiếp theo (Kramer, 1999; Mayer, Davis & Schoorman, 1995) Sự khác biệt chính giữa hai kiểu tin tưởng này là cơ sở của diễn biến tâm lý của

Trang 4

niềm tin (Lewicki & Bunder, 1996; Lewis & Weigert, 1985; McAllister, 1995) Sự tin tưởng dành cho ai đó có thể xuất phát hoặc từ kinh nghiệm cảm tính (Drolet & Morris, 2000; Lewis & Weigert, 1985; Rempel, Holmes, &

Zanna, 1985) hoặc từ bằng chứng về khả năng, năng lực và độ tin tưởng về

người đó bởi một bên thứ ba (Butler, 1991; Cook & Wall, 1980; Zucker, 1986)

Thật thú vị là sự khác biệt này giữa niềm tin cảm tính và lý tính cũng được thừa nhận trong diễn ngôn truyền thống của Trung Quốc về sự tin tưởng (Chen &Chen, 2004) Thực ra, trong tiếng Trung Quốc, từ có nghĩa tương ứng với sự tin tưởng là từ ghép “xin-ren”- chữ đầu “xin” nói tới sự đáng tin của một người, nhấn mạnh vào sự chân thành, trong khi đó từ thứ hai “ren” nói tới

sự có thể tin cậy hay sự đáng tin tưởng của một người

Chủ nghĩa tập thể gia đình của người Trung Quốc

Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng văn hóa Trung Quốc khác biệt

ở chủ nghĩa tập thể với việc hướng tới ưu tiên tập thể hơn cá nhân (Brewer & Chen, 2007; Hofstede, 1980; Markus & Kitayama, 1991; Triandis, 2001) Trong các tập thể khác nhau của một xã hội, gia đình đặc biệt được coi trọng

và được ưu tiên hàng đầu trong văn hóa Trung Quốc (Hsu, 1971; Lai, 1995;

Lang, 1946; Yang, 1988) Quy tắc coi trọng gia đình bắt nguồn từ đạo Khổng

và tiêu biểu cho chủ nghĩa tập thể gia đình1 (Bond & Hwang; 1986; Yang,

1988, 1992) Không chỉ những quy tắc về mối quan hệ gia đình được đánh giá cao, gia đình cũng được coi là một khuôn mẫu về mối quan hệ trong các

lĩnh vực khác của cuộc sống như mối quan hệ nghề nghiệp hoặc các môi quan

hệ kinh doanh (Redding & Wong, 1986; Yang, 1992, 1998)

Vậy chính xác là những tiêu chuẩn nào2 đã làm nên sự khác biệt trong mối quan hệ gia đình Trung Quốc? Yang (1998) đưa ra 4 đặc điểm xác định quan trọng về chủ nghĩa tập thể gia đình:

(1) sự phụ thuộc lẫn nhau

(2) cấu trúc quyền lực theo cấp bậc

(3) sự thống trị của mối quan hệ gia đình đối với các mối quan hệ khác và

Trang 5

(4) sự ưa thích mô hình gia đình mở rộng

Chúng ta hãy cùng xem xét lần lượt từng đặc điểm trên

Đặc điểm đầu tiên của mối quan hệ gia đình là các thành viên trong gia

đình phụ thuộc lẫn nhau về nguồn lực và sự hỗ trợ, từ lao động tới tài chính

Đồng thời, mối quan hệ gia đình giữa cha mẹ và con cái, giữa chồng và vợ,

giữa anh chị em ruột thường rất gắn bó mật thiết về mặt tình cảm, chỉ có tình yêu trai gái và tình bạn thân thiết mới có thể sánh được Do vậy mối quan hệ

gia đình có xu hướng kết hợp sự gần gũi tình cảm với những mối quan tâm vật chất Những mối quan hệ trong một gia đình được khác biệt hóa cao dựa trên thứ bậc, mỗi thành viên trong gia đình có đảm nhiệm vai trò và trách nhiệm

cụ thể Ví dụ, dù cho tình cảm hiện hữu rõ nét trong các mối quan hệ gia đình, sợi dây tình cảm giữa cha mẹ - con cái được khác biệt hóa rõ nét so với tình cảm anh chị em trong gia đình Thứ ba, mối quan hệ tương tác trong gia đình thường chiếm ưu thế so với những hình thức tương tác xã hội khác Phần lớn người Trung Quốc đều dành rất nhiều thời gian quan hệ với các thành viên trong gia đình trong các bữa ăn cùng nhau và các buổi gặp mặt gia đình đều

đặn Mối quan hệ gia đình được ưu tiên hơn nhiều so với các mối quan hệ

ngoài gia đình Thứ tư là người trung Quốc có xu hướng hình thành mạng lưới gia đình mở rộng thậm chí nếu như họ không sống cùng một mái nhà, người Trung Quốc vẫn thích sống gần các thành viên trong gia đình và thăm nom nhau thường xuyên, giúp đỡ lẫn nhau khi cần thiết Mô hình mạng lưới gia

đình mở rộng cho phép các cá nhân tác động tới các nguồn lực của các thành

viên khác trong gia đình về cả khía cạnh công việc lẫn đời sống xã hội

Giả sử gia đình thường xuyên được coi là khuôn mẫu cho các mối quan

hệ xã hội khác theo văn hóa Trung Quốc, các quy tắc về chủ nghĩa tập thể gia đình có thể sẽ đặc biệt hữu ích, giúp chúng ta hiểu về các mối quan hệ và mạng lưới kinh doanh của người Trung Quốc, thường được biết tới với cái tên

guanxi Các nhân tố làm nên cái gọi là guanxi trong bối cảnh kinh doanh tại

Trung Quốc có thể phản ánh chủ nghĩa tập thể gia đình

Tiếp theo chúng ta sẽ mô tả những đặc điểm chính của chủ nghĩa tập

thể gia đình của người Trung Quốc nhằm phát triển giả thuyết về mô hình mối quan hệ tin tưởng trong môi trường kinh doanh Trung Quốc Một cách cụ thể,

Trang 6

giả thuyết của chúng ta liên quan tới việc thiết lập sự tin tưởng cảm tính và lý

tính trong mạng lưới nghề nghiệp của các nhà quản lý Trong một mạng lưới

tự kỷ trung tâm (lấy bản thân làm trung tâm), một người đóng vai trò trọng

tâm được nói tới với cái tên “ego”(trung tâm) trong khi những người mà họ liên lạc trong cùng mạng lưới được gọi là “alters” (thay thế) Chúng ta tập trung vào mô hình trong đó ego đặt niềm tin (cả hai loại) vào alters với chức năng nhận các nguồn lực kinh tế và tình bạn từ alters và mức độ mà các mối quan hệ giữa ego-alter liên kết hòa quện trong mối liện hệ với các bên thứ ba

trong hệ thống Chúng ta xem xét các tác động của những nhân tố bố sung

trong mạng lưới (network attributes) (mối quan hệ thuộc tính trong hệ

thống) được điều tiết ra sao theo từng quốc gia Trong giả thuyết này, chúng ta coi sự tin tưởng là hệ quả của các mối liên hệ, mặc dù chúng ta thừa nhận rằng các mối liên hệ cũng có thể bị tác động bởi niềm tin Chúng ta sẽ xem xét vấn

đề về thuyết nhân quả một cách chi tiết hơn ở phần thảo luận

Sự hòa quyện lẫn nhau giữa niềm tin cảm tính và lý tính

Một đặc điểm quan trọng của chủ nghĩa tập thể gia đình Trung Quốc là

các cá nhân phụ thuộc lẫn nhau không chỉ vì các nguồn lực phương tiện (instrumenetal resources) mà còn bởi sự hỗ trợ về mặt cảm xúc xã hội Điều này có nghĩa là trong hoàn cảnh kinh doanh, ngoài năng lực (competence) và

thành tích đạt được (track record), quan trọng là các đối tác kinh doanh phải

có một mối quan hệ tình cảm Ít mối quan hệ kinh doanh của người Trung Quốc phát triển mà không đi đôi với trao đổi cảm xúc xã hội ví dụ như cùng

ăn, tặng quà hoặc quan hệ xã hội với gia đình của nhau Do đó các mối quan

hệ kinh doanh tin cậy lẫn nhau có xu hướng kết hợp các nhân tố công cụ (instrumental) và tình cảm: sự tin tưởng dựa trên cảm tính và lý tính do đó có thể có hòa quyện vào nhau trong hệ thống quan hệ giữa các nhà quản lý Trung Quốc

Mặc dù sự hòa trộn giữa mối quan hệ tình cảm gần gũi với công việc cũng xảy ra trong văn hóa Mỹ nhưng tồn tại những căng thẳng đáng kể làm

biến dạng hai hình thức quan hệ này (Zelier, 2005) Một ảnh hưởng kế thừa

của đạo tin lành (Weber, 1904/1930) cho rằng mối quan hệ về mặt cảm xúc trong kinh doanh là không chuyên nghiệp Các quyết định đưa ra tại công sở

Trang 7

phải được chi phối bởi các tiêu chuẩn phi cá nhân về hiệu suất và hiệu quả Đồng thời, các quy tắc về tình bạn của phương tây có nói tới quy tắc tình bạn đích thực là không vụ lợi (không tính toán tới những lợi ích công cụ/phương

tiện (instrumental) (Silver, 1990) Do vậy một mối quan hệ trong đó hòa trộn

công việc và tình cảm thân thiết có nguy cơ vi phạm các quy tắc của phương Tây về công việc và tình bạn Ví dụ, trong nghiên cứu của mình về các nhà quản lý khách sạn người Úc, Ingram và Roberts (2000: 418) đã chỉ ra rằng

“khi họ có bạn trong số những người quản lý khách sạn khác thì những quản

lý khách sạn đó không còn là bạn thân nhất của họ nữa Nhân tố công

cụ/phương tiện có lẽ đã hạn chế họ về phương diện tình cảm Nếu tính công

cụ và tình cảm trong cùng một mối quan hệ tạo căng thẳng cho người Mỹ, họ

có thể giảm bớt khả năng tạo dựng niềm tin cảm tính và lý tính với cùng một người Do vậy chúng ta cho rằng mặc dù niềm tin cảm tính và lý tính có thể cùng xảy ra trong những mối quan hệ kinh doanh của người Mỹ (McAllister, 1995) thì những điều này phổ biến hơn đối với các doanh nhân Trung Quốc trong hoàn cảnh quy chuẩn của chủ nghĩa tập thể gia đình

Giả thuyết 1: Sự tin cậy trên cơ sở cảm tính và lý tính có thể gắn bó chặt chẽ hơn trong hệ thống nghề nghiệp của các nhà quản lý Trung Quốc so với các nhà quản lý Mỹ

Mối quan hệ phụ thuộc về kinh tế và niềm tin cảm tính

Suy luận sâu xa hơn từ ý tưởng cho rằng người Mỹ cảm thấy căng thẳng khi kết hợp sự gần gũi về tình cảm trong các mối quan hệ công việc, chúng ta cho rằng các nhà quản lý người Mỹ sẽ hạn chế sự gần gũi mật thiết

về mặt tình cảm với những người mà họ phụ thuộc về mặt nguồn lực kinh tế (ví dụ: phân bổ ngân sách, vấn đề tài chính và các khoản nợ cá nhân) Như đã thảo luận ở phần trước, theo khái niệm của người phương Tây, tình bạn là một mối quan hệ không bị ràng buộc bởi mục đích vụ lợi (instrumental purposes) (Silver, 1990) Sự tách biệt giữa tình cảm và công việc sẽ tăng lên khi các nguồn lực kinh tế bị đe dọa Điều này là do tiền, không giống như thông tin và

lời khuyên trong công việc (task advice), có thể thay thế được cho các nhân

tố khác và có thể định lượng Do đó, về bản chất tiền là đối tượng trao đội cụ thể, gắn liền với các tương tác vụ lợi hơn là những trao đổi chung, gắn liền với

Trang 8

tương tác cảm tính (Bearman, 1997; Flynn, 2005; Sahlins, 1972) Do có sức

ép giưa việc trao đổi kinh tế với yếu tố tình cảm, chúng ta cho rằng trong hệ thống nghề nghiệp của người Mỹ, sự phụ thuộc về mặt kinh tế trong một mối quan hệ nhất định không có quan hệ tích cực đối với niềm tin cảm tính

Trái lại, xu hướng của chủ nghĩa tập thể gia đình trong văn hóa Trung Quốc bỏ qua sự tách biệt (the bending) của các mối quan hệ mang tính chất tình cảm và phương tiện Một cách cụ thể, các nhà dân tộc học đã lưu ý

về sự hòa trộn giữa tình cảm gần gũi với những mối quan hệ phụ thuộc về mặt kinh tế (Hsu, 1953) Khuynh hướng hòa quyện tình cảm với trao đổi kinh tế cũng được mở rộng ngoài phạm vi gia đình tới các mối quan hệ công việc và kinh doanh Ví dụ, những người cung cấp hỗ trợ về mặt kinh tế (ví dụ: các khoản vay, việc làm và các cơ hội đầu tư) có gắn bó tình cảm ở mức độ gia đình Mối quan hệ trở nên riêng tư thông qua những lời mời tham dự các sự kiện tổ chức trong nội bộ gia đình ví dụ như cùng ăn tối hoặc tham gia tiệc sinh nhật Nói một cách khác, mối quan hệ phụ thuộc về mặt kinh tế gắn liền

với (overlaid with) tình cảm thân thiết gắn bó Do vậy, đối với các nhà quản

lý Trung Quốc, sự tồn tại của sự phụ thuộc kinh tế trong một mối quan hệ có thể làm tăng sự tin tưởng trên cơ sở tình cảm

Giả thuyết 2a: Sự hiện diện của mối quan hệ phụ thuộc về mặt kinh tế

liên quan tích cực hơn tới sự tin tưởng trên cơ sở tình cảm đối với các nhà quản lý Trung Quốc so với các nhà quản lý người Mỹ

Môi quan hệ bạn bè và sự tin tưởng trên cơ sở tình cảm

Sự tin cậy trên cơ sở tình cảm có xu hướng liên quan tới mối quan hệ bạn bè hơn là các mối quan hệ phi bạn bè trong mạng lưới hoạt động của các nhà điều hành quản lý (Chua, Ingram & Morris, 2008) Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng sự tin tưởng trên cơ sở tình cảm xoay quanh quan hệ bạn bè của người Trung Quốc ở mức thấp hơn so với người Mỹ Một đặc điểm của chủ nghĩa tập thể gia đình được phản ánh trong 3 mối quan hệ gia đình trong các

mối quan hệ chính yếu của đạo Khổng (quan hệ cha-con, vợ - chồng, anh

trai-em trai) đều là quan hệ thứ bậc Những quan hệ thứ bậc kiểu này gần gũi về mặt tình cảm theo một cách khác biệt so với mối quan hệ bạn bè Trong khi người Mỹ có thể kết bạn với một giáo viên được mọi người yêu quý hoặc một

Trang 9

người địa vị cao hơn thì người Trung Quốc lại có nhiều khả năng phát triển mối quan hệ tình cảm với những người này mà không kết bạn với họ Tình

cảm này có thể bao gồm sự ngưỡng mộ và sự tôn trọng, tôn kính chứ không

phải là sự cảm thông và đồng cảm như trong tình bạn (Morris, Podolny, & Sullivan, 2008) Tương tự như vậy, một người Trung Quốc sẽ ít có khả năng

coi một người địa vị thấp hơn là bạn Tóm lại, tình bạn chỉ là (is but one of) một trong nhiều nguồn phân biệt (differentiated sources) để từ đó phát triển

sự tin tưởng trên cơ sở tình cảm trong văn hóa Trung Quốc Hơn nữa, nếu quan hệ gia đình thống trị các mối quan hệ khác thì quan hệ bạn bè thường ít được coi trọng hơn so với tình cảm gia đình, do vậy, sẽ tương đối khó để dự báo khả năng hình thành niềm tin trên cơ sở tình cảm từ mối quan hệ bạn bè

(hence should be comparatively less predictive of affect-based trust)

Trái lại, các quy tắc trong văn hóa Mỹ không nhấn mạnh vai trò cấp bậc đến như vậy (Hofstede, 1980) Ví dụ, coi giáo viên hoặc một người địa vị cao hơn mình là bạn là hoàn toàn có thể chấp nhận được Cũng như vậy, trong văn hóa chủ nghĩa quân bình của Mỹ, quan hệ bạn bè thường được nhấn mạnh ở cùng mức độ như các mối quan hệ khác, ví dụ quan hệ trong gia đình

Do vậy nhìn chung bạn bè thường cùng tồn tại với sự thân mật về tình cảm

Do đó, chúng tôi đặt giả thuyết cho rằng tình bạn cùng biến đổi với sự tin

tưởng trên cơ sở tình cảm ở mức độ lớn hơn trong mạng lưới kinh doanh của người Mỹ so với người Trung Quốc

Giả thuyết 2b: Mối quan hệ giữa tình cảm bạn bè với niềm tin cảm tính

tích cực hơn đối với các nhà quản lý người Mỹ so với người Trung Quốc

Sự gắn bó và niềm tin trên cơ sở nhận thức

Cuối cùng chúng ta xem xét sự gắn bó của một alter sẽ có ảnh hưởng thế nào tới niềm tin trên cơ sở nhận thức của ego dành cho người đó Một đặc

điểm quan trọng của chủ nghĩa tập thể gia đình Trung Quốc là sự hiện diện của cơ cấu gia đình mở rộng, bởi vì mô hình này tạo phương tiện tận dụng khai thác các nguồn lực trong hệ thống các thành viên trong gia đình và họ hàng Khi quy tắc tương tác xã hội này được áp dụng trong mối quan hệ công việc và kinh doanh thì người Trung Quốc có xu hướng tận dụng mạng lưới quan hệ xã hội của họ để hoàn thành công việc và giải quyết các rắc rối Điều

Trang 10

này ám chỉ sự chú ý tới các mối quan hệ gián tiếp, sự kết nối các cộng sự của

họ tới các bên thứ 3 (Ho, 1976, 1998) Các nhà quản lý người Trung Quốc vun đắp các mối quan hệ không chỉ với những người trực tiếp nắm giữ chuyên môn hoặc các nguồn lực, mà còn với những người có mối quan hệ với những người trên Những người có mối quan hệ với những người trực tiếp nắm giữ

chuyên môn hoặc nguồn lực được coi là có giá trị lợi dụng (instrumentally valuable) không chỉ bởi vì những gì họ trực tiếp cung cấp mà còn bởi những

gì họ gián tiếp có thông qua những mối quan hệ Chúng ta cho rằng mọi người đánh giá khả năng quan hệ của người khác một phần dựa trên các mối liên hệ

mà họ nhận thấy ở người đó Do đó, các nhà quản lý người Trung Quốc đánh

giá cao những alters có các mối quan hệ gắn kết vì khả năng sẽ nhận được trợ

giúp từ phía những người này

Hơn thế, những alter có tính gắn kết được coi là đáng tin cậy Một alter càng có nhiều quan hệ gắn kết trong mạng lưới của ego thì chi phí

xã hội của alter tác động lên ego càng cao Với việc các quy phạm trong chủ

nghĩa tập thể gia đình của Trung Quốc khiến các nhà quản lý trở nên nhạy

cảm hơn với sự ủng hộ xã hội tiềm năng từ những người khác trong mạng lưới

của họ (Tong & Yong, 1998; Xiao & Tsui, 2007; Yang, Van de Vliert, & Shi, 2005) thì sự gắn kết sẽ có hiệu quả cao hơn đối với người Trung Quốc giống

như một hình thức bảo hiểm xã hội Do đó, mối quan hệ gắn bó của alter có thể làm tăng nhận thức của ego về độ tin cậy của các alter Nhận thức về độ tin cậy và năng lực tăng cường của alter sẽ làm tăng niềm tin trên cơ sở nhận thức/lý tính của ego đối với alter đó

Trái lại, trong văn hóa Mỹ người ta nhấn mạnh vào các thành tích

và thành công cá nhân (Oyserman & Markus, 1993; Triandis, 1995) Mặc dù những doanh nhân người Mỹ cũng viện đến sự giúp đỡ từ phía những người khác, ít có khả năng họ nhờ tới các mối quan hệ của các cộng sự Ngoài ra, bởi vì chủ nghĩa cá nhân làm cho người mỹ bớt lo lắng về sự tán thành của xã hội hơn so với người Trung Quốc (Markus & Kitayama, 1991; Oyserman,

1993), sự gắn kết của các alter có lẽ không hiệu quả bằng hình thức bảo hiểm

xã hội chống lại tình trạng ly khai (against defection) Do vậy, tác động của

mối quan hệ gắn kết lên nhận thức về độ tin cậy sẽ không mạnh như vậy Tóm

lại, chúng ta dự đoán rằng sự gắn kết của alter sẽ có tác động tích cực hơn

Trang 11

nhiều tới niềm tin trên cơ sở nhận thức của người Trung Quốc so với người

Mỹ

Giả thuyết 3: Mức độ gắn kết của một alter trong hệ thống của ego sẽ

làm tăng sự tin tưởng trên cơ sở nhận thức của ego ở mức độ lớn hơn đối với

người Trung Quốc so với người Mỹ

Khi bàn về chủ đề sự gắn kết thì cũng cần xem xét mối liên hệ giữa sự gắn kết và niềm tin trên cơ sở tình cảm Dựa trên quan điểm của Coleman

(1990) cho rằng mật độ cao thúc đẩy tính thống nhất, do vậy có thể tồn tại

hiệu ứng tích cực Chua et al (2008) nhận thấy hiệu ứng này trên một mẫu các nhà điều hành ở Mỹ Chúng ta tin rằng tác động tích cực lên niềm tin cảm tính

do sự gắn kết của alter cũng tồn tại ở các nhà điều hành người Trung Quốc

PHƯƠNG PHÁP

Các đối tượng tham gia và hoàn cảnh nghiên cứu

Chúng ta kiểm nghiệm giả thuyết trên sử dụng các dữ liệu hệ thống tự

kỷ trung tâm (egocentric) thu thập từ các nhà quản lý tham dự khóa học MBA

dành cho các nhà điều hành ở cả Trung Quốc (Bắc Kinh, Thượng Hải, và Quế

Châu) và Mỹ Hai nguồn dữ liệu được thu thập Nguồn dữ liệu thứ nhất

(N=231) bao gồm 143 người Trung Quốc (trong đó 75% là nam) và 88 nhà quản lý người Mỹ (75% là nam giới) Nguồn dữ liệu thứ hai (N=102), được thu thập gần 1 năm sau khi thu thập nguồn dữ liệu thứ nhất, bao gồm 60 người Trung Quốc (trong đó 82% là nam giới) và 42 nhà điều hành người Mỹ (81%

là nam giới) Bởi vì kết quả liên quan tới giả thuyết đặt ra là giống nhau trong

cả hai nghiên cứu với 2 nhóm dữ liệu trên, chúng tôi đã kết hợp hai nguồn dữ liệu này, đưa đến tổng số 203 đối tượng tham gia nghiên cứu là người Trung Quốc và 130 đối tượng tham gia nghiên cứu là người Mỹ

Tuổi trung bình của những đối tượng tham gia này là 36 Đối với mẫu nghiên cứu người Mỹ, ngành nghề phổ biến nhất là công nghệ thông tin (22%), tài chính ngân hàng (19%), và tư vấn (16%) Các đối tượng tham gia nghiên cứu có đặc trưng là nắm giữ những vị trí quản lý trong các công ty lớn

Ví dụ, nhiều người trong số họ là phó giám đốc, giám đốc điều hành ở những ngân hàng và các định chế tài chính nổi tiếng thế giới, hoặc là giám đốc điều

Trang 12

hành tại các công ty tư vấn hàng đầu Những đối tượng tham gia khác nắm giữ các vị trí điều hành trong các công ty nhỏ hơn (ví dụ: giám đốc điều hành của một công ty gia đình chuyên về in ấn) Đối với mẫu là người Trung Quốc, ngành nghề phổ biến của họ là dược/y tế (chiếm 45%), sản xuất (10%), tư vấn (8%) và công nghệ thông tin (7%) Nhiều người trong số họ nắm giữa vị trí điều hành chung (khoảng 35%), trong khi những người khác quản lý trong lĩnh vực kinh doanh/marketing (17%), nghiên cứu và phát triển sản phẩm (14%) và phát triển kinh doanh (14%)

Quy trình

Những đối tượng tham gia nghiên cứu (các ego) hoàn thành một cuộc điều tra hệ thống trong đó yêu cầu họ liệt kê tới 24 mối quan hệ (các alter) mà

họ cho là quan trọng nhất trong mạng lưới nghề nghiệp của mình Những

alters này không hạn chế ở những người tại nơi làm việc của họ Với mỗi mối

quan hệ được liệt kê, các đối tượng tham gia nghiên cứu được yêu cầu cung cấp chi tiết bản chất của mối quan hệ đó (ví dụ: mức độ thường xuyên gặp gỡ quan hệ và thời gian quen biết) Những người tham gia này cũng phải chỉ rõ liệu có bất kì mối liên hệ nào tồn tại giữa những người họ đã liệt kệ là có quan

hệ hay không

Các thước đo

Niềm tin cảm tính và lý tính Các thước đo của niềm tin trên cơ sở tình

cảm (cảm tính) và trên cơ sở nhận thức (lý tính) được phỏng theo những thang điểm sử dụng trong nghiên cứu của McAllister (năm 1995) Đối với niềm tin cảm tính, các đối tượng tham gia phải chỉ rõ 5 thang điểm (1=không một chút nào, 5=ở mức độ cao) về mức độ họ cảm thấy thoải mái khi tìm tới mỗi đối tượng mà họ đã liệt kê là có quan hệ với mình nhằm (1) chia sẻ những rắc rối

và khó khăn cá nhân và (2) chia sẻ những mơ ước và hy vọng của bản thân Những thang điểm sẽ cho thấy mức độ cảm xúc bị phụ thuộc và bị tổn thương trước một người khác ra sao Đối với niềm tin lý tính, các đối tượng tham gia chỉ rõ 5 thang điểm như trên về mức độ tin cậy của một đối tượng thuộc danh sách các mối quan hệ trong việc (1) hoàn thành nhiệm vụ mà anh ta/hoặc cô ta hứa sẽ thực hiện và (2) có kiến thức và năng lực để thực hiện nhiệm vụ Những thang điểm này sẽ nắm bắt mức độ sẵn sàng phụ thuộc vào người khác

Trang 13

trên cơ sở bằng chứng Chúng ta chỉ sử dụng hai thang điểm đánh giá đối với mỗi loại niềm tin phần lớn là nhằm giảm thiểu sự mệt mỏi của những người tham gia: trong những cuộc điều tra hệ thống, những người tham gia phải trả lời một loạt các câu hỏi như nhau với số lần bằng với số mối quan hệ họ đã liệt kê ra trước đó Tuy nhiên, với việc các thang điểm được lựa chọn đã được

đưa ra trên cơ sở những đối tượng có khả năng mang thông tin cao (adapted from high-loading items) (0.80 ở trên) tại những nghiên cứu đã được xuất

bản trước đó (Levin&Cross, 2004; McAllister, 1995), họ nên nắm bắt chủ yếu

2 nhân tố gây dựng niềm tin 3

Để đảm bảo rằng niềm tin cảm tính và lý tính là 2 khía cạnh của niềm tin, chúng tôi thực hiện những phân tích nhân tố khẳng định đa cấp4(multilevel cònirmatory factor analyses) sử dụng mô hình đẳng thức (LISREL

8.80) đối với 4 đối tượng niềm tin Cụ thể, chúng tôi kết hợp hai mô hình (một mô hình một nhân tố với 4 đối twọng trên một nhân tố duy nhất và

các đối tượng niềm tin lý tính áp dụng then 2 nhân tố tách biệt) đối với các dữ liệu của người Trung Quốc và người Mỹ tách biệt nhau Những kết quả chỉ ra rằng, với mẫu người Mỹ, mô hình 2 nhân tố

phù hợp với số liệu của chúng tôi nhiều

mẫu là người Trung Quốc, chúng tôi tìm ra rằng mô hình 2 nhân tố

phù hợp với số liệu hơn nhiều so với mô

chỉ ra rằng niềm tin dựa trên cơ sở cảm tính và lý tính là 2 nhân tố tách biệt đối với cả người Mỹ và người Trung Quốc

Các nội dung liên quan Những người tham gia được yêu cầu xác định

trong nghiên cứu mạng lưới, nhân tố nào trong những nguồn lực sau được lấy

từ mỗi thành viên của mạng lưới:

(1) các nguồn lực kinh tế;

(2) tình bạn và các hoạt động giải trí xã hội;

(3) thông tin hoặc lời khuyên nhằm hoàn thành nhiệm vụ; và

Trang 14

(4) thông tin về chỉ dẫn nghề nghiệp và các cơ hội

Mặc dù các giả thuyết của chúng tôi chỉ tập trung vào sự độc lập kinh tế

và gắn kết của tình bạn, chúng tôi nhận được 2 loại hình trao đổi nổi bật khác

do những nhân tố này là phổ biến trong tương tác quản lý Nội dung của những ràng buộc của mạng lưới được nắm bắt thông qua việc sử dụng những

mã giả, có nghĩa là, được đánh dấu “1” nếu dạng cụ thể của nguồn lực đang được hấp thụ và 0 nếu ngược lại Bốn hạng mục trên không có tính loại trừ

nhau, do đó một alter sẵn có có thể đưa ra nhiều nguồn lực

Sự gắn liền của Alter: Những thành viên chỉ ra liệu những mối quan hệ

tích cực có tồn tại trong những alter được liệt kê không thông qua việc điền vào một bán ma trận (half-matrix) trong đó mỗi ô đại diện cho mối quan hệ giữa 2 alters Cụ thể, người ta nói với những người tham gia rằng những mối

quan hệ tích cực có thể gần gũi (có nghĩa là, khi những người làm việc rất gần nhau hoặc có mối quan hệ tình bạn thân thiết) hoặc không đặc biệt gần gũi (có nghĩa là những người biết nhau nhưng không giao tiếp thường xuyên, hoặc

không phải là bạn thân, hoặc đối thủ) Sự gắn liền của alter là số lượng các mối liên hệ tích cực được quan sát tồn tại giữa một alter và những thành viên

khác của mạng lưới trên (chia cho) tổng mối liên hệ có thể diễn ra mà alter

này có thể có với những thành viên khác này (ngoại trừ những mối liên hệ

giữa alter và ego) Chúng tôi cũng thu thập dữ liệu về những mối quan hệ tiêu cực giữa những alter, nhưng những mối quan hệ này là tương đối hiếm và

không có bất kỳ hiệu ứng nào đối với giả thuyết của chung tôi

Các biến điều chỉnh

Quy mô mạng lưới: Các lý thuyết mạng lưới thường giả định rằng cá

cá nhân có khả năng quan hệ tiềm tàng, và rằng các chi phí cảm tính và lý tính của việc quy trì các mối quan hệ đã đặt ra một giới hạn trên (giới hạn trần) đối với số lượng của các mối quan hệ mà bất kỳ cá nhân nào có thể duy trì một cách hiệu quả (Granovetter, 1973) Trong ngữ cảnh của chúng ta, có khả năng những cá nhân có khả năng hạn chế trong việc bổ sung những người tin cậy mới vào mạng lưới của họ Ngược lại, những mạng lưới lớn hơn cũng có thể

tạo ra niềm tin, có lẽ thông qua việc cung cấp ego nhiều kinh nghiệm quan hệ

hơn Với những lý do này, chúng tôi đã điều chỉnh quy mô mạng của ego,

Trang 15

được toán tử hóa như tổng các mối quan hệ được đưa ra (operationalize as the total of listed contacts) trong mạng lưới của mỗi người tham gia

Độ dài mối quan hệ Niềm tin có xu hướng cao hơn khi độ dài của mối

quan hệ dài hơn Biến này là số lượng năm ego biết alter

Độ thường xuyên của giao tiếp: Ego càng thường xuyên giao tiếp với

alter, ego càng biết về năng lực và độ tin cậy của alter (Burt, 2005) Thêm

vào đó, những ràng buộc quan hệ mạnh hơn có thể được củng cố (forged)

Hơn thế, độ thường xuyên của giao tiếp có tác động tích cực trực tiếp lên cả niềm tin cảm tính và lý tính Chúng tôi đo độ thưỡng xuyên của giao tiếp trên

cơ sở mức độ thường xuyên ego nói chuyện vơi alter Các thành viên được

yêu cầu lựa chọn một trong số sau đối với mỗi quan hệ (contact) được liệt

kê:

(1) hàng ngày;

(2) hàng tuần;

(3) hàng tháng; và (4) không thường xuyên

Chúng tôi mã hóa lại (recode) những lựa chọn thành một biến duy nhất

ví dụ “1” đại điện cho việc không thường xuyên tiếp xúc và “4” đại diện cho tiếp xúc hàng ngày

Các đặc tính của alter: Chúng tôi tìm hiểu liệu alter:

(1) cùng đơn vị làm việc với ego;

(2) không cùng đơn vị làm việc, nhưng cùng tổ chức với ego; (3) nằm ngoài tổ chức của ego

Những chỉ số này được mã hóa thành 2 biến giả (dummy): “alter cùng

đơn vị làm việc với ego” và “alter không cùng tổ chức với ego” Nhóm thứ

ba “khác đơn vị làm việc, nhưng trong cùng tổ chức với ego” bị loại trừ ra

khỏi đối tượng phân tích Chúng tôi cũng xem xét những biến dân số khác như

độ tuổi, cấp bậc (ca của hơn, thấp hơn hay ngang hàng) của alter, và liệu họ

có khác biệt về mặt giới tính hoặc chủng tộc với ego không Những chỉ số này

sau đó được tái mã hóa thành 2 biến giả “cấp bậc cao hơn” và “cấp bậc thấp

Trang 16

hơn”; “cấp bậc ngang bằng” bị loại trừ khỏi đối tượng được phân tích ĐỐi

với khác biệt về giới tính và chủng tộc, thành viên chỉ chỉ định liệu alter có giới tính hoặc chủng tộc khác không (được đánh dấu “1” nếu ego và alter

khác biệt xét trên cơ sở dân số và “0” nếu ngược lại)

Hàm số về công việc và ngành nghề của ego Nhằm điều chỉnh những

ảnh hưởng có thể xảy ra mà hàm nghề nghiệp và công nghiệp tác động lên niềm tin, chúng tôi đã bổ sung miêu tả công việc của những người tham gia từ

nhóm “face book” và mã hóa chúng thành 8 ngành công nghiệp chính (tài

chính/ngân hàng, tư vấn, sản phẩm tiêu dùng, thuốc/dược liệu, truyền thông,

sản xuất, công nghệ thông tin và các đối tượng khác) Biến giả đối với những

nhóm này được sử dụng như biến điều chỉnh trong phân tích hồi quy

Phân tích

Các biến trong số liệu của chúng tôi được phân bố theo thứ bậc Cụ thể,

gần 24 mối quan hệ 2 người được gắn liền với một ego có trước Niềm tin,

biến độc lập của chúng tôi, được khái niệm hóa và tín toán theo mức độ 2 người, cũng như những biến khác như mức độ thường xuyên của tương tác và

thời gian quen biết Trong số liệu của chúng tôi, tín nghiệm được tín toán theo

một hướng duy nhất, có nghĩa là, chúng tôi chỉ đánh giá mức độ trong đó ego tin cậy alter mà không phải chiều ngược lại Các biến khác như quy mô mạng

lưới là các nhân tố cấu thành ở cấp độ cao hơn và được tính toán tại cấp độ

mạng lới đối với mỗi ego

Một mối quan tâm về mặt phương pháp trong phân tích của chúng tôi là

những quan sát không độc lập xét trên khía cạnh mỗi ego gắn liền với rất nhiều alter Phân tích không tính toán đến những cấu trúc thông tin được đưa

vào (nested data) có thể dẫn tới việc diễn giải sai những tác động của một

mạng lưới nhất định (Klein, Dansereau, & Hall, 1994) Nhằm giải quyết vấn

đề này, chúng tôi xem xét những mô hình tác động cố định và ngẫu nhiên , hai

phương pháp tiếp cận quen thuộc nhằm điều chỉnh tác động của một ego nhất

định lên những quan sát đa dạng (Hausman, Hall, & Griliches, 1984; Hofman, Griffin, & Gavin, 2000), Trong những phân tích của chúng tôi, cả hai phương pháp tiếp cận đều cho kết quả như nhau Chúng tôi báo cáo những kết quả từ những mô hình các tác động ngẫu nhiên (còn được biết đến như mô hình

Trang 17

tuyến tính theo cấp bậc_ do những mô hình này cho phép phán đoán các tác động nội tại và giữa mạng lưới đối với niềm tin Phương pháp này sẽ không

chỉ cho chúng ta những tính toán hệ số đối với những biến ở cấp độ alter (ví

dụ, thời gian quen biết) mà còn cho chúng ta biết những biến ở cấp độ ego, quốc gia cụ thể và quy mô mạng lưới ego đặc biệt quan trọng Mô hình tác

động ngẫu nhiên yêu cầu phải giả thuyết rằng những lỗi ngẫu nhiên gắn liền

với mỗi đơn vị liên ngành (cross-sectional) (ego) không tương quan

(correlate) với những biến hồi quy (regressors) khác Sử dụng phép thử của

Hausman (1978), chúng ta thấy giả thuyết này đúng đối với phân tích của cả hai loại niềm tin Nghiên cứu mạng lưới trước đây cũng đã sử dụng các hiệu quả ngẫu nhiêu nhằm giải quyết vấn đề không độc lập của số liệu (Cross & Sproull 2004)

Các kết quả

Bảng 1 chỉ ra những số liệu miêu tả (descriptive) và mối quan hệ lẫn

nhau giữa các biến Bảng 2 chỉ ra những kết quả hồi quy Trong các Mô hình

1 – 4 niềm tin dựa trên cơ sở cảm tính là một biến độc lập, trong khi ở Mô hình 5- 8 niềm tin dựa trên cơ sở lý tính là biến độc lập Chúng ta sẽ tìm hiểu lần lượt từng mô hình khi chúng ta xem xét các giả thuyết

Mô hình 1 và 5 là mô hình cơ sở, bao gồm tất cả các biến quan trọng và các biến điều chỉnh Mô hình 2 bổ sung thuật ngữ tương tác niềm tin dựa trên

cơ sở lý tĩnh * quốc gia, trong khi Mô hình 6 bổ sung thuật ngữ tương tác nính

nhiệm dựa trên cơ sở cảm tính * quốc gia Các kế hoạch chỉ ra rằng các hệ số

tương tác niềm tin dựa trên cơ sở cảm tính * quốc gia (Mô hình 2: b = -0,11; p<0.01) và tương tác niềm tin dựa trên cơ sở lý tính * quốc gia (Mô hình 6: b= -0,15; p<0,01) là âm và lớn Do chúng ta đã mã hóa các biến quốc gia là 1 đối vơi Mỹ và 0 đối với Trung Quốc, điều này có nghĩa

Trang 18

Bảng 1: Số liệu miêu tả và tương tác

16 Alter trong đơn vị

làm việc của ego

17 Alter không trong

tổ chức của ego

18 Tuổi của alter

Trang 19

16 Alter trong đơn vị

là iệc của ego

Trang 20

Quốc gia* niềm tin lý tính (H1)

Quốc gia* niềm tin cảm tính (H1)

Quốc gia* ràng buộc phụ

thuộc kinh tế (H2a)

Quốc gia* ràng buộc tình bạn

Quóc gia * ràng buộc lời

khuyên trong công việc

Quốc gia* ràng buộc hướng

dẫn nghề nghiệp

Quốc gia* mức gắn kết của alter (H3)

Các biến điều chỉnh

Quy mô mạng lưới

Bảng 2: Hồi quy các tác động ngẫu nhiên đối với niềm tin cảm tính và lý tính

Trang 23

ệ số được nên ở trên chưa được chuẩn hóa Các lỗi tiêu chuẩn được đưa trong ngoặc đơn

g thay đổi chi-square với mô hình 1 và 5 bắt nguồn từ việc so sánh mô hình đã đó với một mô hình

ần liên tục

được đánh mã 1, Trung Quốc được đánh mã 0

Ngày đăng: 25/03/2014, 01:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Số liệu miêu tả và tương tác - Báo cáo "Guanxi vs mạng lưới: những khía cạnh khác nhau của niềm tin dựa trên cơ sở cảm tính và lý tính của những nhà quản lý Trung Quốc và Mỹ " potx
Bảng 1 Số liệu miêu tả và tương tác (Trang 18)
Bảng 2: tiếp theo - Báo cáo "Guanxi vs mạng lưới: những khía cạnh khác nhau của niềm tin dựa trên cơ sở cảm tính và lý tính của những nhà quản lý Trung Quốc và Mỹ " potx
Bảng 2 tiếp theo (Trang 23)
Bảng 3: Các tác động của tương tác quốc gia* mức gắn kết  lên niềm  tin dựa trên cơ sở lý tính - Báo cáo "Guanxi vs mạng lưới: những khía cạnh khác nhau của niềm tin dựa trên cơ sở cảm tính và lý tính của những nhà quản lý Trung Quốc và Mỹ " potx
Bảng 3 Các tác động của tương tác quốc gia* mức gắn kết lên niềm tin dựa trên cơ sở lý tính (Trang 26)
Bảng 3: Phân tích bổ sung: phán đoán khả năng cao nhất có thể xảy ra  đối với những ràng buộc kiểu gia đình - Báo cáo "Guanxi vs mạng lưới: những khía cạnh khác nhau của niềm tin dựa trên cơ sở cảm tính và lý tính của những nhà quản lý Trung Quốc và Mỹ " potx
Bảng 3 Phân tích bổ sung: phán đoán khả năng cao nhất có thể xảy ra đối với những ràng buộc kiểu gia đình (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w