1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận văn, giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế tại cục thuế hải dương

75 25 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế tại Cục thuế Hải Dương
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kế toán, Tài chính, Thuế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hải Dương
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 92,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

74 LỜI MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài Nhà nước có chức năng quản lý xã hội, quản lý và điều tiết toàn bộ nền kinh tế Để thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình, đòi hỏi Nhà nước phải có nguồn[.]

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhà nước có chức năng quản lý xã hội, quản lý và điều tiết toàn bộ nềnkinh tế Để thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình, đòi hỏi Nhà nướcphải có nguồn thu, mà nguồn thu chủ yếu của NSNN là thuế Như vậy, Nhànước có thực hiện được các chức năng, nhiệm vụ của mình hay không phụthuộc rất nhiều vào nguồn thu từ thuế

Thuế có đặc điểm là một khoản thu không hoàn trả trực tiếp và liênquan đến lợi ích trực tiếp của người nộp thuế nên trong thực tế có nhiều cánhân, tổ chức, doanh nghiệp… vẫn còn tâm lý chây ỳ nộp thuế, chiếm dụngtiền thuế, thậm chí còn có hiện tượng trốn thuế làm cho số nợ đọng thuế cònrất lớn, nhiều khoản nợ thuế tồn tại nhiều năm không có khả năng thu, nhiềuđối tượng có nợ thuế đã không còn tồn tại do bị giải thể, mất tích… gây thấtthu lớn cho NSNN Do vậy, trong hệ thống quản lý thuế thì quản lý nợ thuế

và cưỡng chế thuế là một khâu quan trọng, là một chức năng chính của quản

lý thuế Công tác này có vai trò quan trọng trong việc nâng cao ý thức tuânthủ pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịpthời tiền thuế cho NSNN nhằm chống thất thu thuế, đảm bảo công bằng giữacác đối tượng nộp thuế

Trong bối cảnh chung của cả nước, Cục thuế Hải Dương đã và đangtriển khai công tác quản lý thuế nói chung, trong đó có công tác quản lý nợthuế và cưỡng chế thuế Thực tế thời gian qua cho thấy công tác quản lý nợthuế ở Cục thuế Hải Dương cũng đã đạt được nhiều kết quả tích cực Tuynhiên, trong quá trình triển khai công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế cũngcòn gặp phải một số vướng mắc, khó khăn nên tình trạng nợ đọng thời gianqua vẫn còn diễn ra nhiều…gây thất thu cho NSNN

Trang 2

Đứng trước thực trạng đó, công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế củatoàn Ngành nói chung và Cục thuế Hải Dương nói chung đang là vấn đề cấpbách, đòi hỏi phải có những biện pháp khả thi để thực hiện tốt công tác này.

Xuất phát từ thực tế trên, tác giả đã chọn vấn đề “Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế tại Cục thuế Hải Dương” làm đề tài

nghiên cứu luận văn thạc sĩ kinh tế

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế tại Cụcthuế Hải Dương để hoàn thiện công tác này ở Cục thuế Hải Dương

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Nội dung đề tài tập trung đi sâu vào các vấn đề lý luận và thực trạngcông tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế đối với các đối tượng nộp thuếtrên địa bàn tỉnh Hải Dương và do Văn phòng Cục thuế Hải Dương quản lý.Luận văn không nghiên cứu công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế tại các chicục thuế thuộc Cục thuế Hải Dương

4 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm:

- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu và kết hợp với khảo sát thực tế tạiCục thuế Hải Dương

- Phương pháp thống kê, phương pháp mô tả - khái quát, phương phápdiễn giải – quy nạp

- Phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp đối chiếu – so sánh

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

 Ý nghĩa khoa học:

Luận văn đã tổng hợp và hoàn thiện những vấn đề lý luận cơ bản vềcông tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế

Trang 3

 Ý nghĩa thực tiễn:

- Luận văn đã phân tích thực trạng công tác quản lý nợ thuế và cưỡngchế thuế tại Cục thuế Hải Dương, những biện pháp đã triển khai, kết quả đạtđược cũng như những hạn chế trong quá trình thực hiện

- Luận văn cũng đưa ra những giải pháp và kiến nghị nhằm nâng caohiệu quả của công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế tại Cục thuế HảiDương

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế tại

Cục thuế Hải Dương

Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường công tác quản lý

nợ thuế và cưỡng chế thuế tại Cục thuế Hải Dương

Trang 4

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ VÀ CƯỠNG CHẾ THUẾ

1.1 Những vấn đề cơ bản về quản lý nợ thuế

1.1.1 Khái niệm nợ thuế và quản lý nợ thuế

Thuế ra đời là tất yếu khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại vàphát triển của nhà nước Khi nhà nước xuất hiện, để đảm bảo sự tồn tại vàhoạt động của mình, nhà nước phải dùng quyền lực chính trị vốn có để tậptrung một phần của cải trong xã hội vào tay nhà nước nhằm đáp ứng nhucầu chi tiêu của nhà nước Việc huy động, tập trung của cải đó có thểđược thực hiện bằng các cách khác nhau, trong đó có hình thức đóng gópbắt buộc được gọi là thuế

Giáo trình Lý thuyết thuế của Học viện Tài chính định nghĩa: “Thuế làmột khoản thu nhập được chuyển giao một cách bắt buộc từ các thể nhân vàpháp nhân cho nhà nước, do pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đíchcông cộng”

Một trong những đặc trưng quan trọng của thuế là mang tính pháp lýcao Mỗi khoản thuế phát sinh được xác định trên cơ sở thu nhập của ngườinộp thuế và sẽ trở thành khoản nộp bắt buộc mà người nộp thuế phải có nghĩa

vụ chuyển giao cho nhà nước Tuy nhiên, trong thực tiễn do nhiều lý do khácnhau, người nộp thuế chưa nộp hoặc không nộp thuế cho nhà nước theo thờihạn quy định, từ đó hình thành nên khoản nợ thuế

Nợ thuế là số tiền được xác định phải nộp vào ngân sách nhà nước theoquy định của pháp luật nhưng chưa được nộp vào ngân sách nhà nước

Người nợ thuế là các tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng nộp thuế còn nợcác khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản phải nộp khác theo quy định tại vănbản quy phạm pháp luật

Trang 5

Mức nợ thuế là số tiền thuế còn nợ của người nợ thuế tại một thời điểm,

ở một ngưỡng nào đó khi phân loại nợ thuế

Như vậy, để đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời tiền thuế vào ngânsách nhà nước (NSNN) thì công tác quản lý nợ thuế là công tác quan trọngtrong công tác quản lý thuế nói chung

Quản lý nợ thuế là công việc theo dõi, nắm bắt thực trạng nợ thuế và

các khoản thu khác do cơ quan thuế quản lý và thực hiện các biện pháp đônđốc thu hồi số thuế nợ của người nộp thuế

Ngoài ra, để đảm bảo tuân thủ nghĩa vụ nộp thuế, thực hiện nghiêm kỷcương, kỷ luật về thuế, nhà nước quy định những hành vi nợ thuế phải nộpphạt một khoản tiền do chậm nộp thuế, gọi là tiền phạt chậm nộp thuế

Tiền phạt chậm nộp thuế là khoản tiền phạt được tính trên số tiền thuế

nợ và số ngày nợ thuế của một khoản nợ Số ngày nợ thuế của một khoản nợ

là khoảng thời gian liên tục tính theo ngày kể từ thời điểm bắt đầu tính nợ đếnthời điểm số tiền nợ đó được nộp vào ngân sách nhà nước

Để hiểu rõ hơn bản chất của nợ thuế, cần thiết phải nghiên cứu đặcđiểm của nợ thuế

1.1.2 Đặc điểm của nợ thuế

1.1.2.1 Nợ thuế là một hành vi tâm lý phổ biến

Như chúng ta biết, trong hệ thống thuế bao gồm nhiều sắc thuế khácnhau, tuy nhiên các sắc thuế dù trực tiếp hay gián tiếp đều đánh vào thu nhậpcủa các thể nhân hay pháp nhân trong nền kinh tế Nói cách khác, thuế là mộthình thức phân phối thu nhập có tính chất bắt buộc mà mọi người có nghĩa vụphải nộp cho nhà nước Như vậy, hành vi nộp thuế luôn luôn ảnh hưởng đếnlợi ích kinh tế của người nộp thuế Vì vậy, ở Việt Nam cũng như các nướckhác trên thế giới, người nộp thuế thường có xu hướng trốn hoặc tránh thuế.Tình hình này đặc biệt nghiêm trọng trong điều kiện các nước đang phát triển,trong đó có Việt Nam hiện nay, khi mà nhận thức xã hội về thuế còn thấp, đại

bộ phận người dân chưa hiểu rõ bản chất tốt đẹp và lợi ích của việc nộp thuế,

Trang 6

chưa phê phán, lên án mạnh mẽ các hành vi gian lận tiền thuế, chưa hỗ trợtích cực cho cơ quan thuế để thu thuế theo đúng pháp luật Tình trạng trốnthuế, gian lận thuế, nợ đọng thuế còn khá phổ biến vừa làm thất thu NSNN,vừa không đảm bảo công bằng xã hội Hay nói cách khác, những người nộpthuế luôn tìm mọi cách để tối thiểu hóa số thuế mà họ phải nộp Một trong cáccách đó là nợ thuế.

1.1.2.2 Nợ thuế là hành vi vi phạm pháp luật về thuế

Quy phạm pháp luật thuế là các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung

do nhà nước đặt ra và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hộiphát sinh trong quá trình các chủ thể thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN

Trong các quy định của pháp luật về thuế luôn luôn đề cập đến các phạm

vi điều chỉnh như: mức nộp thuế, người nộp thuế và thời gian phải nộp thuế

Như vậy, hành vi nợ thuế là hành vi vi phạm luật thuế của người nộpthuế bằng cách chậm nộp hoặc không nộp số tiền thuế phải nộp vào NSNNtheo quy định của pháp luật thuế

1.1.2.3 Nợ thuế chưa hẳn là hành vi trốn thuế

Trốn thuế là hành vi cố ý vi phạm pháp luật của đối tượng nộp thuế bằng mọihình thức, thủ đoạn để làm giảm số thuế phải nộp vào NSNN Còn nợ thuếmới chỉ là hành vi dây dưa, chậm nộp thuế khi quá thời hạn nộp theo quy địnhcủa pháp luật Tất nhiên, trong một số trường hợp việc nợ thuế có thể là mộthành vi nằm trong chuỗi hành vi nhằm trốn thuế Chẳng hạn như, một sốdoanh nghiệp cố tình nợ một số thuế lớn sau đó bỏ trốn không thực hiện nghĩa

vụ nộp thuế

1.1.2.4 Nợ thuế khác với hành vi tránh thuế

Tránh thuế là hành vi lợi dụng sơ hở của luật thuế để giảm nghĩa vụthuế Đây không phải là hành vi vi phạm pháp luật Còn nợ thuế thì khác hoàntoàn về bản chất, đó là nghĩa vụ đã được luật pháp xác định nhưng cố tình dâydưa, chậm nộp

1.1.3 Phân loại nợ thuế

1.1.3.1 Căn cứ vào khả năng thu hồi nợ

Trang 7

Căn cứ vào khả năng thu hồi nợ dựa trên những thông tin về người nợthuế theo mức nợ, tuổi nợ, tình trạng hoạt động kinh doanh của người nợ thuếthì nợ thuế được phân loại thành: nợ có khả năng thu, nợ khó thu và nợ không

có khả năng thu

- Nợ có khả năng thu

Theo thống kê, khoản nợ thuộc nhóm này thường chủ yếu là các khoản

nợ mới phát sinh sau thời hạn nộp thuế được quy định tại các văn bản pháp quy

về thuế

Do vậy, nợ có khả năng thu được hiểu là số tiền nợ thuế của người nợthuế được xác định phải nộp vào NSNN nhưng đã hết thời hạn nộp theo quyđịnh của pháp luật mà chưa nộp, đồng thời không thuộc nhóm nợ khó thu vànhóm nợ không có khả năng thu

Tùy thuộc vào tính chất, mục đích thu nợ của từng thời kỳ kinh tế xãhội thì cơ quan thuế có thể tiếp tục chia nợ có khả năng thu hồi thành các loại:

nợ thuế chậm nộp dưới 30 ngày, nợ thuế chậm nộp từ 30 ngày đến 90 ngày và

nợ thuế quá 90 ngày

nợ đang chờ giải quyết theo Luật phá sản

Khi người nộp thuế rơi vào tình trạng này thì có thể có trường hợp cơquan điều tra đã phong tỏa tài khoản, số sách kế toán nên người nộp thuếkhông thể thực hiện việc nộp thuế hoặc người nộp thuế đã nộp thuế nhưngphải nộp vào tài khoản của cơ quan điều tra nên trên sổ theo dõi thu nộp của

cơ quan thuế vẫn báo nợ Khi người nộp thuế đang bị điều tra, khởi tố liênquan đến nghĩa vụ thuế hoặc không liên quan đến nghĩa vụ thuế thì cơ quan

Trang 8

thuế phải tạm thời phân loại các khoản nợ của người nộp thuế này vào nhóm

nợ khó thu để chờ kết luận cuối cùng của cơ quan có thẩm quyền

Đối với người nộp thuế gặp khó khăn về tài chính, hoặc ngừng và tạmngừng kinh doanh thì việc tiếp xúc với người nộp thuế để thu nợ là khó khănnên phân loại vào nhóm này để có biện pháp quản lý theo dõi phù hợp Tương

tự, đối với trường hợp nợ đang chờ giải quyết theo Luật phá sản thì số tiềnthuế nợ của người nợ thuế đã có quyết định phá sản doanh nghiệp hoặc đangtrong thời gian làm thủ tục phá sản doanh nghiệp nhưng chưa làm các thủ tục

xử lý nợ theo quy định của pháp luật thì cũng cần được phân vào nhóm này

để cơ quan thuế có biện pháp quản lý thích hợp

- Nợ không có khả năng thu

Việc phân loại nợ vào nhóm này chủ yếu căn cứ vào tình trạng tồn tạicủa người nộp thuế Người nộp thuế hầu hết đã ngừng hoạt động sản xuấtkinh doanh hoặc không còn tồn tại trong thực tế, bao gồm các khoản nợ thuộccác trường hợp như nợ của người nợ thuế lâm vào tình trạng giải thể, phá sảnnhưng không làm các thủ tục, trình tự giải thể phá sản đúng pháp luật nênchưa có đủ căn cứ pháp lý để xử lý theo quy định của pháp luật Đặc điểm củatrường hợp này là khó khăn về tài chính, kinh doanh thua lỗ dẫn đến khôngcòn khả năng thanh toán Trường hợp người nộp thuế lâm vào tình trạng giảithể phá sản nhưng đang được cơ quan có thẩm quyền thụ lý để giải quyết chophép khoanh nợ thì cũng phải đưa vào nhóm này để sau khi có quyết địnhkhoanh nợ thì sẽ chuyển sang nhóm nợ không có khả năng thu này

Ngoài ra, nợ thuế của một loại đối tượng khác cũng có thể coi là không cókhả năng thu, đó là nợ thuế của các doanh nghiệp bỏ trốn Hầu hết đây là cácdoanh nghiệp ma, chỉ thành lập để mua bán hóa đơn, không thực tế kinh doanh

1.1.3.2 Căn cứ vào nội dung nợ của người nộp thuế

Căn cứ vào nội dung các khoản nợ qua kê khai của người nộp thuế, quacông tác thanh tra – kiểm tra của cơ quan thuế thì nợ thuế được chia thành: nợ

Trang 9

thuế, phí thông thường; nợ phạt thuế, phí; và nợ thuế, phí truy thu phải nộpsau thanh tra, kiểm tra.

- Nợ thuế, phí thông thường

Nợ trong nhóm này bao gồm các khoản nợ phát sinh từ số thuế, phíphải nộp do người nộp thuế kê khai với cơ quan thuế mà không bao gồm sốthuế, phí bị truy thu, bị phạt chậm nộp do cơ quan thuế thanh tra, kiểm traphát hiện Thông thường trong nhóm nợ thuế, phí này cũng bao gồm nhiềukhoản nợ có tuổi nợ và mức nợ khác nhau do người nộp thuế kê khai với cơquan thuế và các khoản nợ thuế này được theo dõi trên hồ sơ quản lý đốitượng nộp thuế lưu tại cơ quan thuế

- Nợ phạt thuế, phí

Theo Luật Quản lý thuế hiện nay thì việc cơ quan thuế xử phạt thuế,phí đối với người nộp thuế vi phạm về thuế thì sẽ có nhiều loại vi phạm tươngứng với từng nội dung vi phạm, tương ứng với đó là các khoản nợ phạt phátsinh cho từng lần vi phạm Do vậy, trong nhóm nợ phạt thuế, phí này còn cóthể chia ra thành các khoản mục nợ: nợ do phạt nộp chậm; nợ phạt thiếu thuếphải nộp; nợ phạt trốn thuế; nợ phạt vi phạm thủ tục về thuế

Việc phân loại thành các nhóm nợ nhỏ theo từng loại vi phạm như trênvừa có tác dụng phân loại nợ, vừa có ý nghĩa thống kê vi phạm của người nộpthuế để cơ quan thuế có biện pháp quản lý hiệu quả

- Nợ thuế, phí truy thu phải nộp sau thanh tra, kiểm tra

Đây là khoản nợ thuế mà cơ quan thuế sau quá trình kiểm tra, thanh tra

đã phát hiện thêm số thuế phải nộp mà đơn vị bỏ sót ngoài sổ sách, không kêkhai hoặc khai không chính xác ở tất cả các loại hồ sơ khai thuế trong nămtính thuế ở thời điểm cơ quan thuế tiến hành thanh tra, kiểm tra thì theo quyđịnh số thuế này đã phải nộp vào NSNN nhưng có thể đơn vị do vô tình hoặc

cố tình đã kê khai sai để trốn thuế Số thuế này thường được thể hiện trên cácbiên bản kiểm tra, thanh tra và được các đoàn kiểm tra, thanh tra chốt lại ở

Trang 10

thời điểm 31/12 hàng năm để thể hiện tình hình thực hiện nghĩa vụ với NSNNcủa người nộp thuế

Việc thống kê, phân loại nhóm nợ này không phải là chính xác tuyệtđối bởi trong kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế của cơ quan thuế hàng năm thìkhông phải tất cả các đối tượng nộp thuế đều được thanh tra, kiểm tra Dovậy, số nợ thuộc nhóm nợ này chỉ phản ánh được số thuế phát hiện thêm đượccoi là nợ thuế của những người nộp thuế được thanh tra, kiểm tra Tuy nhiên,việc phân loại này cũng có ý nghĩa quan trọng giúp cơ quan thuế có nhữngbiện pháp quản lý thích hợp với nhóm nợ này đồng thời cũng giúp cơ quanthuế đánh giá được các mức độ vi phạm pháp luật thuế của đối tượng nộpthuế trong từng thời kỳ cụ thể

1.1.3.3 Căn cứ vào thời gian nợ

- Nợ trong hạn

Nợ thuộc nhóm này bao gồm các khoản nợ thuế xuất, thuế nhập khẩuvẫn còn trong thời hạn nộp thuế Bên cạnh đó, còn có nợ thuế trong hạn dođược gia hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật Ngoài ra nhằm thực hiệncác biện pháp khuyến khích xuất khẩu thì thuế xuất khẩu hoặc nhập khẩuthường được cơ quan quản lý cho phép nộp chậm sau khi khai báo với cơquan hải quan tại cửa khẩu, do đó các khoản này thường chưa được tính phạtnộp chậm mà phải được theo dõi như là các khoản nợ trong hạn nộp

Trang 11

nợ, nhóm nợ khác nhau để có biện pháp quản lý phù hợp theo các nhóm ởtrên.

1.1.3.4 Căn cứ vào đối tượng nợ

Nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiệnnay có nhiều thành phần kinh tế tham gia, góp phần đa dạng hóa nền kinh tế,thúc đẩy quá trình cạnh tranh và là động lực phát triển đất nước Tuy nhiên,

về mặt quản lý của các cơ quan chức năng thì việc có nhiều thành phần kinh

tế tham gia vào hoạt động kinh tế cũng tương ứng với việc quản lý sẽ cónhiều khó khăn, phức tạp Việc quản lý thuế nói chung và quản lý nợ thuế nóiriêng cũng không phải là ngoại lệ

Vì vậy, căn cứ vào đối tượng nợ thuế thì người ta có thể chia thành cácnhóm nợ khác nhau như sau:

- Nợ thuế của doanh nghiệp nhà nước

- Nợ thuế của doanh nghiệp dân doanh

- Nợ thuế của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Nợ thuế của hộ kinh doanh cá thể

- Nợ thuế thu nhập của cá nhân

- Nợ thuế của các đối tượng khác

Việc phân loại này có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá mức độ nợthuế của từng loại hình người nộp thuế Từ đó có biện pháp, chính sách đểkhuyến khích các loại hình doanh nghiệp phát triển, đồng thời nghiên cứu nhữngbất cập của nhóm nợ khác để có phương pháp quản lý hoặc xử lý phù hợp

1.1.3.5 Căn cứ vào tính chất nợ

- Nợ chờ xử lý

Khác với việc phân loại nợ theo các nhóm trên thì nợ chờ xử lý căn cứvào tính chất của khoản nợ và áp dụng đối với đối tượng nộp thuế đang tồn tại

để phân loại Do vậy, các khoản nợ thuộc các trường hợp được đưa vào nhóm

nợ chờ xử lý để theo dõi thường bao gồm:

Trang 12

Thứ nhất, nợ đang chờ điều chỉnh: Là số tiền nợ thuế của người nợ thuế

do người nợ thuế hoặc cơ quan thuế có sai sót khi kê khai thuế, tính thuế đanglàm thủ tục để điều chỉnh lại hoặc do tạm tính số thuế phải nộp cao hơn sốphát sinh Tức là, số tiền nợ do người nộp thuế đã kê khai số thuế tạm nộphàng kỳ theo quy định nhưng thực tế thuế phát sinh phải nộp thấp hơn so với

số thuế đã kê khai tạm nộp, đang làm thủ tục điều chỉnh lại Ngoài ra, trongnhóm này còn có số tiền nợ do chứng từ luân chuyển chậm hoặc thất lạc, tiềnthuế đã nộp vào tài khoản thu NSNN nhưng do chứng từ luân chuyển chưakịp thời hoặc thất lạc nên trên sổ thuế vẫn ghi nợ

Thứ hai, nợ đang xử lý miễn, giảm, xóa nợ: là số tiền nợ thuế của người

nợ thuế đang trong thời gian làm các thủ tục tại cơ quan thuế để được xử lýmiễn, giảm, xóa nợ theo quy định của pháp luật về thuế; cá nhân được cơquan pháp luật coi là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự mà khôngcòn tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt còn nợ; nợ của người nợ thuế bị tuyên

bố phá sản đã thực hiện các khoản thanh toán theo quy định của Luật phá sản

mà không còn tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt Khi người nộp thuế đang có

nợ thuế do đến kỳ phải thực hiện kê khai thuế đúng hạn nhưng theo quy địnhcủa pháp luật về thuế họ sẽ được miễn, giảm hoặc được xử lý cho ghi thu, ghichi và đang làm thủ tục thì tạm thời đưa vào nhóm nợ chờ xử lý này để theodõi chứ không áp dụng các biện pháp cưỡng chế thu nợ

Thứ ba, theo quy định của pháp luật về thuế và xử lý khiếu nại tố cáo thì

trong quá trình khiếu nại khi cơ quan có thẩm quyền chưa ra quyết định xử lý,người nộp thuế vẫn phải nộp các khoản thuế vào NSNN Do đó, phát sinh thêmkhoản nợ chờ xử lý do khiếu nại của người nộp thuế, xử lý thoái trả tiền thuếkhi có quyết định chính thức của cơ quan có thẩm quyền thì nợ này được đưavào một trong hai nhóm nợ có khả năng thu hoặc nợ không có khả năng thu

Trang 13

Thứ tư, nợ đang được khoanh nợ, giãn nợ là số tiền thuế nợ của người

nộp thuế đã được xử lý cho khoanh nợ, giãn nợ hoặc đang trong thời hạn làmcác thủ tục tại cơ quan thuế đã được xử lý giãn nợ theo quy định

- Nợ thông thường

Là số tiền nợ thuế của người nợ thuế được xác định phải nộp vàoNSNN nhưng đã hết hạn nộp theo quy định của pháp luật về thuế mà chưanộp vào NSNN và không thuộc các trường hợp thuộc nhóm nợ chờ xử lý nêutrên

- Nợ khó thu

Tương tự cách phân loại vào khả năng thu hồi nợ của đối tượng nợ thìkhó thu bao gồm nợ của các đối tượng giải thể, phá sản hoặc đang trong giaiđoạn thực hiện các thủ tục giải thể, phá sản để giải quyết nợ theo trình tự củathủ tục giải thể, phá sản doanh nghiệp; hoặc nợ của đối tượng bỏ trốn, mấttích; của đối tượng bị khởi tố là số tiền thuế nợ của đối tượng nộp thuế đangtrong giai đoạn bị điều tra, khởi tố hình sự liên quan đến nghĩa vụ nộp thuế,đang thi hành án, đang chờ bản án hoặc kết luận của cơ quan pháp luật

Đối với những người nộp thuế rơi vào tình trạng này thì việc thu nợ sẽgặp nhiều khó khăn, người nộp thuế thường không có tiền trả nợ thuế hoặckhông tìm được chủ doanh nghiệp, khi đó cơ quan thuế sẽ phải phụ thuộc vàokết quả xử lý của cơ quan có thẩm quyền khác, do đó sẽ không chủ độngtrong việc đưa ra các biệp pháp thu nợ kịp thời Chính vì vậy, việc phân loạicác nhóm nợ này có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý nợ đối với nhữngtrường hợp người nộp thuế rơi vào tình trạng này

1.1.4 Vai trò của công tác quản lý nợ thuế

Quản lý nợ thuế có vai trò quan trọng trong công tác quản lý thuế cũngnhư có vai trò trong hoạt động kinh tế xã hội Cụ thể là:

Thứ nhất, quản lý nợ thuế để quản lý, theo dõi tình hình thực hiện nghĩa

vụ của đối tượng nộp thuế, đảm bảo người nộp thuế nộp các khoản thuế đầy

Trang 14

đủ, kịp thời vào NSNN; đảm bảo công bằng xã hội khi các cơ sở kinh doanhcùng phát sinh nghĩa vụ thuế thì phải nộp vào NSNN đúng hạn.

Thứ hai, quản lý nợ thuế để đảm bảo quản lý tất cả các khoản thu của

Nhà nước, chống thất thoát NSNN Quản lý nợ đảm bảo các chính sách thuếđược thực hiện đúng và triệt để thông qua việc cơ quan thuế có các tác động,can thiệp kịp thời và xử lý nghiêm các trường hợp có hành vi vi phạm thờihạn nộp thuế nhằm nâng cao ý thức tuân thủ của người nộp thuế

Thứ ba, việc quản lý nợ thuế để đảm bảo cơ quan thuế có biện pháp thu

nợ phù hợp, hiệu quả; mặt khác quản lý nợ là một thước đo để đánh giá hiệuquả của công tác quản lý thu thuế, góp phần nâng cao hiệu quả của các chứcnăng khác như: thanh tra, kiểm tra chống thất thu thuế

1.1.5 Yêu cầu của công tác quản lý nợ thuế

Quản lý nợ thuế phải đảm bảo các yêu cầu sau:

Thứ nhất, trong quản lý thuế nói chung và quản lý nợ thuế nói riêng thì

yêu cầu cơ bản và quan trọng nhất của công tác này là phải quản lý đầy đủ,không bỏ sót các khoản thu của NSNN, vì nếu quản lý không chặt chẽ, khôngbao quát hết các khoản thu sẽ gây thất thu cho NSNN, khi đó sẽ gây khó khăncho việc thực hiện các biện pháp cưỡng chế thuế

Thứ hai, phải đảm bảo quản lý chính xác các khoản nợ để cơ quan thuế

có các biện pháp quản lý phù hợp Để thực hiện yêu cầu này, bên cạnh việcphân loại nợ theo các tiêu thức đã trình bày ở phần trên thì các tiêu thức phânloại phải được kết hợp với nhau một cách hợp lý; qua đó cơ quan thuế sẽ đánhgiá, xem xét và đưa ra các biện pháp thu nợ phù hợp với từng ngành nghề,lĩnh vực, trong từng thời kỳ phát triển kinh tế xã hội

Thứ ba, phải đảm bảo thu nợ kịp thời, tránh thất thu NSNN Yêu cầu

này là yêu cầu xuyên suốt của công tác quản lý nợ thuế và là mục tiêu củacông tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế trong toàn ngành nói chung và của Cụcthuế Hải Dương nói riêng

Trang 15

1.2 Những vấn đề cơ bản về cưỡng chế thuế

1.2.1 Khái niệm cưỡng chế thuế

Nếu đến thời hạn quy định được ghi trong thông báo nợ thuế hoặc trongquyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế nhưng cá nhân hoặc tổ chức viphạm về thuế không tự nguyện chấp hành quyết định của cơ quan thuế thì bịbắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ thuế bằng các biện pháp cưỡng chế thuế…

Cưỡng chế thuế là việc cơ quan thuế và các cơ quan bảo vệ pháp luật

áp dụng các biện pháp buộc người nộp thuế phải thực hiện nghĩa vụ thuế

Để công tác cưỡng chế thuế đạt hiệu quả tối đa và chi phí cưỡng chế làtối thiểu thì thông thường việc cưỡng chế thuế chỉ được thực hiện sau khi cơquan thuế đã áp dụng đầy đủ các biện pháp quản lý đôn đốc thu nợ của mìnhnhưng vẫn không thu đủ tiền vào NSNN Chính vì vậy, để đảm bảo thu đúng,thu đủ tiền thuế thì cưỡng chế thuế được coi là công cụ bắt buộc để nâng caohiệu lực của pháp luật thuế và để góp phần chống thất thu NSNN

Trang 16

1.2.2 Đặc điểm cưỡng chế thuế

1.2.2.1 Cưỡng chế thuế là hành vi thi hành pháp luật về thuế

Cưỡng chế thuế là một trong các công tác quan trọng áp dụng đối vớinhững người nợ thuế không tự nguyện chấp hành quyết định của cơ quan thuếnhằm mục đích đảm bảo thu đúng, thu đủ tiền thuế vào NSNN và góp phầnthực hiện công bằng giữa những người nộp thuế

1.2.2.2 Cưỡng chế thuế là hành vi xuất hiện sau hành vi nợ thuế

Cưỡng chế thuế chỉ được thực hiện khi phát sinh các khoản nợ thuế mà

cơ quan thuế đã triển khai các biện pháp đôn đốc thu nợ mà vẫn chưa thu hồiđược số tiền nợ thuế từ những người nợ thuế Khi đó, công tác cưỡng chế thuế

sẽ phát huy được vai trò thu hồi tiền nợ thuế về cho NSNN

1.2.2.3 Thực hiện các biện pháp cưỡng chế thuế đòi hỏi có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa cơ quan thuế với các cơ quan thi hành pháp luật khác

Khi thực hiện công tác cưỡng chế thuế đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa

cơ quan thuế với các cơ quan, ban, ngành chức năng như: kho bạc, công an,viện kiểm sát… Việc cưỡng chế thuế có liên quan đến lợi ích của người nộpthuế, do vậy, đòi hỏi những thủ tục pháp lý chặt chẽ liên quan đến chức tráchcủa nhiều cơ quan khác nhau Bởi vậy, việc phối hợp chặt chẽ giữa cơ quanthuế với các cơ quan nhà nước khác là tất yếu, qua đó, đảm bảo hiệu lực vàhiệu quả của cưỡng chế thuế

1.2.3 Vai trò của công tác cưỡng chế thuế

Cưỡng chế thuế căn cứ vào số liệu nợ từ công tác quản lý nợ để tácđộng vào tình hình tuân thủ của đối tượng nộp thuế một cách phù hợp và tiếtkiệm chi phí tối đa Chính vì vậy, cưỡng chế thuế có vai trò tích cực trongviệc đảm bảo việc quản lý thuế nói chung và quản lý nợ nói riêng đạt hiệuquả, vai trò của công tác cưỡng chế thuế được thể hiện như sau:

Thứ nhất, cưỡng chế thuế là biện pháp nhằm đảm bảo người nộp thuế

thực hiện nghiêm luật thuế, đồng thời đảm bảo thu đủ, thu đúng, thu kịp thờitiền thuế cho Nhà nước

Trang 17

Thứ hai, cưỡng chế thuế đảm bảo công bằng trong thực hiện nghĩa vụ

thuế Bên cạnh những người nộp thuế chấp hành tốt pháp luật thuế, thực hiện

kê khai nộp thuế đúng thời hạn thì không ít người nộp thuế có hiện tượng chây

ỳ, dây dưa, cố tình trốn hoặc tránh nghĩa vụ nộp thuế, nộp tiền phạt vào NSNN.Tuy cơ quan thuế đã thực hiện nhiều biện pháp quản lý nợ nhưng do nhiềunguyên nhân khác nhau như các biện pháp còn chưa thực sự phù hợp, chế tàichưa đủ mạnh nên chưa thu hồi đủ số tiền thuế còn nợ vào NSNN, gây ra tìnhtrạng cạnh tranh không lành mạnh, bình đẳng giữa các đối tượng nộp thuế, giữacác thành phần kinh tế Chính vì vậy, việc thu nợ bằng các biện pháp cưỡngchế đóng vai trò quan trọng trong quá trình chống thất thu thuế của NSNN,đảm bảo sự công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế của đối tượng nộp thuế, gópphần thực hiện thu đủ, thu đúng, thu kịp thời số tiền thuế nộp vào NSNN

Thứ ba, cưỡng chế thuế góp phần nâng cao ý thức về nghĩa vụ thuế

của người nộp thuế trong việc chấp hành pháp luật thuế, góp phần giảmthiểu số nợ đọng và thực hiện công bằng về nghĩa vụ thuế giữa nhữngngười tham gia nộp thuế

1.2.4 Yêu cầu đối với công tác cưỡng chế thuế

Cũng như công tác quản lý nợ, công tác cưỡng chế thuế chỉ đạt được hiệuquả khi xác định đúng mục tiêu và phải đảm bảo các yêu cầu cụ thể như sau:

Thứ nhất, cưỡng chế thuế phải đảm bảo tính hiệu lực của pháp luật nhà

nước Yêu cầu này đòi hỏi khi ban hành các quyết định cưỡng chế thuế phảiđảm bảo được thực hiện thống nhất từ cấp trung ương đến cấp địa phương

Thứ hai, cưỡng chế thuế phải đảm bảo tính hiệu quả của cơ quan quản

lý thuế Có nghĩa là khi thực hiện một quyết định cưỡng chế thuế thì cơ quanthuế phải đảm bảo chi phí thực hiện cưỡng chế là tối thiểu Muốn thực hiệnđược yêu cầu này, đòi hỏi trước khi ban hành các quyết định về cưỡng chếthuế cần tính đến các yếu tố có thể ảnh hưởng đến công tác thực hiện cưỡngchế như thời gian cưỡng chế, địa điểm thi hành, hình thức cưỡng chế… để

Trang 18

công tác cưỡng chế đạt hiệu quả nhất Bên cạnh đó, cơ quan thuế cần cânnhắc kỹ lưỡng từng trường hợp nợ thuế và xác định trường hợp nào thực hiệnbiện pháp cưỡng chế nào là hợp lý.

Thứ ba, cưỡng chế thuế phải đảm bảo tính tuân thủ pháp luật của người

nộp thuế, thông qua cưỡng chế thuế góp phần nâng cao tính hiệu quả của phápluật đồng thời góp phần răn đe, nâng cao ý thức tuân thủ của đối tượng nộp thuế

1.3 Mối quan hệ giữa quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế

Quản lý nợ và cưỡng chế thuế là hai phạm trù hoàn toàn khác biệtnhưng chúng có mối quan hệ mật thiết, tương hộ và bổ sung cho nhau Côngtác quản lý thuế chỉ đạt hiệu quả cao khi mà công tác quản lý nợ và cưỡng chếthuế thực hiện thống nhất và phù hợp bổ sung cho nhau đảm bảo thu đủ, thuđúng tiền thuế vào NSNN Mối quan hệ này thể hiện qua một số khía cạnh sau:

Quản lý nợ là cơ sở để cơ quan thuế lựa chọn và thực hiện các biệnpháp cưỡng chế hiệu quả Thông qua các phương pháp phân loại nợ thì cơquan thuế có thể xác định được những khoản nợ cần tập trung để thu nợ.Đồng thời, trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp cưỡng chế phù hợp với từng đốitượng nợ thuế, chẳng hạn như có những trường hợp qua phân loại nợ nhậnthấy các khoản nợ thông thường chưa cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế,hoặc qua phân loại nợ xác định được những khoản nợ khó thu thì cần áp dụngcác biện pháp cưỡng chế như: trích tiền gửi ngân hàng, tổ chức tín dụng…nhằm mục đích thu đủ tiền thuế vào NSNN

Quản lý nợ thuế tốt sẽ dẫn đến việc đôn đốc thu nợ của cơ quan thuếđối với người nợ thuế phát huy hiệu quả sẽ làm cho số lượng các khoản nợthông thường giảm, khi số lượng nợ chuyển sang khó thu giảm đi, nó sẽ tácđộng trực tiếp đến khối lượng công việc cưỡng chế thuế, từ đó chi phí cưỡngchế thuế giảm Đồng thời, đạt được yêu cầu đặt ra đối với công tác cưỡng chếthuế là tính hiệu quả khi chi phí cưỡng chế thuế của cơ quan thuế là thấp nhất

và hiệu quả thu nợ là tối đa

Trang 19

Ngược lại, công tác cưỡng chế thuế được thực hiện có hiệu quả sẽ trựctiếp làm cho số nợ tiền thuế giảm và số lượng các khoản nợ đang theo dõi ở

cơ quan thuế cũng sẽ giảm Khi đó, cơ quan thuế có điều kiện để tập trungnguồn lực vào các công tác khác như: tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế;tăng cường công tác thanh tra – kiểm tra…

Tóm lại, công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế có mối quan hệ tácđộng qua lại với nhau, bổ sung cho nhau cùng phát triển để đạt hiệu quả cao

Do vậy, trên thực tế việc nghiên cứu nâng cao hiệu quả quản lý nợ thuế cũngchính là để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của công tác cưỡng chế thuế, gópphần nâng cao năng lực quản lý thuế nói chung

1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế

Công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế trong quá trình thực hiệnthường bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan nhấtđịnh

1.4.1 Nhóm yếu tố chủ quan

Nhóm yếu tố này chủ yếu xuất phát từ phía cơ quan quản lý thuế, cụthể như sau:

Thứ nhất, quy trình quản lý nợ của cơ quan thuế Quy trình quản lý nợ

hợp lý hay không hợp lý sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công tác quản

lý nợ thuế vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến thao tác nghiệp vụ của cán bộ thuế

Thứ hai, các công cụ hỗ trợ quản lý thuế như hệ thống phần mềm hỗ trợ

về kê khai kế toán thuế, quản lý nợ thuế cũng là yếu tố quan trọng tác độngđến công tác quản lý nợ

Thứ ba, chính sách, pháp luật là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến công

tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế Chính sách, pháp luật phải đồng bộ, phùhợp với tình hình thực tế Trong trường hợp người nộp thuế không có khảnăng nộp thuế, nợ đọng kéo dài nhưng cơ quan thuế vẫn tính phạt nộp chậm

Trang 20

lại càng làm cho số nợ đọng tăng lên, sẽ càng làm cho việc quản lý thu nợ gặpnhiều khó khăn Khi đó việc đánh giá hiệu quả công tác quản lý nợ và cưỡngchế thuế lại càng không chính xác.

Thứ tư, trình độ nghiệp vụ của cán bộ làm công tác quản lý nợ và

cưỡng chế thuế Con người luôn là nhân tố quyết định đến mọi thành bại củaquản lý Quản lý nợ và cưỡng chế thuế cũng không nằm ngoài quy luật này

1.4.2 Nhóm yếu tố khách quan

Thứ nhất, tình hình kinh tế xã hội có ảnh hưởng nhất định đến công tác

quản lý nợ và cưỡng chế thuế Giả sử khi tỷ lệ lạm phát tăng cao, khi đóChính phủ sẽ phải thực hiện các chính sách tiền tệ thắt chặt, áp dụng mức lãisuất tín dụng cao sẽ làm cho giá cả các mặt hàng, nguyên liệu đầu vào tăng.Điều này sẽ làm cho chi phí sản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp tănglàm cho hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp giảm nhiều, dẫn đến nhiều doanhnghiệp gặp khó khăn về vốn không có khả năng nộp thuế đúng thời hạn hoặc

cố tình chây ỳ nộp thuế dù biết có thể bị phạt chậm nộp từ phía cơ quan thuế

Thứ hai, sự phối hợp của các cơ quan hữu quan với cơ quan thuế trong

công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế cũng rất quan trọng Chẳng hạn như,trường hợp cung cấp số dư tài khoản tiền gửi ngân hàng, hoặc tại một số địaphương, ủy ban nhân dân nếu không quan tâm chỉ đạo sát sao các cơ quanchức năng trong công tác phối hợp với cơ quan thuế để đôn đốc, cưỡng chế

nợ thì cũng làm cho công tác thu nợ gặp nhiều khó khăn

Thứ ba, đặc điểm của nền kinh tế cũng là một yếu tố tác động đến công

tác đôn đốc thu nợ và cưỡng chế thuế Theo thống kê của các nhà nghiên cứu

về thuế thì nền kinh tế lạc hậu thì ý thức tuân thủ pháp luật của người nộpthuế thường không cao ý thức tuân thủ pháp luật của đối tượng nộp thuế cũng

là một yếu tố tác động quan trọng đến hiệu quả công tác quản lý nợ và cưỡngchế thuế Giả sử ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật của đối tượng nộp thuế

Trang 21

không tốt, cố tình dây dưa chây ỳ không nộp thuế, hoặc trường hợp do chínhsách quy định chưa rõ thì đối tượng nộp thuế sẽ cố tình áp dụng tính thuế sai,khi cơ quan thuế phát hiện ra truy thu thì lại khiếu nại, cố tình không nộp…

1.5 Quy trình quản lý nợ và cưỡng chế thuế

1.5.1 Quy trình quản lý nợ thuế

Toàn bộ nội dung và quy trình quản lý nợ thuế áp dụng cho cấp cụcthuế hiện hành ở Việt Nam thể hiện khái quát qua sơ đồ sau:

- Phân công công chức quản lý nợ

- Phân loại nợ và lập sổ theo dõi nợ

- Thực hiện các biện pháp đôn đốc thu nợ

- Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch thu nợ

Sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu các nội dung cụ thể của quy trình quản

lý nợ thuế có liên quan trực tiếp đến công việc của cục thuế

Bước 1: Lập kế hoạch thu nợ

(1.1) Xây dựng chương trình, chỉ tiêu, biện pháp quản lý thu nợ

Trang 22

Cục thuế căn cứ vào chỉ đạo, hướng dẫn của Tổng cục Thuế và tìnhhình thực tế quản lý nợ thuế ở địa phương để xây dựng chương trình, chỉ tiêu,biện pháp quản lý thu nợ thuế năm sau của toàn cục thuế, có văn bản chỉ đạo,hướng dẫn chi cục thuế thực hiện trong tháng 12 hàng năm.

Cục thuế tổng hợp chương trình, chỉ tiêu, biện pháp quản lý thu nợ củacục thuế gửi về Tổng cục Thuế trước ngày 20 tháng Giêng hàng năm

(1.2) Điều chỉnh chương trình, chỉ tiêu, biện pháp thu nợ năm

Trong quá trình thực hiện chương trình, chỉ tiêu, biện pháp thu nợ năm,cục thuế có thể điều chỉnh chương trình, chỉ tiêu, biện pháp thu nợ năm nếu

có các nguyên nhân ảnh hưởng đến việc thực hiện chương trình, chỉ tiêu, biệnpháp thu nợ năm Cục thuế phải gửi văn bản điều chỉnh, trong đó nêu rõ nộidung cần điều chỉnh, lý do điều chỉnh gửi về Tổng cục Thuế Thời gian điềuchỉnh chương trình, chỉ tiêu, biện pháp thu nợ năm, trước ngày 30/9 năm thực

hiện

Bước 2: Thực hiện quản lý nợ và xử lý thu nợ

(2.1) Phân công công chức quản lý nợ

Căn cứ chức năng nhiệm vụ của bộ phận quản lý nợ và cưỡng chế thu

nợ thuế các cấp, phụ trách bộ phận phân công công việc cho từng công chức

để thực hiện công tác quản lý nợ ở mỗi bộ phận quản lý nợ có bộ phận tổnghợp và bộ phận trực tiếp quản lý người nợ thuế (do trưởng bộ phận quản lý nợcác cấp phân công)

(2.2) Phân loại nợ và lập sổ theo dõi nợ thuế

Căn cứ vào tiêu thức phân loại nợ theo quy định của Tổng cục, côngchức quản lý nợ thực hiện rà soát từng trường hợp nợ của từng người nợ thuếcòn nợ thuế tháng trước chuyển sang và nợ mới phát sinh tháng này theonguyên nhân, tình trạng và tuổi nợ để phân loại các khoản nợ Công chức thựchiện việc phân loại phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của việc phân loạinợ

Trang 23

Sau khi phân loại nợ, công chức quản lý nợ cập nhật kết quả phân loại

nợ vào Sổ theo dõi nợ thuế của từng người nợ, chuyển cho bộ phận tổng hợp

để tổng hợp nợ của toàn bộ phận

Căn cứ vào Sổ theo dõi thu nộp thuế của cơ quan thuế, công chức quản

lý nợ phải tiến hành lập và mở sổ theo dõi nợ thuế theo từng người nợ thuế đểghi chép, phản ánh toàn bộ tình hình nợ thuế của người nợ thuế từ bộ phận kêkhai và kế toán thuế chuyển sang Sổ theo dõi nợ thuế được lập theo từngtháng Hàng tháng vào ngày làm việc cuối cùng của tháng, căn cứ Sổ theo dõi

nợ thuế, công chức quản lý nợ phải kết chuyển sổ theo dõi nợ sang tháng sau

Sau ngày 10 hàng tháng, bộ phận quản lý nợ được giao nhiệm vụ tổnghợp công tác quản lý thu nợ của cục thuế, chi cục thuế phải lập Sổ tổng hợptheo dõi nợ thuế Bộ phận quản lý nợ của cục thuế tổng hợp chung toàn cục,đồng thời in và lưu Sổ tổng hợp theo dõi nợ thuế tại bộ phận quản lý nợ

(2.3) Đôn đốc thu nợ thuế

- Thông báo nộp thuế

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định nộp thuế theotừng sắc thuế, cơ quan thuế tiến hành đôn đốc nộp thuế bằng hình thức gọiđiện thoại hoặc phát hành Thông báo nộp thuế

- Thông báo nợ thuế và phạt chậm nộp thuế

Hàng tháng, bộ phận quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế căn cứ Sổ theodõi nợ thuế tháng trước và kết quả phân loại nợ, lập thông báo tiền nợ thuế vàtiền phạt chậm nộp đối với các khoản nợ có tuổi nợ trên 30 ngày gửi cho người

nợ thuế Đối với khoản nợ chờ xử lý, nợ khó thu của người nộp thuế bỏ trốn, mấttích, giải thể, phá sản thì tạm thời chưa phát hành thông báo phạt chậm nộp, khi

có kết quả xử lý xác định chính xác số nợ thuế, người nộp thuế hoạt động kinhdoanh trở lại sẽ phát hành thông báo nợ thuế và tiền phạt chậm nộp

Việc thông báo chậm nộp thuế và phạt chậm nộp thuế được thực hiệnsau 30 ngày kể từ hết hạn nộp thuế của từng loại thuế

Trang 24

Trong thời gian từ ngày thứ 31 đến ngày thứ 90 kể từ ngày hết thời hạnnộp thuế theo quy định, cơ quan thuế đã ra thông báo báo tiền thuế nợ và tiềnphạt chậm nộp mà người nợ thuế vẫn chưa nộp tiền thuế vào NSNN thì côngchức quản lý nợ cần liên hệ với người nộp thuế để nắm thông tin về tình hìnhsản xuất kinh doanh, tình hình tài chính, nguyên nhân dẫn đến tình trạngchậm nộp tiền thuế, báo cáo với phụ trách bộ phận quản lý nợ và cưỡng chế

nợ thuế và có thể mời người nợ thuế lên làm việc tại cơ quan thuế lập biênbản ghi nhận kết quả làm việc và cam kết nộp thuế

Sau thời hạn 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp mà người nợ thuế chưa nộptiền nợ thuế và tiền phạt chậm nộp hoặc nộp chưa đủ số thuế còn thiếu thì cơ quanthuế sẽ tiến hành các biện pháp cưỡng chế nợ thuế theo quy định của pháp luật

(2.4) Phân tích, đánh giá và xử lý thu nợ

Căn cứ vào Sổ theo dõi nợ thuế, công chức được phân công theo dõi vàquản lý nợ phải thực hiện các công việc sau:

a Đối với nhóm nợ khó thu

Căn cứ vào Sổ theo dõi nợ thuế, công chức được phân công theo dõi vàquản lý các trường hợp thuộc nhóm nợ khó thu phải thực hiện các công việc

cụ thể cho từng trường hợp nợ như sau:

Đối với nợ của người nợ thuế lâm vào tình trạng giải thể, phá sản, nhưng chưa tuyên bố giải thể, phá sản: công chức quản lý nợ lập hồ sơ trình

lãnh đạo cơ quan thuế yêu cầu người nợ thuế giải trình về việc chưa nộp đượctiền thuế, tiền phạt Đồng thời, gửi thông báo tới các cơ quan chức năng liênquan về tình trạng nợ thuế để được xử lý theo quy định của luật Luật Doanhnghiệp, Luật Phá sản, kiến nghị các biện pháp cưỡng chế thu hồi nợ

Đối với nợ của người nợ thuế đã có quyết định giải thể hoặc tuyên bố phá sản: công chức quản lý nợ thu thập thông tin, hồ sơ, chứng từ, thủ tục phá

sản của người nợ thuế Khi có quyết định của toà án thì thực hiện thủ tục thuhồi, xử lý nợ theo quyết định của toà án

Trang 25

Đối với nợ của người đã bỏ trốn, mất tích: công chức quản lý nợ lập hồ

sơ trình lãnh đạo cơ quan thuế kiến nghị biện pháp thu hồi nợ thuế, biện phápcưỡng chế thuế hoặc các biện pháp xử lý nợ khác

Đối với nợ của người nợ thuế đang bị khởi tố hoặc đang chấp hành án phạt tù: Công chức quản lý nợ lập hồ sơ trình lãnh đạo cơ quan thuế tình trạng

nợ thuế của người nợ thuế, đồng thời gửi các cơ quan chức năng liên quan đểthông báo về tình trạng nợ thuế để được xử lý khi có kết luận của cơ quanpháp luật hoặc theo bản án của Toà án Công chức quản lý nợ lập hồ sơkhoanh nợ, theo dõi riêng Khi có kết luận của cơ quan điều tra, quyết địnhcủa Toà án thì thực hiện thủ tục thu hồi nợ thuế hoặc lập hồ sơ xoá nợ

Đối với nợ của người nợ thuế ngừng và tạm ngừng hoạt động kinh doanh: Sau khi đã làm đầy đủ các thủ tục cần thiết theo quy định của pháp

luật nhưng vẫn không thu hồi được nợ và xác định các khoản nợ đó không cókhả năng thu hồi thì làm hồ sơ đề nghị xoá nợ

Các trường hợp đã có quyết định hoặc chứng từ xử lý nợ phải được ghi

sổ theo dõi nợ thuế của từng người nợ thuế, đồng thời chuyển cho bộ phận kêkhai và kế toán thuế để thực hiện ghi sổ theo dõi thu nộp thuế của từng người

nợ thuế và lưu hồ sơ người nợ thuế theo qui định

Công chức quản lý nợ phải ghi lại thời gian đã thực hiện các biện pháp

xử lý vào sổ nhật ký đôn đốc thu nợ của từng người nợ thuế

b Đối với nhóm nợ chờ xử lý

Đối với nhóm nợ chờ xử lý, có hai phần việc phải thực hiện Thứ nhất, hướng dẫn người nợ thuế lập và hoàn chỉnh hồ sơ đề nghị xử lý nợ Thứ hai,

theo dõi, cập nhật các kết quả xử lý nợ

c Đối với nhóm nợ có khả năng thu

Đối với nhóm nợ này, cần thực hiện hai nội dung công việc sau:

Thứ nhất, lập kế hoạch phải thu nợ trong kỳ.

Hàng tháng, trên cơ sở công việc được phân công, công chức thuộc bộphận quản lý nợ cấp cục thuế căn cứ vào tình hình nợ và sổ theo dõi nợ của

Trang 26

người nợ thuế để xác định danh sách người nợ thuế phải thực hiện các biệnpháp thu nợ trong kỳ Danh sách phải được gửi cho phụ trách bộ phận quản lý

nợ và cưỡng chế nợ thuế để báo cáo

Thứ hai, lập nhật ký thu nợ.

Công chức được phân công thu nợ phải lập Nhật ký theo dõi thu nợtrước khi tiến hành đôn đốc thu nợ Nhật ký phải được lập riêng cho từngngười nộp thuế, để theo dõi từng khoản nợ thuế phải đôn đốc thu và ghi chéptất cả các biện pháp đôn đốc thu đối với từng khoản nợ vào nhật ký ngay saukhi thực hiện biện pháp thu nợ

d Thực hiện các biện pháp xử lý nợ khác theo pháp luật

Các trường hợp nợ thuế được áp dụng biện pháp thu nợ nêu trên, nếungười nợ thuế không nộp nợ thuế đúng hạn, cơ quan thuế xem xét nguyênnhân để xử lý theo pháp luật như: Xem xét gia hạn nộp thuế, thực hiện biệnpháp thu nợ đối với trường hợp người nộp thuế được hoàn trả tiền thuế; điềuchỉnh thứ tự thu nợ thuế, tiền phạt chậm nộp; thực hiện các biện pháp cưỡngchế thu tiền nợ thuế, tiền phạt

(2.5) Lưu hồ sơ

Hồ sơ liên quan đến công tác quản lý thu nợ được lưu theo từng người

nợ thuế và theo từng đơn vị quản lý

Hồ sơ về tình hình nợ thuế của người nợ thuế gồm: Sổ theo dõi nợ thuếhàng tháng, thông báo tiền thuế nợ và tiền phạt chậm nộp tiền thuế, các quyếtđịnh, thông báo áp dụng các biện pháp thu nợ và xử lý nợ, các giấy tờ, sổsách, tài liệu khác liên quan đến tình hình nợ thuế của ngưòi nộp thuế

Hồ sơ về công tác quản lý thu nợ của đơn vị quản lý gồm: các sổ theodõi tình hình nợ thuế hàng tháng, nhật ký đôn đốc nợ, các báo cáo của đơn vị

và báo cáo tổng hợp về tình hình nợ thuế

Bước 3: Báo cáo kết quả thực hiện công tác thu nợ

(3.1) Lập báo cáo

Trang 27

Định kỳ hàng tháng, quý, năm, bộ phận thực hiện quản lý nợ tại cụcthuế căn cứ chương trình, chỉ tiêu, biện pháp quản lý nợ, sổ theo dõi nợ thuế

và kết quả thực hiện công tác quản lý thu nợ trong kỳ, lập các báo cáo sau:Báo cáo chỉ tiêu quản lý thu nợ thuế, Báo cáo tổng hợp phân loại nợ thuế, Báocáo tổng hợp xoá nợ thuế

Thời hạn lập và gửi báo cáo về Tổng cục Thuế như sau:

- Báo cáo chỉ tiêu quản lý thu nợ thuế lập và gửi một năm một lần vàotrước ngày 20/1 hàng năm

- Báo cáo tổng hợp xoá nợ thuế lập và gửi theo quý và cả năm Báocáo quý gửi trước ngày 20 tháng đầu quý sau, báo cáo năm gửi trước ngày20/1 năm sau

- Báo cáo tổng hợp phân loại nợ thuế lập và gửi hàng tháng vào trướcngày 20 tháng sau

(3.2) Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch thu nợ hàng quý và năm

Căn cứ tình hình nợ thuế và kết quả công tác quản lý thu nợ thuế từngquý và từng năm, chi cục thuế và bộ phận quản lý nợ của cục thuế phải lậpbáo cáo đánh giá kết quả thực hiện các biện pháp, chỉ tiêu kế hoạch thu nợ đãđược giao gửi cơ quan thuế cấp trên

Cục thuế lập Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch quản lý thu

nợ quý gửi về Tổng cục Thuế chậm nhất ngày 20 tháng đầu quý sau

Cục thuế lập Báo cáo chỉ tiêu quản lý thu nợ thuế, Báo cáo đánh giá kếtquả thực hiện kế hoạch quản lý thu nợ năm gửi về Tổng cục Thuế chậm nhấtngày 20 tháng đầu năm sau

1.5.2 Trình tự áp dụng các biện pháp cưỡng chế thuế hiện hành ở Việt Nam

Theo quy định hiện hành của Luật Quản lý thuế, nguyên tắc áp dụngcác biện pháp cưỡng chế thuế là phải áp dụng lần lượt các biện pháp cưỡngchế, nếu không đủ điều kiện để áp dụng biện pháp thứ nhất thì mới áp dụng

Trang 28

biện pháp thứ hai, và cứ như thế cho đến hết; không được tùy tiện bỏ qua biệnpháp trước để tiến hành các biện pháp sau.

Để thực hiện cưỡng chế thuế, cơ quan thuế hoặc cơ quan nhà nước cóthẩm quyền phải ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hànhchính thuế Quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế baogồm các nội dung chủ yếu sau: ngày, tháng, năm ra quyết định; căn cứ raquyết định cưỡng chế; họ tên, chức vụ, đơn vị người ra quyết định cưỡng chế;

họ tên, nơi cư trú, trụ sở của đối tượng bị cưỡng chế; lý do, biện pháp cưỡngchế; thời gian, địa điểm thực hiện cưỡng chế; cơ quan chủ trì thực hiện quyếtđịnh cưỡng chế; cơ quan có trách nhiệm phối hợp; chữ ký của người ra quyếtđịnh; dấu của cơ quan ra quyết định cưỡng chế

Quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế phải đượcgửi cho đối tượng bị cưỡng chế và tổ chức, cá nhân có liên quan trong thờihạn 05 ngày làm việc trước khi thực hiện cưỡng chế; quyết định cưỡng chếphải được gửi cho cơ quan thuế cấp trên trực tiếp; trường hợp cưỡng chế bằngbiện pháp kê biên tài sản thì quyết định phải được gửi cho Chủ tịch ủy bannhân dân xã, phường, thị trấn nơi thực hiện cưỡng chế trước khi thực hiện

Quyết định cưỡng chế hành chính thuế có hiệu lực thi hành trong thờihạn 01 năm, kể từ ngày ra quyết định Trường hợp cá nhân, tổ chức bị cưỡngchế cố tình trốn tránh, trì hoãn thi hành quyết định cưỡng chế thì thời hiệu thihành được tính lại kể từ thời điểm hành vi trốn tránh, trì hoãn được chấm dứt

Các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế chấm dứthiệu lực kể từ khi tiền thuế, tiền phạt bị cưỡng chế đã được nộp đủ vào ngânsách nhà nước Căn cứ để chấm dứt hiệu lực của quyết định cưỡng chế thuế làchứng từ nộp đủ tiền thuế, tiền phạt vào ngân sách nhà nước của người bịcưỡng chế có xác nhận của cơ quan Kho bạc Nhà nước hoặc cơ quan đượcphép thu thuế, ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác trích tiền từ tàikhoản của đối tượng bị cưỡng chế

Trang 29

Nói tóm lại, qua việc nghiên cứu những vấn đề chung về công tác quản

lý nợ thuế và cưỡng chế thuế chúng ta có thể rút ra kết luận là: hành vi nợthuế là một hành vi vi phạm pháp luật thuế, là một trong những nguyên nhângây thất thu cho NSNN, gây mất công bằng xã hội, tạo tâm lý coi thườngpháp luật thuế đối với những đối tượng nộp thuế Đồng thời chúng ta cũngphân biệt được hành vi nợ thuế và hành vi trốn thuế để xác định tầm nghiêmtrọng của vấn đề này để có những biện pháp quản lý phù hợp

Do vậy, để đảm bảo nguồn thu cho NSNN, đảm bảo công bằng xã hộiđòi hỏi phải quản lý nợ thuế một cách chặt chẽ Và thực tế hiện nay chothấycông tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế của cơ quan thuế là công tácquan trọng trong công tác quản lý thuế nhằm tăng cường quản lý nợ thuế, từ

đó đảm bảo thu đủ, thu đúng, thu kịp thời cho NSNN, đồng thời nâng cao ýthức tuân thủ pháp luật của đối tượng nộp thuế

Trang 30

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ VÀ CƯỠNG CHẾ

THUẾ TẠI CỤC THUẾ HẢI DƯƠNG

2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Hải Dương và cơ cấu tổ chức Cục thuế Hải Dương

 Bối cảnh kinh tế - xã hội

Hải Dương là một tỉnh nằm ở phía đông Bắc Bộ, phía đông giáp HảiPhòng, phía bắc giáp Bắc Giang, phía đông nam giáp Thái Bình và HưngYên, phía Tây giáp Hưng Yên và Bắc Ninh Diện tích tự nhiên của tỉnh vàokhoảng 1652,8 km2, đồng thời theo số liệu thống kê dân số của tỉnh khoảng

1750 nghìn người

Cùng với tình hình kinh tế xã hội cả nước, những năm vừa qua tỉnh HảiDương cũng gặp phải khó khăn do khủng hoảng kinh tế Các doanh nghiệptrên địa bàn tỉnh do Cục thuế trực tiếp quản lý hiện nay vào khoảng 900doanh nghiệp Số lượng các doanh nghiệp trong thời gian vừa qua tăng tươngđối nhanh, song do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế nên dù tăngnhanh về lượng nhưng về mặt chất vẫn còn nhiều hạn chế Hoạt động sản xuấtkinh doanh của các doanh nghiệp do Cục thuế Hải Dương quản lý cũng chungtình trạng với các doanh nghiệp trên toàn quốc: kết quả kinh doanh khôngcao, sản xuất gặp nhiều khó khăn do giá cả hàng hóa dịch vụ tăng cao Trướctình hình đó, Chính phủ cũng đã để ra các giải pháp nhằm ngăn ngừa suygiảm kinh tế, trong đó có biện pháp giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệpcho các doanh nghiệp vừa và nhỏ và những doanh nghiệp gặp khó khăn trongquý IV năm 2008; 70% số thuế thu nhập doanh nghiệp còn lại thực hiện giahạn nộp thuế 9 tháng Đây là biện pháp tích cực nhằm giúp các doanh nghiệpthoát ra khỏi tình trạng khó khăn, tiếp tục quá trình sản xuất Tuy nhiên, đốivới các doanh nghiệp do Cục thuế Hải Dương trực tiếp quản lý chủ yếu là các

Trang 31

doanh nghiệp lớn nên không được hưởng chính sách này của Chính phủ Dovậy, trước những khó khăn về mặt kinh tế, các doanh nghiệp do Cục thuế HảiDương trực tiếp quản lý đã gia tăng những hành vi dây dưa, chậm nộp tiềnthuế nhằm sử dụng số tiền đó làm vốn kinh doanh, làm cho số nợ thuế do Cụcthuế Hải Dương quản lý tăng lên rõ rệt trong những năm gần đây, gây khókhăn cho công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế tại Cục thuế Tuy nhiên, với

bộ máy tổ chức hợp lý và khả năng chuyên môn nghiệp vụ của công chức tạiCục thuế thì công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế đã đạt được kết quả đángkhả quan

 Tổ chức bộ máy Cục thuế Hải Dương

Cục thuế Hải Dương có 11 phòng chức năng, gồm: Phòng Hành chính Quản trị - Tài vụ - Ấn chỉ, Phòng Kê khai và kế toán thuế, Phòng Tin học,Phòng Tuyên truyền - Hỗ trợ người nộp thuế, Phòng Thuế thu nhập cá nhân,Phòng Kiểm tra thuế số 1, Phòng Kiểm tra thuế số 2, Phòng Quản lý nợ vàcưỡng chế thuế, Phòng Thanh tra, Phòng Tổng hợp nghiệp vụ dự toán, Phòng

-Tổ chức - cán bộ

Bộ phận trực tiếp chịu trách nhiệm quản lý nợ thuế và giúp việc choCục trưởng trong tổ chức thực hiện các biện pháp cưỡng chế thuế là PhòngQuản lý nợ và cưỡng chế thuế Phòng có 7 cán bộ, công chức thực hiện côngtác quản lý nợ và cưỡng chế thuế theo việc phân công nhiệm vụ cụ thể củaphòng nói riêng và của Cục thuế Hải Dương nói chung

2.2 Thực trạng công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế ở Cục thuế Hải Dương

2.2.1 Thực trạng công tác quản lý nợ thuế tại Cục thuế Hải Dương

Tổng số thu ngân sách hàng năm của Cục thuế Hải Dương đều hoànthành vượt dự toán, năm sau cao hơn năm trước Tuy nhiên, cùng với sự pháttriển của nền kinh tế và tăng lên của nguồn thu NSNN thì số thuế nợ đọng quacác năm cũng tăng theo, thể hiện cụ thể qua biểu sau:

Trang 32

Biểu 2.1: Tổng hợp nợ thuế giai đoạn 2005 – 2009

Đơn vị tiền: triệu đồng

Tổng số thuế ghi thu 1.005.061 1.046.940 1.410.276 1.705.535 1.942.479

[Nguồn: Cục thuế Hải Dương]

Qua biểu trên cho thấy, bên cạnh số ghi thu vào NSNN liên tục tăng lênthì số thuế nợ đọng do Cục thuế Hải Dương quản lý cũng tăng lên và năm saucao hơn năm trước về số tuyệt đối Đặc biệt, năm 2008 tốc độ tăng nợ thuế sovới năm 2007 là 31,2%, trong khi tốc độ tăng số ghi thu thuế năm 2008 sovới năm 2007 chỉ là 20,9% Nguyên nhân khách quan chủ yếu của tình hìnhnày là do năm 2008 tình hình kinh tế gặp khó khăn, tỷ lệ lạm phát cao, giá cảhàng hóa, dịch vụ leo thang gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh;

do vậy, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nênảnh hưởng trực tiếp đến số thu vào NSNN Bên cạnh đó, do hoạt động sảnxuất kinh doanh gặp khó khăn nên các doanh nghiệp đều có xu hướng chiếmdụng tiền thuế để làm vốn kinh doanh nên làm cho tốc độ nợ thuế tăng cao

Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng, cơ cấu nợ thuế do Cục thuế HảiDương không đồng đều và có sự chênh lệch lớn giữa các loại nợ thuế Điềunày được thể hiện rõ qua các bảng và biểu số liệu sau:

Trang 33

Bảng 2.1: Cơ cấu nợ thuế theo khu vực giai đoạn 2005-2009

Trang 34

Biểu 2.2: Cơ cấu tỷ lệ nợ thuế theo khu vực giai đoạn 2005-2009

[Nguồn: Cục thuế Hải Dương]

Các bảng và biểu số liệu trên cho thấy, nợ của khối doanh nghiệp nhànước do Cục thuế Hải Dương quản lý từ năm 2005 đến 2009 đã có chiềuhướng giảm, cụ thể nợ của khối này năm 2005 là 105.368,5 triệu đồng chiếm70,5 % tổng nợ thuế cả năm nhưng đến năm 2009 thì nợ thuế của khu vực này

đã giảm xuống chỉ còn 59.915,2 triệu đồng, chiếm 26,03% tổng nợ của cảnăm Mặc dù nợ thuế của khu vực này đã giảm cả về lượng và tỷ trọng nhưng

số nợ vẫn còn nhiều và chiếm tỷ trọng cũng không nhỏ trong tổng nợ thuế của

cả năm Tuy nhiên, xu hướng tăng rõ rệt nhất về số nợ thuế của doanh nghiệpngoài quốc doanh, tăng nhanh cả về lượng và tỷ trọng Năm 2007 nợ của khuvực này chiếm 48,3% tổng nợ cả năm và tăng so với năm 2006 là 495,8%,năm 2008 nợ của khối này chiếm 59,4% tổng nợ cả năm và tăng so với năm

2007 là 161,3% và cho đến năm 2009 thì số nợ của khối doanh nghiệp ngoàiquốc doanh đã chiếm tỷ trọng 66,8% tổng nợ của cả năm và tăng so với năm

Trang 35

2008 là 127% Như vậy, chỉ tính riêng tỷ lệ nợ của 2 khối doanh nghiệp này

đã chiếm khoảng gần 80% tổng số nợ cả năm Do vậy, đòi hỏi Phòng Quản

lý nợ và cưỡng chế thuế của Cục thuế Hải Dương khi áp dụng các biện phápđôn đốc thu nợ cần đặc biệt quan tâm đến hai khối doanh nghiệp này thì sẽđem lại hiệu quả cao trong công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế

Mặt khác, khi xem các bảng và biểu số liệu trên cho thấy sự chuyểnbiến tích cực của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, thểhiện ở tỷ lệ nợ thuế giảm dần qua từng năm, số nợ thuế năm 2008 giảm 22%,năm 2009 giảm 20,8% xuống chỉ còn 12.494,4 triệu đồng Điều này cho thấy,

ý thức tuân thủ pháp luật thuế của khu vực này đã được nâng cao hơn so vớikhối doanh ngoài quốc doanh

Bên cạnh việc nghiên cứu số thuế nợ theo khu vực thì để tạo điềukiện cho công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế, cần xem xét số nợ thuế

đó chủ yếu tập trung ở loại thuế nào Từ đó, giúp cho cơ quan thuế tìmhiểu được nguyên nhân của vấn đề nợ thuế và sẽ đưa ra được những biệnpháp đôn đốc nợ một cách hiệu quả Để làm rõ vấn đề này chúng ta tìmhiểu thông qua hai bảng và biểu số liệu sau:

Bảng 2.2: Cơ cấu nợ thuế theo sắc thuế giai đoạn 2005-2009

Trang 36

Biểu 2.3: Cơ cấu tỷ lệ nợ thuế theo sắc thuế giai đoạn 2005 – 2009

lý thuyết thì loại thuế này sẽ có số nợ đọng không lớn vì khi thanh toán tiềnhàng hóa, dịch vụ xong, người bán hàng phải có nghĩa vụ nộp ngay tiền thuếGTGT vào NSNN chậm nhất là ngày 20 của tháng sau Song trên thực tế lạihoàn toàn khác, người bán hàng hóa, dịch vụ đã chiếm dụng số tiền thuế

Trang 37

GTGT đó bằng cách chưa nộp vào NSNN làm cho số nợ đọng thuế GTGTtăng cao Bảng 2.2 và biểu 2.3 cho thấy, số nợ thuế GTGT năm 2008 tăng50,8% so với năm 2007 Nguyên nhân khách quan chủ yếu của tình hình này

là do năm 2008 do suy thoái, tỷ lệ lạm phát và giá cả tăng cao, sản xuất kinhdoanh gặp nhiều khó khăn, người nộp thuế có xu hướng chiếm dụng tiền thuếchưa nộp vào NSNN để sử dụng cho sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó, chínhsách thắt chặt tín dụng nên một số doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chínhnên tỷ lệ nợ đọng thuế gia tăng

Xét về nợ thuế TNDN – một loại thuế trực thu, trực tiếp đánh vào thunhập của tổ chức, cá nhân kinh doanh Hai bảng và biểu số liệu cho thấy, năm

2009 nợ thuế TNDN tăng 77% so với năm 2008, xuất phát từ cả nguyên nhânchủ quan và nguyên nhân khách quan Nguyên nhân khách quan là do cánhân, tổ chức kinh doanh cố tình chây ỳ không nộp tiền thuế vào NSNN và doviệc sản xuất kinh doanh gặp khó khăn nên họ tạm thời chiếm dụng tiền thuế

để làm vốn sản xuất kinh doanh Nguyên nhân chủ quan chính là công tácquản lý nợ của Cục thuế Hải Dương sẽ được nghiên cứu và trình bày trongphần tiếp theo của Luận văn

Bên cạnh hai sắc thuế GTGT và thuế TNDN thì trong thời gian quatổng số nợ đọng tăng nhanh chóng còn có nguyên nhân quan trọng từ số nợ từkhoản thu tiền sử dụng đất

Ngoài phân loại nợ thuế theo sắc thuế thì hiện nay Cục thuế Hải Dươngcũng căn cứ vào khả năng thu hồi nợ dựa trên những thông tin về người nợthuế theo các tiêu thức đã phân tích, công chức được phân công theo dõi quản

lý nợ, qua đó tiến hành phân loại nợ theo hình thức thuế như: nợ khó thu, nợchờ xử lý và nợ thông thường Việc phân loại này nhằm xác định đượcnguyên nhân, tình trạng, tuổi nợ của từng khoản nợ thuế, qua đó có thể ápdụng các biện pháp quản lý nợ thuế có hiệu quả

Ngày đăng: 19/01/2023, 00:16

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w