1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tieu luan, tìm hiểu xã hội dân sự và một số vấn đề về xã hội dân sự ở nước ta hiện nay”

56 13 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu xã hội dân sự và một số vấn đề về xã hội dân sự ở nước ta hiện nay
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Xã hội học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 127,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỤC LỤC 1 MỞ ĐẦU 2 NỘI DUNG 7 CHƯƠNG 1 7 QUAN NIỆM VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ 7 CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN 7 1 Quan niệm về xã hội dân sự trong lịch sử 7 2 Quan niệm của chủ nghĩa Mác Lênin về xã hội dân s[.]

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1 7

QUAN NIỆM VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ 7

CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN 7

1 Quan niệm về xã hội dân sự trong lịch sử 7

2 Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về xã hội dân sự 13

Chương 2 17

QUAN NIỆM CỦA HỒ CHÍ MINH 17

VÀ ĐẢNG TA VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ 17

1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về xã hội dân sự 17

2 Quan niệm của Đảng ta về xã hội dân sự 20

Chương 3 31

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ Ở VIỆT NAM 31

1 Vài nét về xã hội dân sự Việt Nam hiện nay 31

2 Xây dựng xã hội dân sự ở Việt Nam - tính tất yếu và phương hướng cơ bản 43

KẾT LUẬN 55

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

Trang 2

MỞ ĐẦU

Khái niệm xã hội dân sự từ lâu đã trở thành một khái niệm quan trọng

và ngày càng trở nên quan trọng khi quá trình toàn cầu hoá đang làm thế giớixích lại gần nhau hơn Và khi các giá trị cá nhân ngày càng được khẳng địnhthì một xã hội dân sự nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của con người ngàycàng trở nên cần thiết

Thế kỷ Khai Sáng với nhiều tác phẩm bất hủ của các nhà triết học nổitiếng như Rousseau hay Montesquier tuy chưa thực sự nhắc đến một xã hộidân sự nhưng những tư tưởng về chủ quyền nhân dân và sự phủ định vai tròtuyệt đối của nhà nước đã góp phần tạo nền tảng cho sự hình thành khái niệm

xã hội dân sự Từ đó đến nay, xã hội dân sự không còn là một khái niệm mớisong cũng chưa đủ cũ để người ta thôi luận bàn về nó Nói cách khác, hơn 300năm sau Thế kỷ Khai Sáng, gần 300 năm sau khi "Khế ước xã hội" củaRousseau ra đời, loài người đã có một bước tiến dài về phía xã hội dân sựnhưng vẫn còn sự nhận thức khác nhau giữa các cộng đồng dân tộc Xã hộidân sự, ở một số nơi, chưa được thừa nhận và tôn trọng, do đó, nó không pháthuy được vai trò của mình trong tiến trình phát triển Vậy xã hội dân sự là gì?Vai trò của nó cũng như tương quan giữa nó và sự phát triển của con người làgì? Sự thiếu vắng hay không được thừa nhận xã hội dân sự ở một số quốc giađang phát triển có ảnh hưởng thế nào đến quá trình tổ chức và rèn luyện nềndân chủ của các quốc gia này? Đây là một vấn đề cần được nghiên cứu vàthảo luận một cách rất nghiêm túc

Thuật ngữ “Xã hội dân sự” lần đầu tiên được nói đến trong tác phẩm

“Chính trị” của Aristote với mục đích phê phán quan niệm của Platon về dự

án nhà nước lý tưởng Theo nghĩa rộng xã hội dân sự chỉ trạng thái đối lập với

“trạng thái tự nhiên, đối lập với điều kiện chưa được văn minh hóa của loài

Trang 3

người hoặc đối lập với xã hội bị cai trị bởi một chính phủ chuyên quyền chứkhông bằng luật pháp

Thuật ngữ “Xã hội dân sự” hay “Xã hội công dân" bắt nguồn từ tiếngLatinh: Sociates Civilis, tiếng Anh: Civil society; dịch ra tiếng Việt là “Xã hộidân sự” hay “Xã hội công dân” Tùy theo phương pháp tiếp cận và yêu cầu sửdụng mà mỗi tác giả có quan niệm riêng về xã hội dân sự Hiện có nhiều địnhnghĩa khác nhau về xã hội dân sự, không ít tác giả còn yêu cầu khu biệt nộihàm hai khái niệm: “Xã hội dân sự” và “Xã hội công dân” Ở đây, hai kháiniệm được sử dụng là một

“Từ điển Triết học” (Liên Xô) xem: “Xã hội công dân” – Thuật ngữtriết học trước Mác, bắt đầu từ thế kỷ thứ XVIII, và theo nghĩa hẹp – nhữngquan hệ tài sản Thiếu sót căn bản của lý luận về xã hội công dân ở nhữngnhà duy vật Anh và Pháp là không hiểu rõ sự lệ thuộc của nó vào sự pháttriển của phương thức sản xuất, giải thích sự hình thành của nó bằng nhữngđặc tính tự nhiên của con người, bằng những nhiệm vụ chính trị, bằng nhữnghình thức cai trị và pháp luật, bằng đạo đức, v v Xã hội công dân, tức toàn

bộ những quan hệ xã hội được coi như là một cái gì ở bên ngoài đối vớinhững cá nhân như “môi trường” mà hoạt động của các cá nhân được triểnkhai trong đó”1

Từ điển Bách khoa tiếng Việt xem: “Xã hội công dân - thuật ngữ triếthọc trước Mác, bắt đầu từ thế kỷ 18, dùng để phân biệt sự khác nhau giữa xãhội và nhà nước Xã hội công dân chỉ toàn bộ những quan hệ xã hội, mà chủyếu là quan hệ tài sản; nhà nước chỉ những quan hệ chính trị và pháp luật”2

Từ điển này quá nhấn mạnh mặt hạn chế của xã hội công dân, làm người ta

dễ ngộ nhận về nó

Theo “Từ điển Chính trị giản yếu” của Đại học Oxford (năm 2001),

1 Từ điển Triết học, Nxb Matxcơva, 1975, NXB Sự Thật, 1986, tr 684

2 Từ điển Bách khoa Việt Nam, t 4, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2005, tr 798, 965.

Trang 4

“Xã hội công dân” là một khái niệm dùng để chỉ những liên hợp của cáccông dân tự do và bình đẳng, những liên hợp không phải nhà nước, gia đìnhtrực tiếp mà đó là những liên hợp, những tổ hợp tự nguyện bảo vệ quyền conngười”3.

Gần đây, nhiều nhà nghiên cứu coi xã hội công dân là “lĩnh vực côngcộng nằm giữa một bên là cấu trúc quan liêu rộng lớn của nhà nước và thịtrường và bên kia là khu vực cá nhân”, là “các tổ chức tự thân ngoài phạm vichính trị chính thức” Xã hội dân sự là khả năng nội tại của một xã hội chophép các công dân tự giác hình thành những tổ chức của mình (ngoài thể chếnhà nước) nhằm thực hiện những mục đích chung của cộng đồng

Có thể hiểu: Xã hội dân sự là một chỉnh thể các hệ thống những tổ

chức xã hội dân sự của từng cộng đồng công dân nhằm bảo vệ và thực hiện lợi ích của mình, phối hợp hoạt động với nhà nước và nền kinh tế thị trường tạo ra các điều kiện tối ưu cho phát triển xã hội cân bằng, ổn định, bền vững

và tiến bộ của mỗi con người theo giá trị nhân loại trên cơ sở một chế độ kinh tế nhất định và chế độ chính trị với một nền văn hóa xã hội trương ứng.

Xã hội dân sự với nền kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền hòaquyện và quy định lẫn nhau thành một chỉnh thể của sự phát triển xã hội hiệnđại, làm tiền đề và điều kiện, là nguyên nhân và kết quả của nhau Nếu nềnnền kinh tế thị trường là cơ sở vật chất – kinh tế của xã hội dân sự và nhànước pháp quyền, nhà nước pháp quyền là chế độ chính trị của nền kinh tếthị trường và xã hội dân sự thì xã hội dân sự là nền tảng xã hội của nền kinh

tế thị trường và nhà nước pháp quyền mà “xã hội công dân đó là trung tâmthật sự, vũ đài thật sự của toàn bộ lịch sử”4 Cũng chỉ trong điều kiện của nềnkinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền mới tạo ra điều kiện vật chất -kinh tế dồi dào và môi trường pháp lý lành mạnh đảm bảo cho từng tổ chức

3 Xem: Luận án Tiến sĩ Triết học” Xây dụng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghỉa ở Viêt Nam hiện nay” của NCS Phạm Thị Hồng Hoa (2008), tr.25

4 C Mác – Ăngghen: tuyển tập, t 1, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, tr 299

4

Trang 5

xã hội dân sự ra đời, tồn tại và phát triển vững chắc, có thể thực hiện được tối

ưu mục tiêu của cộng đồng Và nền kinh tế thị trường càng phát triển, nhànước pháp quyền càng hoàn thiện thì số lượng các tổ chức của xã hội dân sựcàng nhiều và chất lượng càng cao, lợi ích từng cộng đồng càng được đảm

bảo

Xây dựng xã hội dân sự là một trong những vấn đề trung tâm của chủnghĩa xã hội hiện đại và của chủ nghĩa xã hội Việt Nam Đó không chỉ là mộtlogic nội tại phát triển tất yếu trong đường lối đổi mới của Đảng ta mà cònđáp ứng được yêu cầu sinh họat cộng đồng đa dạng, phong phú, nhiều cung

bậc, hình thức tổ chức của nhân dân Xây dựng xã hội dân sự ở Việt Nam là

cơ sở xã hội - kinh tế, cơ sở xã hội - giai cấp, cở sở xã hội - văn hóa, cơ sở xãhội – nhân lực của chế độ kinh tế và chính trị cùng toàn bộ kiến trúc thượngtầng tư tưởng; điều kiện bảo đảm thực hiện mục tiêu của nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, sự quản

lý của Nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân lao động; đảm bảo sự pháttriển hài hòa trong xã hội và sự phát triển tự do, toàn diện nhân cách conngười

Thế nhưng, cho đến nay, xã hội dân sự lại chưa giành được sự chú ýthỏa đáng trong khoa học cũng như các nhà hoạch định chính sách, chưa cómột cách tiếp cận đầy đủ, một chiến lược đủ tầm vóc so với yêu cầu pháttriển ngày càng cao và đa dạng phức tạp của đời sống xã hội Tuy vậy, vềmặt khách quan, tiền đề và điều kiện xây dựng xã hội dân sự ở Việt Nam đã

có bước hình thành cùng với thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền vàphát triển nền kinh tế thị trường

Trong di sản kinh điển của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ ChíMinh, quan niệm về xã hội dân sự đã được các nhà kinh điển kế thừa và pháttriển lên một tầm cao mới, giải quyết vấn đề một cách duy vật và biện chứng

Để góp phần nhỏ bé vào việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin,

Trang 6

khẳng định rằng những quan điểm mà các ông nêu ra vẫn có giá trị và ýnghĩa thực tiễn, tôi chọn đề tài: “Tìm hiểu xã hội dân sự và một số vấn đề về

xã hội dân sự ở nước ta hiện nay” làm tiểu luận tốt nghiệp của mình

6

Trang 7

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 QUAN NIỆM VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

1 Quan niệm về xã hội dân sự trong lịch sử

Xã hội dân sự ở phương Tây cĩ nguồn gốc từ đời sống xã hội ở Hy Lạp

cổ đại: các polis Hy Lạp cổ và các đơ thị La Mã cổ với những “cơng dân tựdo” xuất hiện lần đầu tiên trong lịch sử Thuật ngữ xã hội dân sự, theo tiếng

Hy Lạp là koinonia politiké [2] (tiếng Pháp: société civile, tiếng Anh: civilsociety và trong tiếng Nga grazhdanskoe obchtsestvo Từ các thuật ngữ ấy,dịch ra tiếng Việt, nghĩa là “cộng đồng cơng dân” (số nhiều là các cộngđồng cơng dân), ta thường gọi là xã hội cơng dân, hay xã hội dân sự

Heraclit đã xuất phát từ việc xem trạng thái tựnhiên của con người là hoàn hảo nên cho rằng:quyền lực xã hội là quy luật vĩnh viễn, pháp luậtnhằm thực hiện tính tất yếu của quyền lực và làđiều kiện tối cần thiết cho sự thống nhất xã hội

Socrat là người ủng hộ triệt để về nguyên tắctuân thủ pháp luật trong xây dựng nhà nước và quản lý xã hộinên cho rằng: công lý ở trong sự tuân thủ pháp luậthiện hành, sự công minh và hợp pháp đều là một;nếu không tuân thủ pháp luật và trật tự pháp luậtthì không thể có nhà nước, công dân của nhànước nào tuân thủ pháp luật thì nhà nước đó vữngmạnh và phồn vinh

Trang 8

Platon xem hoạt động xét xử là để bảo vệpháp luật, nhà nước sẽ ngừng tồn tại nếu như trongnhà nước ấy Tòa án không được tổ chức một cáchthỏa đáng Và, nêu luận điểm: “Ta nhìn thấy sự diệtvong của cái nhà nước mà trong đó pháp luậtkhông có sức mạnh và ở dưới quyền lực của aiđấy”5

Aristote xem quyền lực nhà nước xuất hiện một cáchtự nhiên trong lịch sử từ gia đình đến công xã, cósứ mệnh bảo vệ lợi ích chung của nhân dân; cònpháp luật là những nguyên tắc khách quan, trựctiếp, vô tư, xuất phát từ và phù hợp với quyền lực,lợi ích của quốc gia, của công dân Theo Aristote, thờicổ đại, “Xã hội công dân” và “Nhà nước phápquyền” đã được xem như những thuật ngữ có thểthay thế được cho nhau Một người trở thành thànhviên của xã hội công dân cũng có nghĩa là trởthành công dân, tức là cơng dân của nhà nước phápquyền Và do vậy, người đó phải hành động sao chophù hợp với luật pháp của nhà nước và phải kiềmchế những hành vi có thể gây hại cho những côngdân khác; đồng thời, nhà nước đó phải có nghĩavụ bảo vệ sự bình an cho công dân ấy bằng phápluật Ơng xem yếu tố cơ bản cấu thành phẩm chấtchính trị trong các đạo luật là sự phối hợp của tínhđúng đắn về chính trị của nó với tính pháp quyền

5 Xem: Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, t 1, Nxb CTQG, HN, 2000, tr 133.

8

Trang 9

Ciceron quan niệm tổ chức quyền lực nhà nước làtất yếu bắt nguồn từ bản chất của con người chạytrốn sự cô đơn và khao khát cuộc sống cộng đồngxã hội, là kết quả của một quá trình lịch sử bởinhân dân chứ không sinh ra bởi cá nhân người thựchành dù người đó tài ba đến đâu Ơng yêu cầu cácđạo luật do con người quy định phải phù hợp với tínhcông minh và quyền tự nhiên, vì sự phù hợp haykhông phù hợp ấy là tiêu chuẩn để đánh giá tínhcông minh hay không của chúng… và “Mọi người đều

ở dưới hiệu lực của pháp luật”6

Các học thuyết cai trị của Trung Quốc cổ đại tuy khơng dùng thuật ngũ

“xã hội dân sự” hay “xã hội cơng dân” nhưng đã thể hiện lý tưởng về một xãhội an dân, bác ái, cơng bằng, tự do Mặc dù vậy, những điều đĩ chủ yếu là

do sự cai trị của người bề trên chứ chưa phải do sự vận động tự thân của cáccộng đồng cơng dân

Các nhà “Đức trị” đã nhận ra sức mạnh chính trị củadân, Mạnh Tử chủ trương thuyết “Nhân chính”, tứcxây dựng một nền chính trị dựa vào dân, đượclòng dân và phục vụ dân; đây là nền chính trị nhânnghĩa mà vua, quan và dân đều vui buồn, sướngkhổ cùng nhau nên “Dân là gốc nước”, đĩ là một đạo lýmà giai cấp thống trị phải biết và tất phải tuântheo Vì vậy, phải là thực hành song song “Giáo chi”(giáo huấn về đạo đức) để dân có hằng tâm màdễ dàng làm điều thiện, xã hội sẽ thịnh trị; và

“Phú chi”(bồi dưỡng đời sống kinh tế cho dân) để

6 Xem: Lý luận chung về nhà nước và pháp luật t 1, Nxb CTQG, HN, 2000, tr 134.

Trang 10

dân có hằng sản mới dễ dàng có được hằngtâm

Với chủ trương “Kiêm ái trị”, Mặc Tử đã xem nguyênnhân của xã hội đương thời loạn lạc là do con ngườikhông yêu thương nhau Để mọi người thương yêunhau, phải làm cho nhau cùng có lợi nên thực hành

“Kiêm tương ái” và “Giao tương lợi” là hai mặt khôngtách rời nhau, là đức căn bản để trị nước “Cáidụng của chính trị” là đem đến cho người ta những cáilợi thiết thực trong đời sống; làm cho dân được sống tronghòa bình và an ninh, đói có ăn, lạnh có mặc, mệtđược nghỉ, được xét xử cơng bằng Muốn vậy, phải thực hành

“Chủ nghĩa công lợi” làm cho mọi người bình đẳngvề lao động và hưởng thụ bằng tổ chức lao động tậpthể, thực hành tiết kiệm, tránh xa hoa phung phí,chống chiến tranh cướp bóc và thôn tính lẫn nhau

Lão Tử và Trang Tử chủ trương học thuyết “Vô vi trị” cai trị bằng “không cai trị” “Không cai trị” tức khôngcan thiệp thô bạo vào đời sống dân, không hạchsách quấy nhiễu dân, không xâm lấn thôn tính lẫnnhau thì đời sống của dân, của xã hội tự thân vậnđộng theo quy luật của mình, mọi thứ đều được tạo

-ra Trị bằng “không trị” sự cai trị diễn ra một cách tựnhiên, người bị trị cảm thấy mình không bị trị, họ tựgiác hành động theo quy luật tự nhiên của lịch sử,lòng dân không dục vọng, no đủ, không hung hăngchiến tranh chém giết thì ắt “không có gì làkhông trị” và không có cái gì mà không được tạo

ra từ sự cai trị bằng “khơng cai trị” đĩ

10

Trang 11

Với chủ trương cai trị xã hội bằng pháp luật, Hàn Phi Tử (280 –

233 TCN) yêu cầu pháp luật phải hợp thời, đáp ứngđược những yêu cầu phát triển của xã hội Phápluật viết ra phải rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp với trình độdân chúng để người hiền và kẻ ngu đều hiểu được và thi hành đúng.Pháp luật phải công bằng để người mạnh khônglấn kẻ yếu, đám đông không hiếp đáp số ít.Pháp luật phải vì lẽ phải và phục vụ lợi ích chungnên việc thưởng - phạt phải cơng minh; nếu biết kết hợpđược pháp luật với lòng tin của dân thì sẽ đi đếnkết quả là “dùng hình phạt để trừ bỏ hình phạt” và

“ngăn ngừa việc chưa xảy ra”

Tồn bộ những thành tựu xã hội vĩ đại của các nhà khai sáng về nhànước và xã hội đã giúp cho nhân loại, mà lúc bấy giờ là giai cấp tư sản, phấtcao ngọn cờ đấu tranh chống các chế độ phong kiến chuyên chế, khẳng địnhquyền của cơng dân, xác lập những mối quan hệ pháp lý rõ ràng giữa cơngdân và nhà nước Trong khi luận chứng cho việc xây dựng nhà nước phápquyền, các nhà tư tưởng khai sáng đều viện dẫn đến sự cần thiết phải cĩ một

xã hội dân sự

Theo J.Locke, xã hội dân sự là địa hạt của những tổ chức chính trị đượcthiết lập khi con người ra khỏi trạng thái tự nhiên để bước vào cuộc sống cộngđồng, là nơi những thiếu hụt và khiếm khuyết của trạng thái tự nhiên đượcđiều chỉnh thơng qua sự phụ thuộc qua lại của khế ước và thoả thuận.J.J.Rousseau khẳng định, sự xuất hiện của xã hội dân sự là một bước tiến củavăn minh nhân loại, là dấu hiệu con người đã vĩnh viễn bước ra khỏi trạngthái tự nhiên

Các nhà nghiên cứu từ Th.Paine đến G.W.F.Hegel đã phát triển khái

niệm xã hội dân sự theo nghĩa hẹp như một lĩnh vực song song tách ra

khỏi nhà nước, lĩnh vực của các cơng dân liên kết với nhau vì lợi ích và

Trang 12

mong muốn của họ Trước G.W.F.Hegel, sự phân biệt phổ biến khơng

phải là giữa “nhà nước” và “xã hội dân sự” mà giữa một bên là “nhà nước

và xã hội dân sự” với một bên là “trạng thái tự nhiên”

Đến thế kỷ XIX, Tocqueville định nghĩa xã hội dân sự là lĩnh vực đờisống cộng đồng ngồi gia đình, được tạo ra bởi sự gia tăng các tổ chức tựnguyện, bao gồm hệ thống các lợi ích riêng và lợi ích kinh tế

Nửa sau thế kỷ XIX, xã hội dân sự trở thành trung tâm của hoạt độngchính trị tự do chống lại sự độc tài sau những bài viết của A.Gramsci Ơng đã

mở rộng khái niệm nhà nước của G.W.F.Hegel, cho rằng, nhà nước là phépcộng của xã hội chính trị và xã hội dân sự Xã hội dân sự là lĩnh vực của vănhố, tư tưởng; cụ thể hơn, đĩ là lĩnh vực của các tổ chức, thơng qua đĩ, nhànước, trong điều kiện bình thường, duy trì sự thống trị của mình A.Gramscicho rằng xã hội dân sự hoạt động như một lớp ở giữa nhà nước và cấu trúckinh tế

Theo Thuyết chức năng - cấu trúc của các nhà xã hội học (HerbertSpence, Emile Durkheim, Talcott Parsons…), thì xã hội dân sự là loại cấutrúc xã hội cĩ những chức năng nhất định trong việc gĩp phần tạo nên một xãhội trật tự, hài hồ, lành mạnh, tốt đẹp cho tất cả mọi thành viên của xã hội;đồng thời, các tổ chức xã hội dân sự là phương tiện, cơng cụ để cá nhân thựchiện những hành vi, hoạt động đáp ứng nhu cầu mà đời sống dân sự địi hỏi

Những tư tưởng trên được các triết gia Trung Quốc thời cận đạiphê phán và kế thừa trong sự tiếp thụ tư tưởng nhân văn của các triết giaphương Tây

Trong “Đại đồng thư”, Khang Hữu Vi đã cĩ tư tưởngvề “Thế giới đại đồng” với xã hội sản xuất cơ khí,của cải dồi dào đủ sức đáp ứng nhu cầu conngười Trong xã hội đó, dân chủ được thực hiện:tự do cá nhân, nam nữ bình đẳng, ai nấy đều làmviệc, tài sản công hữu, gia đình không còn, nhà

12

Trang 13

nước cũng không có, biên giới bị xóa bỏ, khôngcòn quân đội, hình phạt cũng dẹp bỏ, văn hóagiáo dục cực kỳ phát triển… Nói chung, đó làmột xã hội mà con người sống sung sướng, khôngcòn đau khổ – con người thực sự là con người, giátrị con người (bản tính tự nhiên) được đánh giáđúng mức

Lương Khải Siêu cho rằng quốc gia không thể xemlà tài sản tư hữu của vua chúa và khanh tướng màphải là của chung mọi dân chúng trong nước Đạođức là phải thực hiện quyền con người mà trời đãphú cho nó Đó là những quyền hiểu biết, quyềnđộc lập, quyền hợp quần Những quyền này khôngphải nhất thành bất biến mà ngày càng được tiếntriển mà “tự do là luật chung của thiên hạ, là điềutất yếu của con người”

Đàm Tự Đồng chủ trương “đổi mới” Trung Quốctừ trong lòng nhân ái, nếu mọi người đều có lòngnhân ái thì mọi việc trở nên thông suốt; thôngsuốt rồi thì dễ dàng “xóa sổ” chế độ đẳng cấpphong kiến tai họa, đem lại bình đẳng cho thiên hạ màbiểu tượng của “thông suốt” là “bình đẳng” Chủtrương “quân chủ lập biến”, vua vẫn tồn tại nhưng

“vua là bạn bè”, “cha con là bạn bè”, “vợ chồng làbạn bè” “Đổi mới” về đạo đức, bản tính con ngườilà tự nhiên, cho nên nếu cho rằng “Tính thiện” thìtình

Nghiêm Phục kịch liệt phê phán tư tưởng “Bảohoàng” vì cho thực ra vua nào cũng vậy, chẳng qua

Trang 14

chỉ là “chiếc gai trong mắt”, là “những tên lườnggạt, cướp bóc”, chúng “xem dân ta chẳng khác gìnô tỳ mạt hạng”, chúng “chính là những tên đạibợm cướp nước chẳng sai chút nào”; còn pháp luậtcủa chế độ phong kiến chẳng qua cũng chỉ làcông cụ mà chúng dùng để nô dịch, cướp bócdân chúng

Tôn Trung Sơn là người đầu tiên trong lịch sửTrung Quốc đã xây dựng lý luận và cương lĩnh cáchmạng tư sản một cách có hệ thống với “Chủ nghĩaTam dân” mà nội dung chính: “Chủ nghĩa dân tộc”là: đối nội, thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc;đối ngoại, “không ngoài mục đích loại trừ sự xâmlược của đế quốc” “Chủ nghĩa dân quyền” là: thựchiện dân chủ nhân dân “Chủ nghĩa dân sinh” là:người cày có ruộng và tiết chế chủ nghĩa tư bản

2 Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về xã hội dân sự

Theo Mác, xã hội dân sự là hình thức tổ chức xã hội đầu tiên trong lịch

sử đem lại cho mọi thành viên trong xã hội một quy chế chính trị ngang nhau

xã hội dân sự gồm sự giao tiếp vật chất của các cá nhân trong một giai đoạnphát triển nhất định của lực lượng sản xuất

C.Mác đã nghiên cứu khá sâu sắc về xã hội dân sự C.Mác viết:

“Thuật ngữ xã hội cơng dân xuất hiện trong thế kỷ XVIII khi những quan

hệ sở hữu đã thốt khỏi thể cộng đồng (Gemeinwesen) cổ đại và trung cổ

Xã hội tư sản (burgerliche Gesellschaft- cũng cĩ nghĩa là xã hội dân sự),với tính cách là xã hội tư sản chỉ phát triển cùng với giai cấp tư sản; tuynhiên, tổ chức xã hội trực tiếp sinh ra từ sản xuất và giao tiếp và trongmọi thời đại đều cấu thành cơ sở của nhà nước và của kiến trúc thượng

14

Trang 15

tầng tư tưởng, vẫn luôn được gọi bằng danh từ ấy”7 Như vậy, theo

C.Mác, xã hội dân sự ra đời với những điều kiện sau: về kinh tế, đã xuất

hiện các quan hệ tư bản chủ nghĩa; về xã hội, đã xuất hiện giai cấp tư sản;

về chính trị, đã tách đời sống xã hội thành hai lĩnh vực: đời sống xã hộinói chung (phi chính trị) và đời sống chính trị (chế độ nhà nước), đã phânbiệt được đời sống nhân dân và đời sống nhà nước

Về vai trò của xã hội công dân, theo C.Mác: “xã hội công dân bao

trùm toàn bộ sự giao tiếp vật chất của các cá nhân trong một giai đoạn pháttriển nhất định của lực lượng sản xuất Nó bao trùm toàn bộ đời sốngthương nghiệp và công nghiệp trong giai đoạn đó và do đó, vượt ra ngoàiphạm vi quốc gia và dân tộc, mặc dù, mặt khác, về đối ngoại nó vẫn phảihiện ra như là một dân tộc và về đối nội nó vẫn phải tự tổ chức thành mộtnhà nước”8 Chính tự do và tự cấu thành nhà nước của xã hội dân sự đãđưa đến sự ra đời của nhà nước và pháp quyền Trong quan hệ này,C.Mác cho rằng: tự do là ở chỗ biến nhà nước, cơ quan tối cao của xãhội, thành một cơ quan phụ thuộc vào xã hội, và ngay cả ngày nay nữa,các hình thức nhà nước tự do hay không tự do là tuỳ ở chỗ trong nhữnghình thức ấy, sự tự do của nhà nước bị hạn chế nhiều hay ít “Do đó, conngười này, thành viên của xã hội công dân, là cơ sở, là tiền đề của nhànước chính trị Nhà nước cũng thừa nhận nó như vậy trong các nhânquyền”9

Trong quan niệm của C.Mác xã hội dân sự giữ tư cách là một lĩnh

vực “phi nhà nước” C.Mác cho rằng: “Giải phóng chính trị đồng thời

cũng là giải phóng xã hội công dân khỏi chính trị, thậm chí khỏi cái bềngoài của một nội dung phổ biến nào đó”10 Khi đó, “con người với tư

7 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1995, tập 3, tr.52.

8 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1995, tập 3, tr.52.

9 C.Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2002, tập 1, tr.556.

10 C.Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb CTQG H.2002, tập 1, tr.555 - 556.

Trang 16

cách là một thành viên xã hội công dân, con người phi chính trị nhất định

phải xuất hiện như một con người tự nhiên”11 C.Mác khẳng định rằng:

“Rốt cuộc, con người với tư cách là thành viên xã hội công dân, có nghĩa

là con người theo đúng nghĩa của nó, đó là homme khác biệt với citoyen,bởi vì nó là con người trong sự tồn tại cảm tính, cá nhân, trực tiếp của nó,còn con người chính trị thì chỉ là con người trừu tượng, nhân tạo, conngười với tư cách là nhân vật ẩn dụ, nhân vật pháp lý”12

Xuất phát từ quan điểm này, chúng ta thấy rằng, càng chính trịhoá, nhà nước hoá các tổ chức, các cộng đồng xã hội, càng hạ thấp vaitrò của xã hội dân sự và cản trở sự phát triển của xã hội dân sự TheoC.Mác, xã hội dân sự không phải là lĩnh vực chính trị, nhưng mọi hoạtđộng của xã hội dân sự đều có ảnh hưởng đến nhà nước Vì vậy, các thểchế của xã hội dân sự mang những hình thức chính trị nhất định Nhưvậy, khi xây dựng một xã hội dân sự, một mặt phải thừa nhận vai trò độclập khách quan của nó đối với nhà nước, mặt khác không phủ nhậnnhững hình thức chính trị của nó

Về tầm quan trọng của xã hội công dân, C.Mác đã viết: “Xã hội công

dân đó là trung tâm thực sự, vũ đài thực sự của toàn bộ lịch sử”13 Và “cáchmạng chính trị là cách mạng của xã hội công dân”14 Điều đó cho thấy rằng,bất kỳ một đảng chính trị, một lực lượng xã hội hiện đại nào muốn giànhthắng lợi, thì phải giành thắng lợi cuối cùng ở xã hội công dân Chúng ta cóthể khẳng định rằng, nếu vấn đề nhà nước là vấn đề cơ bản của mọi cuộccách mạng thì vấn đề xã hội dân sự là mục tiêu cuối cùng của mọi cuộc cáchmạng

11 C.Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2002, tập 1, tr.556.

12 C.Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2002, tập 1 tr.557.

13 C.Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1995, tập 3, tr.51.

14 C.Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2002, tập 1 tr.554.

16

Trang 17

Mặc dù C.Mác nghiên cứu về xã hội dân sự là xã hội dân sự thờicủa Mác, nhưng những giá trị phổ biến của những quan điểm đó vẫn còn

có giá trị đến ngày nay Khi nói về xã hội dân sự, C.Mác khẳng định đó

là thành quả của sự phát triển tư bản chủ nghĩa, nhưng ông vẫn thường

dùng cụm từ “trong mọi thời đại” khi còn nhà nước thì xã hội dân sự cũng là cơ sở của nhà nước Xã hội công dân với tính cách là “ tổ chức

xã hội trực tiếp sinh ra từ sản xuất và giao tiếp và trong mọi thời đại đều cấu thành cơ sở của nhà nước và của kiến trúc thượng tầng tư tưởng”.

Cũng như một số phạm trù khác xuất hiện dưới chủ nghĩa tư bản,như “pháp quyền”, “dân chủ”…, “xã hội dân sự” không phải là hình thứclịch sử cuối cùng Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, xã hội dân sự có hìnhthức lịch sử của nó Thậm chí lúc đó xã hội dân sự còn có thể đóng vaitrò quan trọng hơn hẳn và khác hẳn so với các hình thức lịch sử khác.Chính vì thế, C.Mác cho rằng, cùng với sự phát triển của xã hội đến mộtgiai đoạn nào đó, khi nhà nước tiêu vong - tức nhà nước chính trị mấttính chất chính trị, khi đó “xã hội dân sự” sẽ đảm nhiệm chức năng quản

lý xã hội trước đó của nhà nước

V.I Lê-nin, nhìn chung không sử dụng thuật ngữ xã hội công dân vànhà nước pháp quyền V.I Lê-nin cũng như C.Mác và Ph.Ăng-ghen đều chorằng, việc giải phóng nhân loại cuối cùng, sẽ thủ tiêu những khác biệt giaicấp, và tiếp đó là bãi bỏ việc phân chia giữa xã hội công dân và nhà nướctrong “xã hội loài người, hay loài người xã hội hóa” (C.Mác), để tạo nên sựthống nhất giữa tồn tại pháp nhân và tồn tại tư nhân của con người, nhằmphát triển toàn diện con người thông qua các “cộng đồng lao động tự do”

Trang 18

Chương 2 QUAN NIỆM CỦA HỒ CHÍ MINH

VÀ ĐẢNG TA VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ

1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về xã hội dân sự

Hồ Chí Minh tha thiết yêu nước, thương dân, yêuthương con người Theo Người, yêu nước phải thể hiệnthành thương dân, không thương dân thì không có gìđể nói về yêu nước cả Dân là số đông trongdân tộc, phải làm cho số đông đó ai cũng có cơmăn, áo mặc, ai cũng được học hành, sống tự do,hạnh phúc mà tư tưởng luôn thấu triệt là khi nướcđộc lập rồi thì phải biết thương dân nhiều hơn vàcụ thể hơn mà nhất là cán bộ, phải biết làmcông bộc cho dân Hồ Chí Minh tha thiết yêu thươngcon người với tất cả mọi người nhưng không phải làtình thương trừu tượng chung chung mà trực tiếp lànhân loại cần lao, trước hết, là giai cấp công nhânvà giai cấp nông dân; trong đó, trọng tâm là ngườilao động nghèo khó của Việt Nam Cho nên, sự nghiệpgiải phóng con người, giải phóng giai cấp, giảiphóng dân tộc là một quá trình đồng thời và tươnghỗ lẫn nhau

Dân tộc Việt Nam trải qua hàng thế kỷ dướiách thực dân phong kiến, sống một cuộc sốngkhông có tự do tối thiểu nào, bị nô dịch và ápbức bóc lột làm cho nghèo đói đến cùng cực Khátvọng “không có gì quý hơn độc lập tự do” - giải

Trang 19

phóng dân tộc và tự do cho dân – trở thành mụcđích thiêng liêng của Hồ Chí Minh và của cả dântộc Người đi đến nhiều nước có độc lập dân tộcnhưng vẫn không có tự do của dân nên phải tìm conđường cứu nước sao cho vừa có độc lập dân tộcvừa có tự do cho nhân dân “Nước độc lập mà dânkhông hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũngchẳng có nghĩa lý gì”15 Cho nên, người đã chọn con đường cáchmạng giải phĩng dân tộc dưới ngọn cờ của giai cấp cơng nhân tiến lên chủnghĩa xã hội.

Hồ Chí Minh luôn xem dân là gốc nước, khôngchỉ là việc sử dụng lực lượng chính trị từ dân, mọihoạt động chính trị đều vì dân, mọi công việc đềuphải bàn bạc với dân, lắng nghe ý kiến của dânvà chịu sự kiểm tra, giám sát của dân mà cịn phảigiáo dục sao cho dân hiểu và tổ chức cho dân tựmình giải phóng mình, tự mình xây dựng cuộc sốngcủa mình Cho nên, Người đã dày công xây dựng mộtnền chính trị và tổ chức nhà nước mà tất cảquyền lực ở đó đều thuộc về nhân dân, một chếđộ xã hội không chỉ chuyên chính với kẻ thù đểbảo vệ tự do của nhân dân mà cơ bản hơn cịn tạo

ra môi trường ngày một thuận lợi thêm cho nhândân sinh sống và phát triển những gì có thể theoyêu cầu hạnh phúc của chính mình nên “bao nhiêu lợiích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân”16

15 Hồ Chí Minh: Tồn tập, Nxb Chính trị quốc gia, t 4, tr 56.

16 Hồ Chí Minh: Toàn tập, N xb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

1995, t 6, tr 175.

Trang 20

Hồ Chí Minh chủ trương phải thực thi đại đoànkết tồn dân tộc để tạo ra sức mạnh của toàn dânlà vấn đề cơ bản của đời sống chính trị ở Việt Nam.Sức mạnh của cả dân tộc không phải chỉ về mặtvật chất mà cả về sức mạnh tinh thần của mọingười bắt nguồn từ logic nội tại của tính “đồngbào” và nhu cầu phát triển của dân tộc Việt Nam.Cho nên, phải đại đoàn kết toàn dân, thống nhấtcông – nông – trí và đại đoàn kết toàn dân để tạo

ra sức mạnh giữ nước và dựng nước mà bản thânNgười là một hình mẫu toàn vẹn sinh động củađoàn kết trong nội bộ Đảng, đoàn kết Đảng vớiquân và dân, đoàn kết quốc gia, đoàn kết dântộc, đoàn kết quốc tế

Mọi người đều biết Đảng Cộng sản mang bảnchất của giai cấp công nhân nhưng, trong thời đạichủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa xã hội đã trởthành hiện thực trên thế giới thì, chỉ có một đảngcách mạng của giai cấp công nhân - đội tiền phongcủa giai cấp và đại diện cho cả dân tộc mới tậphợp và đoàn kết được giai cấp và toàn bộ dân tộcthực hiện sự nghiệp cứu nước giải phóng dân tộcvà giải phóng giai cấp Bởi vậy, Đảng Cộng sảnViệt Nam do Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyệnkhông chỉ là Đảng của giai cấp công nhân màcòn là Đảng của cả dân tộc Việt Nam Người hiểusâu sắc giai cấp công nhân không có lợi ích riêng,hạn hẹp mà đại diện lợi ích của đa số và Đảng

20

Trang 21

Cộng sản phải trở thành dân tộc mà cầm quyền.Từ dân tộc và vì dân tộc, phải là mục đích cơ bảnvà trực tiếp của mọi người cộng sản và trên cơ sởđó mà góp phần thực hiện mục đích nhân loại củamình Người khẳng định: “Đảng ta là Đảng chỉ cómột điều là phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân,phục vụ chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.Ngoài ra, không còn có lợi ích nào khác”17

Hồ Chí Minh từng bước tổ chức hệ thống chínhtrị và bộ máy nhà nước thật sự là công cụ thểhiện và thực hiện quyền lực chính trị – quyền làmchủ của dân - là quyền lực công cộng do dân lập

ra để bảo vệ các quyền cơ bản và thiêng liêngcủa con người Quyền lực chính trị của nhà nước làquyền lực định hướng, điều khiển, tạo môi trườngcho sự phát triển toàn bộ của một quốc gia dântộc nên phải tập trung cao độ trí tuệ của cả giai cấp,dân tộc và cả thời đại mà xây dựng hệ thốngchính trị và hoạt động của Nhà nước với một cơ chếthực sự kiểm soát được quyền lực giữa các cơ quannhà nước cùng với sự giám sát của nhân dân laođộng đối với các cơ quan và quan chức nhà nước ởmọi cấp, mọi ngành, mọi hoạt động Một chế độchính trị dân chủ, nhân dân làm chủ xã hội, làmchủ nhà nước; đồng thời, cũng phải có nghĩa vụvới xã hội, với nhà nước “Nước ta là nước dânchủ, nghĩa là nhà nước do nhân dân làm chủ

17 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, HN, 1 10, 1986, tr 462.

Trang 22

Nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì phải có nghĩavụ làm tròn bổn phận công dân, giữ đúng đạođức công dân”18

2 Quan niệm của Đảng ta về xã hội dân sự

Ở Việt Nam, cho đến nay, mặc dù các văn kiện Đảng và Nhà nướcchưa trực tiếp nêu khái niệm “xã hội dân sự” hay “xã hội cơng dân”, songtrên thực tế, ở mức độ nhất định, Đảng và Nhà nước đã bước đầu chú ý đếnviệc xây dựng các thể chế và cơ sở pháp lý của xã hội dân sự

Ở Việt Nam liên quan đến khái niệm “xã hội dân sự” cịn cĩ các thuậtngữ “xã hội cơng dân”, “xã hội thị dân” Về mặt từ nguyên, khái niệm “civilsociety”, từ tiếng Anh được dịch sang tiếng Việt, đúng nghĩa là “xã hội dânsự” Cịn thuật ngữ tiếng Việt “xã hội cơng dân”, nếu được dịch sang tiếngAnh là “citizen society” Trong các tài liệu khoa học Anh, Mỹ, khơng thấydùng thuật ngữ “citizen society” như một khái niệm phổ biến Mặc dù cáchdịch ra tiếng Việt khơng hồn tồn giống nhau, nhưng nội hàm của hai kháiniệm trong bài viết này là một

Ở Việt Nam, thuật ngữ “xã hội cơng dân” cĩ xuất xứ từ kinh điển Mác

- Lê-nin Trong các tác phẩm của C Mác và Ph.Ăng-ghen, thuật ngữ “Diebürgerliche Gesellschaft”, tiếng Đức, được hiểu là “xã hội cơng dân” và cĩchỗ là “xã hội thị dân”

Tuy khơng chính thức dùng thụât ngữ “ Xã hội dân sự” hay “Xã hộicơng dân” nhưng từ ngày thành lập cho đến nay, các quan điềm cơ bản củaĐảng và các nguyên tắc lớn trong pháp luật của Nhà nước về kinh tế, về nhànước, về văn hĩa và xã hội đều cĩ thể được cơi là tiền đề, cũng chính là nhân

tố cơ bản nhất đã thúc đẩy việc hình thành tiền đề xây dựng xã hội dân sựViệt Nam hiện nay

18 HCM Toàn tập Nxb CTQG H 1996.T7, tr 452.

22

Trang 23

Xã hội dân sự ở Việt Nam được hình thành và phát triển từ rất sớm Phương thức quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở ViệtNam đã được Đảng xác lập ngay buổi thành lập(1930) “Chánh cương vắn tắt”19 đã thể hiện rõ tưtưởng tạo dựng căn bản cơ sở kinh tế cho mọi sự bìnhđẳng giữa các tầng lớp xã hội, xóa bỏ áp bứcbóc lột là điều kiện trước tiên để cải thiện đờisống nhân dân lao động Trong kháng chiến chốngPháp xâm lược, Đảng đã chủ trương: “Thực hiện triệtđể người cày có ruộng, phát triển công nghệ,hoàn chỉnh chế độ dân chủ nhân dân”, “xây dựng

cơ sở cho chủ nghĩa xã hội”20; thực hiện đồng thời

“diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoạixâm” Khi cả nước tiến hành cuộc kháng chiếnchống đế quốc Mỹ, Đảng chỉ rõ: “Xây dựng đờisống ấm no hạnh phúc ở Miền Bắc và củng cốMiền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranhthực hiện hòa bình thống nhất nước nhà”21 Còn cácvùng giải phóng ở Miền Nam, việc phát triển kinhtế, văn hóa, xã hội, cải thiện đời sống của nhândân cũng được Chính quyền Cách mạng của nhândân chú trọng, đã tạo nên hậu phương và hậu cầntại chỗ vững chắc cho thắng lợi của cách mạng

Dấu mốc đầu tiên để nghi nhận là sau khi Cách mạng Tháng Tám(1945) thành cơng, trong Bản Tuyên ngơn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã

Trang 24

vận dụng một cách hết sức nhuần nhuyễn tư tưởng dân chủ hướng đến xâydựng một xã hội dân sự của Tuyên ngơn Nhân quyền của Mĩ và Tuyên ngơnDân quyền của Pháp, để đi đến khẳng định: mọi người sinh ra đều cĩ quyềnbình đẳng, quyền được sống, quyền mưu cầu hạnh phúc Và ngay khi chínhquyền cách mạng vừa thành lập, mặc dù trong bối cảnh đất nước phải chốngthù trong giặc ngồi, đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ, trực tiếp uyhiếp đến thành quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã kí những Sắc lệnh đầu tiên, cũng chính là những sắc lệnh xây dựng xã hộidân sự: Sắc lệnh số 35/SL, ngày 20-9-1945, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng;Sắc lệnh số 41/SL, ngày 29-3-1946 về bảo vệ quyền tự do cá nhân; Sắc lệnh

số 52/SL, ngày 22-4-1946, qui định chế độ tự do lập hội

Từ đĩ đến nay, với cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nướcquản lí – mỗi thời kì lịch sử tuy cĩ điều chỉnh, nhưng về bản chất vẫn khơng

cĩ gì thay đổi – nhân dân Việt Nam đã xây dựng một xã hội dân sự trong đĩ

đề cao vai trị lãnh đạo của Nhà nước pháp quyền, phát huy quyền làm chủcủa các tầng lớp nhân dân lao động; tập hợp, đồn kết các tầng lớp nhân dân(khơng phân biệt sắc tộc, vùng miền, tơn giáo, đảng phái, giàu – nghèo, trai -gái) vào một mặt trận rộng rãi, cùng nhau xây dựng một xã hội cơng bằng,dân chủ, văn minh

Đường lối đổi mới do Đại hội VI của Đảng khởixướng đặt ra chủ trương phải “cải cách lớn” bộmáy nhà nước, sửa đổi Hiến pháp 1980 đáp ứngyêu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế Theo đĩ,phải xây dựng một nhà nước mà toàn bộ tổchức, hoạt động của nó dựa trên cơ sở pháp luật,tuân thủ pháp luật, đồng thời thực hiện được chứcnăng quản lý xã hội bằng pháp luật Đó là mộtnhà nước bảo vệ được quyền tự do, dân chủ, lợi ích

24

Trang 25

hợp pháp, danh dự, nhân phẩm của mọi công dân,khắc phục được sự tùy tiện lạm quyền của các cơquan nhà nước, các cán bộ có chức quyền vànhân viên trong bộ máy nhà nước Đó là một nhànước mà mỗi cơ quan tổ chức, cán bộ, nhân viêntrong bộ máy của nó phải chịu trách nhiệm trướccông dân, trước xã hội và nhà nước về các hoạtđộng của mình, cũng như mọi công dân chịu tráchnhiệm về các nghĩa vụ của mình đối với nhà nướcvà xã hội Đó là một nhà nước kiểm tra, giámsát được việc thi hành các mệnh lệnh, chỉ thị, cácnghị quyết, quyết định đã ban hành; kiểm tra, giámsát được quá trình thi hành pháp luật, xử lýnghiêm minh, kịp thời mọi vi phạm pháp luật.

Đại hội VII Đảng xác định: tiếp tục cải cáchbộ máy nhà nước theo hướng Nhà nước thực sự làcủa dân, do dân và vì dân Nhà nước quản lý xãhội bằng pháp luật, dưới sự lãnh đạo của Đảng;tổ chức hoạt động theo nguyên tắc tập trung dânchủ, thực hiện thống nhất quyền lực nhưng phâncông, phân cấp rành mạch; bộ máy tinh giản, gọnnhẹ và hoạt động có chất lượng cao trên cơ sở ứngdụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật, quản lý”

“Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳquá độ lên xã hội chủ nghĩa” đề cập đến nhữngnội dung rất khái quát của việc xây dựng nhànước pháp quyền: “Toàn bộ tổ chức và hoạt độngcủa hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là

Trang 26

nhằm xây dựng từng bước hoàn thiện nền dânchủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộcvề nhân dân Dân chủ gắn liền với công bằngxã hội phải được thực hiện trong thực tế cuộc sốngtrên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa,xã hội thông qua hoạt động của Nhà nước do nhândân cử ra và bằng các hình thức dân chủ trựctiếp Dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương, phảiđược thể chế hóa bằng pháp luật và được phápluật bảo đảm Nhà nước định ra các đạo luậtnhằm xác định các quyền công dân và quyền conngười, quyền đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm”;

“là tổ chức thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lựccủa nhân dân, thay mặt nhân dân, Nhà nước taphải có đủ quyền lực và đủ khả năng định ra luậtpháp và tổ chức, quản lý mọi mặt đời sống xãhội bằng pháp luật Sửa đổi hệ thống tổ chứcnhà nước, cải cách bộ máy hành chính nhà nước,kiện toàn các cơ quan lập pháp để thực hiện cóhiệu quả các chức năng quản lý của Nhà nước.Nhà nước có mối quan hệ thường xuyên và chặtchẽ với nhân dân, tôn trọng và lắng nghe ý kiếncủa nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân Có

cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa vàtrừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lộng quyền, vôtrách nhiệm, xâm phạm quyền dân chủ của côngdân Tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lýnhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thống

26

Trang 27

nhất quyền lực, có phân công, phân cấp, đồngthời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Trungương”.

Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳkhóa VII đã nêu nhiệm vụ “Xây dựng nhà nướcpháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân,

vì nhân dân” mà nội dung chủ yếu là “Tiếp tụcxây dựng và từng bước hoàn thiện nhà nước phápquyền Việt Nam Đó là nhà nước của nhân dân, donhân dân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sốngxã hội bằng pháp luật, đưa đất nước phát triểntheo định hướng xã hội chủ nghĩa Nhà nước phápquyền Việt Nam được xây dựng trên cơ sở tăngcường, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, lấyliên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân vàtầng lớp trí thức làm nền tảng do Đảng ta lãnhđạo” Văn kiện cũng đã chỉ rõ yêu cầu, nhiệm vụcụ thể là: “Thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa,phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân…Nhà nước phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân,tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân, chịusự giám sát của nhân dân Kiên quyết đấu tranhchống quan liêu, cửa quyền, chống tham ô, lãng phí,đặc quyền, đặc lợi Bảo vệ quyền con người, cácquyền cơ bản của công dân đã ghi trong Hiến pháp;

“Thiết lập trật tự, kỷ cương xã hội, chống các biểuhiện dân chủ cực đoan Thực hiện chuyên chính đốivới những phần tử có hành vi phản bội Tổ quốc,

Trang 28

phá hoại an ninh quốc gia, xâm phạm lợi ích củanhân dân”; đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạtđộng lập pháp, xây dựng hệ thống pháp luật đồngbộ, nhất quán; tăng cường giáo dục pháp luật,nâng cao hiểu biết và ý thức tôn trọng pháp luật,sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật,bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cáchnghiêm chỉnh, thống nhất và công bằng; tiếp tụctinh giản và đổi mới bộ máy nhà nước, bảo đảmquyền lực thống nhất, phân công rõ và phát huyhiệu lực của cả ba quyền: lập pháp, hành pháp, tưpháp, làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ;nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội; xúctiến cải cách hành chính; tiếp tục kiện toàn tổchức và đổi mới hoạt động của hệ thống tư pháp;xây dựng quy chế công chức, chế độ trách nhiệmcông vụ, tổ chức đào tạo lại cán bộ viên chứctrong bộ máy nhà nước, bảo đảm tính liên tục củanền hành chính Như vậy, việc xây dựng nhà nướcpháp quyền Việt Nam trở thành chủ trương có tầmchiến lược, bao trùm toàn bộ tổ chức, hoạt độngcủa Nhà nước, trở thành định hướng cho toàn bộquá trình và nội dung đổi mới tổ chức, hoạt độngcủa Nhà nước

Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương(Khóa VII) đã thông qua Nghị quyết “Tiếp tục xâydựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách một

28

Trang 29

bước nền hành chính nhà nước” với 5 quan điểm cơbản: (1) Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa củadân, do dân và vì dân, lấy liên minh giai cấp côngnhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thứclàm nền tảng do Đảng cộng sản lãnh đạo; thựchiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, giữnghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hànhđộng xâm phạm lợi ích của tổ quốc và của nhândân (2) Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sựphân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quannhà nước trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp,hành pháp, tư pháp (3) Quán triệt nguyên tắc tậptrung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Nhànước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (4)Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa; xây dựngnhà nước pháp quyền Việt Nam Quản lý xã hộibằng pháp luật đồng thời coi trọng giáo dục, nângcao đạo đức xã hội chủ nghĩa (5) Tăng cường vaitrò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước

Tại Đại hội toàn quốc lần thứ IX (2001), Đảng tađã khẳng định: “Nhà nước ta là công cụ chủ yếuđể thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, lànhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân”.Văn kiện Đại hội chỉ rõ: Quyền lực nhà nước làthống nhất, có sự phân công và phối hợp giữacác cơ quan nhà nước trong việc thực hiện cácquyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Nhà nướcquản lý xã hội bằng pháp luật Mọi cơ quan, tổ

Trang 30

chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩavụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật” Văn kiệncũng xác định: “Xây dựng Nhà nước pháp quyềnxã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng” lànhiệm vụ trọng tâm trong nội dung phần thứ IX về

“đẩy mạnh cải cách tổ chức hoạt động của Nhànước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế”.Đó là nhiệm vụ cải cách thể chế và phương thứchoạt động của Nhà nước; phát huy dân chủ giữvững lỷ luật, kỷ cương tăng cường pháp chế Xâydựng đội ngũ cán bộ trong sạch, có năng lực đấutranh chống tham nhũng”

Theo Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X củaĐảng, xây dựng cơ chế vận hành của nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa bảo đảm nguyêntắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhândân, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sựphân công phối hợp giữa các cơ quan trong việc thựchiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.Hoàn thiện hệ thống pháp luật tăng tính cụ thể,khả thi của các quyết định trong văn bản phápluật Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giámsát, tính hợp hiến, hợp pháp các hoạt động vàquyết định của các cơ quan công quyền

Riêng về các tổ chức chính trị – xã hội (bộ phận nịng cốt của xã hộidân sự), Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ IX Đảng ta chỉ rõ:

“Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhândân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại

30

Ngày đăng: 19/01/2023, 00:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Từ điển Triết học, Nxb Matxcơva, 1975, NXB. Sự thật, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Triết học
Nhà XB: Nxb Matxcơva
Năm: 1975
2. Từ điển Bách khoa Việt Nam, t. 4. Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Bách khoa Việt Nam, t. 4
Nhà XB: Nxb. Từ điển bách khoa
Năm: 2005
3. Luận án Tiến sĩ Triết học” Xây dụng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghỉa ở Việt Nam hiện nay” của NCS Phạm Thị Hồng Hoa (2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: NCS Phạm Thị Hồng Hoa
Năm: 2008
4. Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, T1. Nxb. CTQG. HN. 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, T1
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 2000
5. Mác - Ăngghen: Tuyển tập, t. 1. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, tr. 362, Hệ tư tưởng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mác - Ăngghen: Tuyển tập, t. 1
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1980
6. Mác - Ăngghen: Toàn tập, t. 1, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mác - Ăngghen: Toàn tập, t. 1
Tác giả: Mác, Ăngghen
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1995
7. Mác – Ăngghen toàn tập, tập 1, nxb CTQG, H, 1995, tr.554 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mác – Ăngghen toàn tập, tập 1
Nhà XB: nxb CTQG
Năm: 1995
8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, N xb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh: Toàn tập
Nhà XB: Chính trị quốc gia
Năm: 1995
9. Hồ Chí Minh: Toàn tập, N xb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh: Toàn tập
Nhà XB: Chính trị quốc gia
Năm: 1995
10. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, HN, t.10, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh: Toàn tập
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1986
11. Hồ Chí Minh: Toàn tập, N xb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t. 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh: Toàn tập
Nhà XB: Chính trị quốc gia
Năm: 1996
12. ẹCSVN, VKẹTT, Nxb CTQG, HN, 1998, t. 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: t. 2
Tác giả: ẹCSVN, VKẹTT
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1998
13. ĐCSVN, VKĐ Về kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb ST, HN, 1988, t. 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về kháng chiến chống thực dân Pháp
Tác giả: ĐCSVN, VKĐ
Nhà XB: Nxb ST
Năm: 1988
14. ĐCSVN, VKĐH lần thứ III. Nxb ST, HN, 1960 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ĐCSVN, VKĐH lần thứ III
Tác giả: ĐCSVN
Nhà XB: Nxb ST
Năm: 1960
15. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
16. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
17. Hiến pháp Việt Nam từ năm 1946 đến năm 2001, NXB T.P Hồ Chí Minh, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp Việt Nam từ năm 1946 đến năm 2001
Nhà XB: NXB T.P Hồ Chí Minh
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w