BÀI KIỂM TRA GIỮA KỲ MÔN CÁC TÁC PHẨM KINH ĐIỂN CỦA MÁC – LÊNIN **************** Vấn đề Lý luận của Mác về hàng hóa sức lao động Bàn luận xung quanh vấn đề tiền lương cho người lao động trên thị trườn[.]
Trang 1BÀI KIỂM TRA GIỮA KỲ MÔN CÁC TÁC PHẨM KINH ĐIỂN
CỦA MÁC – LÊNIN
****************
Vấn đề: Lý luận của Mác về hàng hóa sức lao động Bàn luận xung
quanh vấn đề tiền lương cho người lao động trên thị trường sức lao động Việt Nam?
Bài làm.
Trong tác phẩm Bộ Bộ Tư bản, Mác đã nghiên cứu về phương thức sản xuất TBCN và tìm ra công thức chung của tư bản, đồng thời ông cũng chỉ rõ mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản Bằng việc sử dụng phương pháp loại trù, Mác đã tìm ra chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn chung đó là hàng hóa sức lao động Từ đó, Mác đã có những phân tích rất sâu sắc, cụ thể
về hàng hóa sức lao động và những lý luận đó có ý nghĩa to lớn, làm cơ sở trong việc chúng ta phân tích, bàn luận xung quanh vấn đề tiền lương trên thị trường sức lao động của Việt Nam hiện nay
Phân tích về hàng hóa sức lao động, Mác đã đưa ra định nghĩa: " Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó" Sức lao động là yếu tố
cơ bản của mọi quá trình sản xuất nhưng nó chỉ trở thành hàng hóa khi có hai điều kiện:
Người lao động phải được tự do về thân thể của mình, phải có khả năng chi phối sức lao động ấy đến mức có thể bán sức lao động đó trong một thời gian nhất định
Người lao động không có tư liệu sản xuất cần thiết để tự mình thực hiện lao động và cũng không còn của cải gì khác, muốn sống, họ chỉ còn cách
Trang 2bán sức lao động cho người khác sử dụng.
Khi có sự hội tụ của hai điều kiện trên thì sức lao động thực sự trở thành hàng hóa Hàng hóa sức lao động cũng giống như hàng hóa thông thường có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị Nhưng nó không đơn thuần dừng lại ở đó, hàng hóa sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt, đóng vai trò là nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản
Về giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động là công dụng của nó để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng sức lao động của nhà tư bản Khác với hàng hóa thông thường, hàng hóa sức lao động khi được sử dụng sẽ tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó Nói cách khác, hàng hóa sức lao động
là nguồn gốc đích thực tạo ra giá trị tăng thêm hay giá trị thặng dư cho nhà tư bản Đó chính là nguồn gốc giá trị thặng dư
Về giá trị của hàng hóa sức lao động, nó được đo bằng giá trị của
những tư liệu sinh họat cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động Nhưng việc sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động phải được thực hiện bằng cách tiêu dùng cho cá nhân Vì vậy, lượng hàng hóa sức lao động bằng lượng giá trị những tư liệu cần thiết về vật chất và tinh thần để nuôi sống người công nhân và gia đình của họ cùng với chi phí đào tạo công nhân theo yêu cầu của sx Giá trị hàng hóa sức lao động phụ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ nhất định Giá trị của hàng hóa sức lao động ở các vùng hoặc các quốc gia có thể khác nhau vì nó còn chịu ảnh hưởng của yếu tố lịch sử, tinh thần và điều kiện tự nhiên khác nhau
Như thế, hàng hóa sức lao động là điều kiện để chuyển hóa tiền tệ thành tư bản Đây cũng chính là chìa khóa để giải quyết mâu thẫn trong công thức chung của tư bản Tiền chỉ trở thành tư bản khi nó được sử dụng làm phương tiện để mang lại giá trị thặng dư cho người có tiền Điều đó chỉ thực hiện được khi người có tiền tìm được một loại hàng hóa đặc biệt là hàng hóa
Trang 3Tính chất đặc biệt của nó thể hiện ở 2 thuộc tính: Giá trị hàng hóa sức lao động mang tính chất tinh thần và lịch sử Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động khi tiêu dùng nó lại thu được một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó Nắm bắt và lợi dụng điều đó, nhà tư bản đã tìm mọi cách để bóc lột sức lao động của người công nhân nhằm đạt được mục đích là tuyệt đối hóa giá trị thặng dư thông qua các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Vận dụng những lý luận về hàng hóa sức lao động đã được Mác trình bày trong Bộ Tư bản vào việc xem xét, nhận định xung quanh vấn đề tiền lương trên thị trường sức lao động Việt Nam hiện nay sẽ cho chúng ta thấy thực trạng và những những vấn đề cần phải giải quyết
Có thể thấy rằng, thị trường sức lao động Việt Nam hiện nay khá dồi dào với lực lượng lao động chiếm tới khoảng trên 50% dân số Lực lượng lao động nước ta tương đối trẻ với tỷ lệ lao động nam – nữ khá cân đối được phân bổ trong hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế Lực lượng lao động nước
ta mặc dù đông nhưng hiện nay tình trạng phân bổ không đều giữa các vùng
và giữa các ngành nghề đang là một vấn đề gây ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế Xét một cách tổng thể, thị trường lao động nước ta đang có sức hút lớn đối với các nhà đầu tư và các quốc gia trên thế giới Bởi lao động Việt Nam trẻ với mức tiền công thấp, có nhiều ưu điểm như cần cù, thông minh, nhanh nhẹn, khả năng tiếp thu công nghệ nhanh và tinh thần học hỏi cao, trình độ của người lao động ngày càng được nâng cao… Tuy nhiên, bên cạnh ưu điểm,lao động nước ta cũng bộc lộ những nhược điểm , mà những nhược điểm đó đã gây những tác động xấu khiến các nhà đầu tư nước ngoài
và đặc biệt là các nước nhập khẩu lao động còn đắn đo như tính kỷ luật và tác phong lao động công nghiệp rất thấp xuất phát điểm là một nước nông nghiệp lạc hậu, khả năng phối hợp làm việc theo nhóm kém hiệu quả, trình
độ của người lao động phần lớn vẫn là lao động thủ công,…
Trang 4Xung quanh thị trường sức lao động Việt Nam, tiếp cận lý luận của Mác trong Bộ Tư bản , em xin được bày tỏ một vài nhận định về vấn đề giá
cả sức lao động hay tiền lương ( tiền công) trên thị trường sức lao động Việt Nam hiện nay xem nó đã tương xứng với giá trị của hàng hóa sức lao động hay chưa?
Như chúng ta đã biết, Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới đất nước đến nay đã hơn 20 năm và đạt được những thành công nhất định trên con đường phát triển ở các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó không thể
không nói đến thành công của sự phát triển các loại thị trường trong nền kinh
tế Việt Nam, đặc biệt là thị trường sức lao động Đây là một trong những thị trường quan trọng và cơ bản của nền kinh tế Việc chúng ta khẳng định sức lao động là hàng hóa không có nghĩa là quay lại quan hệ tư bản và lao động như trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Đối với nước ta, việc phát triển thị trường sức lao động nhằm tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động và quản lý mối quan hệ giữa người có sức lao động và người sử dụng lao động, từ đó nâng cao năng suất lao động, tạo nhiều của cải vật chất cho xã hội Từ 1993 đến nay, Nhà nước đã đẩy mạnh cải cách chính sách tiền lương, nhờ đó mức lương tối thiểu được pháp luật hóa và nâng cao theo thị trường Thu nhập của người lao động trong các loại hình doanh nghiệp được cải thiện Tuy nhiên, vấn đề giá cả hàng hóa sức lao động ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, tác động trực tiếp đến đời sống của người lao động và ảnh hưởng lan toả đến mọi mặt của đời sống xã hội Do vậy, chúng
ta hãy cùng nhau nhìn lại thực trạng giá cả hàng hóa sức lao động thời gian qua để từ đó có những giải pháp hữu hiệu trong thời gian tới, tạo động lực để thị trường này phát triển vững mạnh
Tiền lương tối thiểu được xác định theo nhu cầu tối thiểu, khả năng nền kinh tế, tiền lương trên thị trường sức lao động và chỉ số giá sinh hoạt Nó làm căn cứ để tính các mức lương trong hệ thống thang lương, bảng lương,
Trang 5phụ cấp lương trong khu vực nhà nước, tính mức lương ghi trong hợp đồng lao động và thực hiện chế độ khác cho người lao động theo quy định của pháp luật Trong Điều 56 của Bộ luật Lao động ghi: Mức tiền lương tối thiểu được ấn định theo giá sinh hoạt, đảm bảo cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tiền lương tái sản xuất sức lao động mở rộng và được dùng làm căn cứ để tính các mức lương cho các loại lao động khác Theo nguyên tắc của Mác, tiền lương phải đảm bảo tái sản xuất sức lao động, mức chấp nhận tối thiểu của người lao động: “chi phí sản xuất của sức lao động giản đơn quy thành chi phí sinh hoạt của người công nhân và chi phí để tiếp tục duy trì nòi giống đó là tiền công Tiền công được định như vậy là tiền công tối thiểu” Tức là giới hạn thấp nhất của tiền lương phải đảm bảo khôi phục lại sức lao động của con người Và tiền lương cũng được quyết định bởi những quy luật quyết định giá cả của tất cả các hàng hoá khác…, bởi quan hệ của cung đối với cầu, của cầu với cung Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, cải cách và đổi mới chính sách tiền lương cho phù hợp sự phát triển của nền kinh tế Từ khi ban hành Nghị định 235/HĐBT tháng 9/1985 về cải cách tiền lương trong cán bộ công chức, đến đầu năm 1993, Chính phủ đã 21 lần điều chỉnh tiền lương Nên từ 1993 đến nay, chính sách tiền lương đã có sự thay đổi theo hướng tích cực, khắc phục những hạn chế cơ bản của chính sách tiền lương theo Nghị định 235/HĐBT (1985) tạo sự hài hòa hơn về lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động là Nhà nước, với 4 nội dung cơ bản: Mức lương tối thiểu; quan hệ tiền lương giữa các khu vực; các chế độ phụ cấp tiền lương và cơ chế quản lý tiền lương, thu nhập, trong đó xác định mức tiền công, tiền lương tối thiểu là căn cứ nền tảng để xác định giá cả sức lao động Mức lương tối thiểu luôn được điều chỉnh theo sự biến động của giá trên thị trường, cụ thể là mức tiền lương tối thiểu luôn luôn được điều
Trang 6chỉnh qua các năm, mức tiền lương tối thiểu chung áp dụng từ ngày 1/1/2009
là 650.000đồng và từ ngày 1/1/2010 là 730.000đồng
Tuy nhiên, chính sách tiền lương và tiền công trong thời gian qua vẫn còn nhiều bất cập Tiền lương chưa phản ánh đúng giá cả sức lao động, chưa thực sự gắn với mối quan hệ cung cầu lao động trên thị trường, tốc độ tăng tiền lương nhỏ hơn tốc độ tăng của năng suất lao động Mức lương tối thiểu còn thấp chưa theo kịp với yêu cầu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động và sự phát triển kinh tế - xã hội Vấn đề lương thấp chưa đủ tái tạo sức lao động trở thành một vấn đề được cả xã hội quan tâm và luôn là một vấn đề
“nóng” thường xuyên được đề cập Chúng ta vẫn thường xuyên nghe thấy mọi người nói rằng lương chưa tăng nhưng giá xăng dầu, điện, nước, thực phẩm đã tăng…Điện, xăng, thép đều tăng giá và do thị trường điều tiết thế nhưng giá nhân công lại nằm ngoài quy luật ấy Khía cạnh nào đó, lương thấp hiện nay chưa đủ để tái tạo sức lao động đang cản trở sự phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội Thực tế là tiền lương tối thiểu lâu nay vẫn được xác định chủ yếu dựa vào ngân sách Nhà nước “Mức sống tối thiểu là thế này nhưng ngân sách bảo chỉ duyệt bằng kia thì cũng phải chịu” Hệ quả là, chi trả lương không theo năng lực, công việc mà dựa theo sự chịu đựng của ngân sách nên lương tối thiểu luôn thấp hơn so với mặt bằng chung được duy trì từ nhiều năm nay Lương tối thiểu hiện nay chưa do thị trường quyết định và không tương xứng với giá trị sức lao động Theo điều tra của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, lương tối thiểu mới chỉ đáp ứng khoảng 60 -65% nhu cầu cuộc sống, thấp hơn mức lương trả trên thị trường khoảng 20% Theo bà Nguyễn Lan Hương (Trưởng ban Hội nhập kinh tế quốc tế - Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương), mức lương này không đảm bảo bù đắp sức lao động giản đơn chứ chưa nói đến tích lũy để tái sản xuất sức lao động Còn so với các nước trong khu vực, tiền lương tối thiểu ở Việt Nam hiện nay thấp hơn khoảng 40% Phần lớn doanh nghiệp hiện nay lại lấy mức
Trang 7lương tối thiểu mà Nhà nước quy định hàng năm để trả lương cho người lao động mà không dựa vào năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc Lương thấp đã bộc lộ nhiều hệ lụy, theo các chuyên gia, những tiêu cực, nghịch lý đã xuất hiện trên diện rộng hơn Thể hiện rõ nhất đó là việc thiếu lao động trong thời gian gần đây Không chỉ riêng cung thiếu mà cầu cũng thiếu, quan hệ lao động chưa phát triển, các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài dựa trên mức lương tối thiểu thấp để tính giá đầu vào và trả lương cho người lao động Theo đó, người lao động rất khó khăn với mức thu nhập thấp nên không gia nhập vào thị trường lao động chính thức mà làm việc trong khu vực không có hợp đồng lao động Đây là lực cản lớn cho phát triển kinh tế Chỉ tính trong năm 2009, có hơn 100 nghìn chỗ làm việc còn trống, trong đó 80% là lao động phổ thông Về phía các trung tâm giới thiệu việc làm chỉ đáp ứng được 20% nhu cầu này Một thực tế lâu nay nữa là, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hiện nay đang dựa vào lương tối thiểu để trả công cho người lao động Để giải quyết vấn đề này, các nhà quản
lý đã quy định lương tối thiểu của các doanh nghiệp này cao hơn doanh nghiệp trong nước Cùng một địa bàn nhưng mức sống tối thiểu của người lao động trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lại cao hơn doanh nghiệp trong nước từ 10-15% Kết quả là nhiều doanh nghiệp nước ngoài phản ứng vì họ đang bị phân biệt đối xử Theo lộ trình thì đến năm 2012 sẽ thống nhất mức lương tối thiểu chung nhưng chính cơ quan quản lý cũng gặp khó khăn khi hàng năm buộc phải tăng lương tối thiểu khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thấp hơn trong nước để hai bên khi về đích gặp nhau
Chính sách tiền lương chưa được đảm bảo cho người lao động, đặc biệt là cán bộ, công chức, viên chức sống được bằng tiền lương ở mức trung bình khá trong xã hội; chưa khuyến khích và thu hút được người tài, người làm việc giỏi Mức lương trung bình của công chức còn thấp so với mức thu nhập trung bình của lao động xã hội Do vậy đã gây nên sự biến động, dịch
Trang 8chuyển lao động lớn và tỉ lệ lao động bỏ việc, nghỉ việc ngày một tăng Ngoài
ra, xét trên một khía cạnh nào đó thì với mức lương thấp như hiện nay phải chăng cũng là một nguyên nhân làm gia tăng tình trạng tham nhũng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên Hiện nay, tính theo mức lương tổi thiểu
chung thì một cán bộ, công chức trình độ cử nhân chưa được 2 triệu/ tháng trong khi chi phí sinh hoạt không phải là thấp, liệu có đáp ứng được giá trị sức lao động của họ và có đủ trang trải cho nhu cầu cuộc sống cũng như tái sản xuất sức lao động hay không?
Hệ thống tiền lương còn quá nhiều thang, bảng lương và khoảng cách giữa các bậc lương nhỏ, tiền lương danh nghĩa tăng nhưng tiền lương thực tế lại giảm sút Đối với mức lương, bậc lương giữa các loại cán bộ, công chức một số chức danh trong hệ thống chính trị (Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể) đã bộc lộ những bất hợp lý
Chế độ tiền lương chủ yếu vẫn dựa trên hệ thống phân phối theo việc, gắn cứng tiền lương với hệ số lương tối thiểu như nhau dù có trình độ khác nhau, nên không tạo được động lực kích thích khả năng sáng tạo và làm việc hiệu quả Đồng thời chưa có sự phân biệt giữa tiền lương tối thiểu của cán bộ công chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước với tiền lương tối thiểu của lao động trong khu vực hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo ra những tác động cản trở, sự chênh lệch về thu nhập giữa các đơn vị có nguồn thu và không có nguồn thu Các chế độ phụ cấp, bảo hiểm xã hội, an toàn lao động còn chưa được coi trọng
Có sự chênh lệch khá lớn về mặt bằng tiền lương, thu nhập giữa các vùng, khu vực thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, giữa lao động có kĩ thuật, có tay nghề với lao động phổ thông giữa các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm và các địa phương khác Sự phân hoá giàu nghèo giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn và giữa các tầng lớp dân cư tăng nhanh; khoảng cách chênh lệch về thu nhập, mức sống giữa các tầng lớp
Trang 9nhân dân, giữa các vùng có xu hướng doãng ra, nhất là giữa nông thôn và thành thị Tỷ lệ nghèo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số cao hơn nhiều mức bình quân cả nước Chúng ta có thể thấy, với cố gắng nỗ lực trong công cuộc xoá đói giảm nghèo của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội thì đến cuối năm 2006, tỷ lệ nghèo cả nước còn khoảng 18,1%, giảm trên 3%
so với giữa năm 2005, trong đó: Tây Bắc 37,36%; Đông Bắc 28,33%; Đồng bằng sông Hồng 11,64%; Duyên hải miền Trung 19,06%; Tây Nguyên
25,85%; Đông Nam Bộ 7,44%; Đồng bằng sông Cửu Long 15,58%
Trong các doanh nghiệp nhà nước, cơ chế phân phối tiền lương chưa thực sự theo nguyên tắc thị trường, còn mang nặng tính bình quân Mức độ chênh lệch về tiền lương, thu nhập giữa các loại lao động không lớn, chưa khuyến khích người có trình độ chuyên môn cao vào khu vực nhà nước Các doanh nghiệp ngoài nhà nước có tình trạng ép mức tiền công của người lao động, không thực hiện đúng công tác bảo hiểm xã hội và các chế độ khác
Xuất phát từ thực tế đó, nếu chúng ta tiếp tục duy trì chính sách tiền lương thấp như hiện nay, chuyện chuyển dịch lao động tự do trong khối ASEAN sẽ khó tránh khỏi Tiền lương thấp sẽ không hấp dẫn lao động trình
độ cao từ các nước khác vào Việt Nam mà chỉ có những lao động tay nghề kém, không có cơ hội ở nước họ vào làm việc Chừng nào tiền lương, trong
đó có lương tối thiểu vẫn còn bị quyết định bởi khả năng chi trả của ngân sách, không do thị trường quyết định sẽ là là cản trở phát triển kinh tế, phát triển an sinh xã hội ở nước ta Vậy, chúng ta cần làm gì để hoàn thiện chính sách tiền lương và tiền công hiện nay?
Trước hết, chúng ta phải nhanh chóng khắc phục tình trạng duy trì chính sách tiền lương dựa vào ngân sách Nhà nước theo hướng hoàn thiện chính sách tiền lương, tiền công theo hướng thị trường Tiền lương phải được coi là giá cả sức lao động, được hình thành theo quy luật thị trường, dựa trên cung- cầu về sức lao động, chất lượng, cường độ lao động và mức độ cạnh
Trang 10tranh việc làm Thực hiện tốt, phấn đấu rút ngắn lộ trình điều chỉnh tiền
lương và trợ cấp xã hội giai đoạn 2008- 2012 đi đôi với kiểm soát lạm phát
để đảm bảo tiền lương thực tế ngày càng tăng cho người hưởng lương
Cần phải có chế độ, chính sách về tiền lương và phụ cấp đối với cán bộ, công chức cơ sở cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường Các khoản lương, thưởng, phụ cấp của người lao động phải được đảm bảo trở thành những công cụ hữu hiệu để điều tiết quan hệ lao động, phản ánh đúng giá trị sức lao động bởi đó là những nguồn thu nhập để nuôi sống người lao động và gia đình họ, từ đó tạo động lực khuyến khích người lao động phát huy hết khả năng lao động của mình Mức lương tối thiểu phải đảm bảo nhu cầu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động và sự vận động của thị trường sức lao động
Phải tăng cường phối hợp cơ chế ba bên trong ban hành chính sách tiền lương, hình thành cơ chế thỏa thuận tiền lương Tăng cường sự tham gia của đại diện người lao động và người sử dụng lao động vào hoạch định chính sách, kế hoạch phát triển thị trường sức lao động Cải thiện các điều kiện liên quan đến sự phát triển của thị trường sức lao động như các thông lệ và luật pháp quốc tế, môi trường hợp tác giữa đại diện của người lao động (tổ chức công đoàn) và đại diện người sử dụng lao động trong cơ chế ba bên…
Nhà nước cần quy định các nguyên tắc xây dựng thang lương, bảng lương để người lao động và người sử dụng lao động có cơ sở xác định tiền lương, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra để đảm bảo quyền lợi chính đáng của người lao động
Tăng cường hoàn thiện môi trường pháp lý, gắn cải cách tiền lương với cải cách kinh tế, tạo sự gắn kết đồng bộ giữa các loại thị trường để thúc đẩy nhau phát triển lành mạnh Đẩy mạnh hoạt động tư pháp, củng cố cơ quan bảo vệ luật pháp, thực hiện nghiêm túc công tác điều tra, thanh tra và xét xử nghiêm minh, tạo môi trường lành mạnh cho phát triển kinh tê - xã hội