1 MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài Trong bối cảnh xu thế hội nhập khu vực và toàn cầu hoá, quốc tế hoá đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, các nước tăng cường hợp tác liên kết và thiết lập quan hệ với nhau Đây[.]
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh xu thế hội nhập khu vực và toàn cầu hoá, quốc tế hoá đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, các nước tăng cường hợp tác liên kết và thiết lập quan
hệ với nhau Đây một mặt là “sân chơi” và là cơ sở phát triển đầu tiên cho các quốc
gia trước khi hoà nhập vào môi trường quốc tế rộng lớn, cạnh tranh khốc liệt, đồng
thời là “nền tảng”, “bệ phóng” quan trọng để mỗi quốc gia nhất là các quốc gia,
lớn thể hiện và phát huy vai trò của mình trên trường quốc tế Trong môi trường ngày càng tùy thuộc với nhau, nhu cầu về phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa nhằm tăng cường sự hiểu biết để hợp tác vì lợi ích của từng quốc gia, đồng thời cùng nhau giải quyết những vấn đề có tính chất toàn cầu trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Nhu cầu, điều kiện hội nhập quốc tế luôn thể hiện khá rõ ràng và trở thành nhu cầu tất yếu của mỗi khu vực và mỗi quốc gia, Liên minh châu Âu (EU) và Ấn Độ cũng không thể nằm ngoài xu thế chung đó Cả hai bên đều có chung lợi ích trong việc
mở rộng và phát triển quan hệ hợp tác trên mọi lĩnh vực, thông qua quá trình hợp tác nhằm thúc đẩy mối quan hệ hai bên cùng phát triển hơn nữa trong tương lai
Trong những năm gần đây, cùng với sự lớn mạnh về kinh tế, mở rộng về quan hệ đối ngoại giữa EU và Ấn Độ cho thấy họ đang trở thành hoặc đang khẳng định mình với tư cách là các trung tâm quyền lực mới trên thế giới; do đó đã thu hút
sự quan tâm chú ý đặc biệt của đông đảo dư luận quốc tế
Với dân số trên 500 triệu người, 27 quốc gia thành viên, EU là một thị trường chung rộng lớn, có công nghệ hiện đại và có nguồn vốn dồi dào Từ Cộng đồng than thép châu Âu (ECSC) hình thành năm 1952 với 6 nước thành viên ban đầu, EU ngày càng phát triển về số thành viên tham gia và về các vấn đề hợp tác nội khối Với việc có một đồng tiền chung (đồng Euro) từ năm 1999, các chính sách chung, một Nghị viện chung châu Âu… EU thực sự đã trở thành một liên minh liên kết vững mạnh giữa các nước châu Âu trong thời đại toàn cầu hoá Sự gắn kết càng chặt chẽ hơn khi việc kiểm soát hộ chiếu qua biên giới giữa các quốc gia thành viên
đã bãi bỏ theo Hiệp ước Schengen, một EU mở rộng với 27 nước thành viên, một
Trang 2châu lục đang cố gắng trẻ hoá, đang ngày càng đóng vai trò và có tiếng nói quan trọng hơn trên trường quốc tế Xét về sức mạnh kinh tế, 15 nền kinh tế chủ chốt của
EU đã chiếm tới 1/2 FDI của thế giới EU còn là đối tác kinh tế hàng đầu của nhiều quốc gia, trong đó có thị trường Ấn Độ
Về phía mình, Ấn Độ là một quốc gia lớn ở Châu Á, là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại, diện tích đứng thứ 7 và dân số đứng thứ 2 trên thế giới Gần đây với những thành tích mà Ấn Độ đạt được trong lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin… như một sự “cựa mình” của một con sư tử đang thức dậy, khẳng định mình trước thế giới rằng: Ấn Độ là một quốc gia của công nghệ cao, đầy tiềm năng phát triển kinh tế, đang vươn lên vị trí cường quốc khu vực và thế giới vào đầu thế kỷ XXI
Chiến tranh lạnh kết thúc, cả EU và Ấn Độ đều có sự điều chỉnh chính sách đối ngoại với xu thế chuyển sang chính sách đa dạng hóa và đa phương hóa, thiết lập quan hệ với tất cả các nước trên thế giới Trong cục diện đa cực, trong quan hệ quốc tế hiện nay EU và Ấn Độ đang nổi lên như những trung tâm quyền lực mới Quan hệ tăng cường hơn giữa họ trong những thập kỷ qua và những năm đầu thế kỷ XXI, đã giúp tạo dựng và khẳng định vị thế mới của họ trên trường quốc tế
Hiện nay, cả EU và Ấn Độ đều có quan hệ hợp tác với Việt Nam Thông qua việc nghiên cứu mối quan hệ giữa EU và Ấn Độ cung cấp cho chúng ta một bức tranh khái quát, một cái nhìn sâu rộng về mối quan hệ giữa hai thế lực đang lên của thế giới hiện nay Mặt khác, thông qua việc nghiên cứu mối quan hệ này góp phần rút ra những bài học kinh nghiệm cho các nước trong đó có Việt Nam, nhằm giúp Việt Nam hoạch định những chính sách đối ngoại trong quan hệ với các nước cũng như những nhận thức cần thiết trong việc lựa chọn đường lối đối ngoại phù hợp với những diễn biến phức tạp trong tình hình thế giới hiện nay Với ý nghĩa đó việc nghiên cứu mối quan hệ EU – Ấn Độ là một việc làm vừa mang ý nghĩa khoa học vừa có tính thực tiễn cao
Xuất phát từ những lý do trên, được sự đồng ý của cô giáo hướng dẫn
PGS.TS Trịnh Thị Định, tôi chọn vấn đề: “Quan hệ Liên minh châu Âu (EU) Ấn
Độ (1993 - 2010)” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ Sử học, chuyên ngành Lịch sử thế
giới
Trang 32 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Mặc dù có những mối liên hệ từ xa xưa nhưng chỉ sau những biến động của tình hình thế giới thời kỳ sau Chiến tranh lạnh, mối quan hệ EU – Ấn Độ mới thực
sự quay trở lại vào năm 1993 khi EU và Ấn Độ cùng ký kết Hiệp định hợp tác
Sự biến động mạnh mẽ của tình hình thế giới và khu vực sau Chiến tranh lạnh và sự phát triển của mối quan hệ EU - Ấn Độ trong những năm gần đây đã thu hút sự quan tâm, chú ý của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nào tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện vấn đề này Trong quá trình thu thập tư liệu, chúng tôi tạm thời phân thành những nhóm cơ bản sau:
Nhóm thứ nhất, là các công trình nghiên cứu về EU, chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế của EU gồm có: “Liên minh châu Âu” (Học viện quan hệ quốc tế, 1995), “Quan hệ EU với các nước” (Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1999), “Những khó khăn trở ngại trong tiến trình mở rộng của Liên minh châu Âu” (Hoàng Xuân Hòa, 2000), “Liên minh châu Âu - từ hợp tác chính trị đến một chính sách đối ngoại chung” (Bùi Hồng Hạnh, 2005), “Chiến lược đối ngoại của Liên minh châu Âu trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI” (Trịnh Duy Khang, 2005),
“Chiến lược châu Á mới của EU và vai trò của ASEM” (Bùi Duy Khoát, 2005),
“Con đường phát triển của Liên minh châu Âu (EU) những khó khăn và trở ngại trước mắt” (Đinh Công Tuấn, 2005), “Kinh tế chính trị khu vực châu Âu trong thập niên đầu thế kỷ XXI những tác động đến Việt Nam” (Nguyễn Quang Thuấn, 2005)… Trong các công trình này các tác giả tập trung phân tích sự hình thành, mở rộng và tình hình kinh tế chính trị của Liên minh châu Âu Về chính sách đối ngoại
và quan hệ quốc tế của EU các công trình này chủ yếu đề cập đến chính sách và quan hệ của EU đối với Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, ASEAN Quan hệ của EU đối với Ấn Độ chưa được nghiên cứu mà chỉ được đề cập hết sức sơ sài thông qua các chính sách của EU như: Chính sách châu Á mới, hợp tác Á - Âu và tổng quan chiến lược đối ngoại của EU trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, mối quan hệ EU - Ấn Độ
có đề cập đến nhưng không đáng kể
Trang 4Nhóm thứ hai là, các công trình nghiên cứu về Ấn Độ, các chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế của Ấn Độ bao gồm có: “50 năm kinh tế Ấn Độ” (Đỗ Đức Định, 1999), “Ấn Độ hôm qua và hôm nay” (Đinh Trung Kiên, 1995), “Sự điều chỉnh chính sách của Cộng hòa Ấn Độ từ 1991 - 2000” (Trần Thị Lý, 2002), “Ấn
Độ điều chỉnh chính sách đối ngoại: đa dạng hóa và thực thể” (Vũ Văn Lưu, 1992),
“Chính phủ mới và công cuộc cải cách kinh tế Ấn Độ” (Đặng Bảo Châu, 2004),
“Chiến lược đối ngoại của Ấn Độ trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI” (Nguyễn Thu Hương, 2005)… Trong các công trình này các tác giả chủ yếu nghiên cứu tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của Ấn Độ cũng như nêu và phân tích các chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế của Ấn Độ với Mỹ, Nga, Trung Quốc, khu vực Nam Á, Đông Nam Á Các công trình này hầu như không đề cập hoặc có đề cập nhưng rất
mờ nhạt và ít ỏi về mối quan hệ EU - Ấn Độ, chưa đi sâu phân tích mà chỉ mang tính khái quát Tuy nhiên, đây cũng là những tài liệu tham khảo hết sức quan trọng
và bổ ích cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Trực tiếp đề cập đến mối quan hệ EU - Ấn Độ có một số công trình sau:
“Quan hệ tăng cường giữa EU, Trung Quốc và Ấn Độ: sự khẳng định của các trung tâm quyền lực mới” (Nguyễn Phương Bình, 2007) Trong nghiên cứu này, tác giả nghiên cứu mối quan hệ EU - Ấn Độ thông qua sự đối sánh với Trung Quốc “Chiến lược của EU trong quan hệ với các nước đang phát triển” (Đỗ Tá Khánh, 2007), thông qua nghiên cứu chiến lược của EU với các nước đang phát triển tác giả đã đề cập đến những chính sách của EU dành cho Ấn Độ và các nước khác nhằm làm nổi bật lên sự phát triển của mối quan hệ EU - Ấn Độ trong thời gian qua Hay như tác phẩm “Vài nét về mối quan hệ giữa Ấn Độ và Khối Liên hiệp Anh (The Commonwealth) 1947 - 1950” (Nguyễn Công Khanh, 1996), bước đầu đưa ra mối quan hệ giữa Ấn Độ và Anh cùng một số nước Tây Âu khác Trong những công trình này quan hệ EU - Ấn Độ đã được trình bày nhưng cũng chỉ mới là những sơ lược bước đầu và thường được lồng ghép trong sự so sánh với quan hệ EU - Trung Quốc hoặc với các nước khác, trong đó mối quan hệ EU - Ấn Độ chưa được thể hiện một cách rõ nét
Trang 5Bên cạnh đó, còn có một số công trình như: “Kỷ nguyên mới trong quan hệ
EU - Ấn Độ” (Hà Phương, 2000), “Bước quan trọng đưa mối quan hệ EU - Ấn Độ
đi vào chiều sâu” (Hà Phương, 2001), hai công trình này tác giả tập trung nghiên cứu những bước phát triển mới của mối quan hệ EU – Ấn Độ, những nhân tố tác động đến mối quan hệ này
Về tình hình nghiên cứu vấn đề này ở nước ngoài, một số công trình tiếng nước ngoài tiếp cận được có đề cập đến quan hệ EU - Ấn Độ bao gồm: “EU - India relations” (Bild Mangler, 2008), “The EU - India cross - cultural innovation network” (Karamjits Gill and Ashok Jain, 2005), “Economic impact of a potential: Free trade agreement (FTA) between the European Union and India” (Cristina Mitaritionna, 2009)…
Các công trình trên là những cơ sở quý giá giúp tôi có nguồn tài liệu quan trọng và hướng nghiên cứu đúng đắn để trực tiếp triển khai đề tài của mình, làm sáng tỏ những vấn đề còn tồn tại Tuy nhiên, quan hệ Liên minh châu Âu (EU) – Ấn
Độ giai đoạn 1993 – 2010 xuất hiện rất mờ nhạt trong các công trình nghiên cứu trong nước, vẫn còn thiếu một công trình nghiên cứu có tính chất hệ thống và toàn diện Kế thừa, phát huy những thành quả của những người đi trước đã đạt được, tác giả đã cố gắng tạo nên một bức tranh hoàn chỉnh về mối quan hệ EU – Ấn Độ (1993 – 2010) Hi vọng rằng, những kết quả đạt được trong luận văn thạc sĩ của chúng tôi sẽ đáp ứng phần nào sự thiếu hụt này
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những kết quả đã đạt được của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, luận văn cố gắng phân tích và làm rõ mối quan hệ giữa EU và Ấn Độ trong bối cảnh quốc tế hoá, khu vực hoá gia tăng, đồng thời hệ thống hoá những thành tựu đã đạt được của mối quan hệ này qua đó rút ra một số nhận xét và đánh giá
Trang 63.2 Nhiệm vụ
- Trình bày khái quát mối quan hệ EU – Ấn Độ giai đoạn trước 1993 để thấy được những tiền đề của mối quan hệ EU – Ấn Độ ở giai đoạn sau mà luận văn nghiên cứu; đồng thời để có cái nhìn toàn diện và hệ thống hơn về mối quan
hệ này
- Tái hiện mối quan hệ EU - Ấn Độ giai đoạn 1993 - 2010
- Phân tích và làm rõ những yếu tố tác động đến mối quan hệ này cũng như tác động của mối quan hệ này lên từng chủ thể
- Từ thực tiễn của mối quan hệ EU - Ấn Độ, bước đầu rút ra một số nhận xét, đánh giá
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
4.1 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Trên cơ sở quán triệt phương pháp luận Macxit-Leninit trong nghiên cứu khoa học, đồng thời đứng vững trên quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta để nghiên cứu, xem xét, đánh giá các mối quan hệ quốc tế nói chung và mối quan hệ EU – Ấn Độ nói riêng
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Để hoàn thành luận văn này, tác giả sử dụng chủ yếu hai phương pháp chính trong nghiên cứu lịch sử là phương pháp lịch
sử và phương pháp logic; trong đó chú trọng phương pháp lịch sử để tái hiện một cách chân thực, khách quan mối quan hệ EU – Ấn Độ
Ngoài ra, cũng phải thấy rằng quan hệ EU – Ấn Độ trong suốt quá trình hình thành và phát triển ngoài những tác động bởi nhân tố nội tại của mỗi bên, còn chịu sự tác động không nhỏ của tình hình quốc tế và khu vực Vì vậy, các phương pháp: thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh đối chiếu, phương pháp dự báo khoa học cùng những phương pháp hỗ trợ khác cũng được sử dụng để giúp giải quyết thỏa đáng những vấn đề đặt ra trong luận văn
4.2 Nguồn tư liệu
Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài, tác giả đã cố gắng tập hợp và khai thác các nguồn tư liệu chủ yếu sau đây:
Trang 7- Một số hiệp định, tuyên bố chung, nghị định thư, văn bản ký kết hợp tác trên các lĩnh vực của quan hệ EU – Ấn Độ (khai thác từ internet hoặc trích từ các công trình nghiên cứu khác nhau trong phần tài liệu tham khảo)
- Kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, các văn kiện của Thông tấn xã Việt Nam, tài liệu tham khảo đặc biệt và được đăng tải trên các báo, các bài bình luận, đánh giá
- Các công trình nghiên cứu chuyên khảo về lịch sử thế giới, lịch sử quan hệ quốc tế, lịch sử ngoại giao, lịch sử Ấn Độ, Liên minh châu Âu; các bài tạp chí được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành
5 Phạm vi nghiên cứu
5.1 Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu về mối quan hệ giữa chủ thể
là Liên minh châu Âu (EU) và Ấn Độ
5.2 Về mặt thời gian: Đề tài đề cập đến mối quan hệ giữa EU - Ấn Độ từ
năm 1993 - là năm mà EU và Ấn Độ ký tuyên bố chung, mở đầu cho kỷ nguyên hợp tác giữa EU và Ấn Độ, đến hết thập niên đầu thế kỷ XXI
5.3 Về mặt nội dung: Luận văn không trình bày dàn trải quan hệ EU- Ấn
Độ trên tất cả các lĩnh vực mà chỉ tập trung vào những lĩnh vực quan trọng như: chính trị, an ninh, kinh tế, văn hoá qua đó chọn lọc những sự kiện tiểu biểu để làm nổi bật vấn đề đang nghiên cứu
6 Đóng góp của luận văn
6.1 Về mặt lý luận
Trên cơ sở những nguồn tư liệu có được luận văn góp phần dựng nên bức tranh tương đối hoàn chỉnh, đồng thời hệ thống hoá những thành tựu và hạn chế giữa hai chủ thể EU - Ấn Độ trong giai đoạn 1993 - 2010
Ngoài ra luận văn còn tập trung phân tích, làm rõ những yếu tố tác động đến quan hệ EU - Ấn Độ cũng như tác động của mối quan hệ này lên mỗi chủ thể
Từ những kết quả đạt được cũng như những hạn chế trong quan hệ EU- Ấn
Độ, tác giả cố gắng rút ra một số nhận xét, đánh giá cung cấp cho người đọc có cái nhìn tổng quát hơn về mối quan hệ này
Trang 86.2 Về mặt thực tiễn
- Kết quả đạt được của luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo bổ ích cho những ai quan tâm đến vấn đề này, đặc biệt là các nhà nghiên cứu lịch sử, quan hệ quốc tế, phục vụ cho việc giảng dạy và học tập
- Cùng với nội dung của luận văn, các tài liệu tham khảo để thực hiện luận văn này sẽ là hệ thống tư liệu tương đối hoàn chỉnh khi nghiên cứu vấn đề quan hệ
EU – Ấn Độ (1993 – 2010)
- Thành công và hạn chế của quan hệ EU – Ấn Độ là những bài học kinh nghiệm cho các nhà hoạch định chính sách trong việc hoạch định chính sách đối ngoại của nước ta đối với các quốc gia trong khu vực, đặc biệt là với EU và Ấn Độ
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn bao gồm:
Chương 1: Tiền đề của mối quan hệ EU - Ấn Độ
Chương 2: Quan hệ EU - Ấn Độ trên các lĩnh vực chủ yếu (1993 - 2010) Chương 3: Một số nhận xét về quan hệ EU - Ấn Độ (1993 - 2010)
Trang 9Chương 1 TIỀN ĐỀ CỦA MỐI QUAN HỆ EU - ẤN ĐỘ
1.1 Bối cảnh quốc tế, tình hình EU và Ấn Độ sau Chiến tranh lạnh
Mỹ là siêu cường duy nhất còn lại sau Chiến tranh lạnh Liên Xô sụp đổ, Đông Âu tan rã khiến Mỹ không còn kẻ thù nguy hiểm, đó là lợi thế để Mỹ gia tăng ảnh hưởng chính trị trên toàn thế giới Với sự năng động và nhạy bén của nền kinh
tế, nước Mỹ luôn là nền kinh tế hàng đầu thế giới trong nhiều năm liền Về quân sự,
từ trước tới nay chỉ có Liên Xô có đủ sức mạnh quân sự có thể cạnh tranh với Mỹ, nay Liên Xô không còn, Mỹ trở thành cường quốc số một Với sức mạnh vượt trội
về kinh tế, chính trị, quân sự, Mỹ tin tưởng rằng mình sẽ dễ dàng lãnh đạo thế giới
và xây dựng thế giới đơn cực mới do Mỹ đứng đầu
Tuy nhiên, trên thực tế Mỹ khó có thể điều khiển thế giới theo ý mình Đầu thập niên 1990, EU và Nhật Bản thách thức vị trí số một của nền kinh tế Mỹ Cùng với sức mạnh kinh tế, Nhật Bản và EU cũng tự chủ và độc lập hơn trong các mối quan hệ quốc tế Ngay cả Trung Quốc, Ấn Độ sau một thời gian ổn định và phát triển kinh tế trong nước cũng đang từng bước mở rộng ảnh hưởng ra toàn thế giới với mong muốn xây dựng thế giới đa cực chống lại tham vọng “bá quyền thế giới” của Mỹ Một thế giới đa cực đang hình thành Các cường quốc đang vừa hợp tác vừa cạnh tranh để gia tăng sức mạnh của bản thân, thiết lập một vị trí thuận lợi cho mình
Sau Chiến tranh lạnh, xu thế khu vực hóa phát triển Đây là nhân tố làm tăng
sự liên kết không những về kinh tế mà cả về chính trị giữa các nước Các tổ chức
Trang 10khu vực ra đời với nhiệm vụ bảo vệ lợi ích của các thành viên ngày càng thu hút được sự tham gia của nhiều quốc gia Sự ra đời của các liên kết khu vực đã tác động đến quan hệ quốc tế Nền chính trị thế giới có nhiều chuyển biến tích cực theo hướng gia tăng tính hợp tác giữa các chủ thể quan hệ quốc tế Các nước lớn vẫn đóng vai trò là các “diễn viên” chính trên sân khấu chính trị nhưng các quốc gia vừa
và nhỏ cũng trở thành những mắt xích quan trọng, vai trò của các nước vừa và nhỏ cũng được nâng cao trên diễn đàn quốc tế và khu vực
Một đặc điểm khác của bối cảnh quốc tế trong kỷ nguyên cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại là toàn cầu hoá kinh tế đã trở thành một xu thế khách quan lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia Toàn cầu hoá không chỉ tạo ra những liên đới mạnh mẽ về kinh tế, mà còn thúc đẩy mối quan hệ liên quốc gia tăng cả về bề rộng lẫn chiều sâu Tự do hoá kinh tế và cải cách thị trường trên toàn cầu diễn ra phổ biến, các nền kinh tế dựa vào nhau, liên kết với nhau, xâm nhập lẫn nhau, khiến cho tính lệ thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng Toàn cầu hoá thúc đẩy hợp tác, phân công lao động quốc tế sâu rộng, kích thích tăng trưởng kinh tế Các hình thức hợp tác, liên kết kinh tế trở nên nhiều và rất phong phú về nội dung Mặt khác những lợi ích và bất lợi do toàn cầu hoá tạo ra không được chia sẻ một cách đồng đều, làm trầm trọng thêm khoảng cách phát triển giữa các xu thế của lịch sử, toàn cầu hoá lôi cuốn tất cả các nước tham gia và mỗi nước cần xác định được cho mình đường lối hội nhập quốc tế một cách thích hợp
Toàn cầu hóa làm gia tăng sự thụ thuộc giữa các quốc gia Xu thế toàn cầu hóa đã ảnh hưởng rất nhiều tới nhận thức của các quốc gia về hợp tác quốc tế, thời đại toàn cầu hóa, các quốc gia đều nhấn mạnh đến hợp tác kinh tế cũng như sức mạnh kinh tế của các quốc gia Sau một thời gian chìm đắm trong chiến tranh và đối đầu ý thức hệ, giờ đây các quốc gia đều mong muốn ổn định và hòa bình để tập trung phát triển kinh tế Lợi ích kinh tế được đặt lên vị trí hàng đầu bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến sức mạnh quốc gia cũng như vị thế quốc gia đó trên trường quốc tế Bất kỳ quốc gia nào cũng muốn mở rộng giao lưu và hội nhập vào cộng đồng quốc tế trong hệ thống quốc tế mới Mà muốn làm được điều đó, trước tiên
Trang 11phải có tiềm lực về kinh tế, bởi vậy không khó khăn gì để nhận ra rằng sau Chiến tranh lạnh, hợp tác kinh tế trở thành chính sách ưu tiên của mỗi quốc gia
Sự phát triển về kinh tế làm gia tăng sự gắn kết giữa các quốc gia về chính trị
và an ninh Ngày nay, an ninh kinh tế trở thành nhân tố quan trọng góp phần đảm bảo an ninh quốc gia Các nước đều hiểu rằng lợi ích kinh tế của họ phụ thuộc vào những tác động của yếu tố an ninh bên ngoài Vì thế, hầu hết các quốc gia đều tăng cường xây dựng quan hệ hợp tác toàn diện với các quốc gia khác, nó vừa đảm bảo lợi ích kinh tế cho mỗi bên lại vừa nâng cao được vị thế chính trị của các quốc gia trên bàn cờ chính trị thế giới
Thế giới đang chuyển sang một kỷ nguyên phát triển mới, dựa trên những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại Cách mạng khoa học
- công nghệ làm bùng nổ những thành tựu trong các ngành mũi nhọn như điện tử - tin học, vật liệu mới, năng lượng mới… thúc đẩy lực lượng sản xuất của thế giới phát triển mạnh mẽ chưa từng thấy, đồng thời đưa đến sự phát triển, biến đổi theo chiều sâu các lĩnh vực đời sống xã hội Cách mạng khoa học - công nghệ khiến cho
sự phát triển kinh tế ngày càng phụ thuộc nhiều vào nhân tố tri thức, tạo ra bước ngoặt mang ý nghĩa lịch sử Mức độ phát triển kinh tế tri thức trở thành một tiêu chí, thước đo hàng đầu của trình độ phát triển của mỗi quốc gia hiện nay
Những vấn đề toàn cầu đang nổi lên: Mặc dù hòa bình, ổn định và phát triển
là xu thế chủ yếu của thế giới sau Chiến tranh lạnh, tuy nhiên bên cạnh những xu thế đó, thế giới vẫn tồn tại không ít những nguy cơ, thách thức khó đoán định Các cuộc xung đột sắc tộc, dân tộc, tôn giáo vẫn đang diễn ra ở nhiều nơi Các lực lượng phản động, cực đoan, phát xít, chủ nghĩa khủng bố vẫn hoạt động ở một số quốc gia với nhiều mức độ khác nhau Một số tổ hợp công nghiệp quân sự đang sản xuất và tiêu thụ một khối lượng vũ khí lớn, đang kích động và nuôi dưỡng những cuộc chiến tranh gây mất ổn định an ninh thế giới
Ngoài ra, thế giới cũng xuất hiện nhiều vấn đề toàn cầu trầm trọng như ô nhiễm môi trường, đói nghèo, dịch bệnh, thiên tai, tội phạm xuyên quốc gia, phổ biến vũ khí hạt nhân… Cộng đồng quốc tế phải đối mặt với những nguy cơ đe dọa
Trang 12an ninh mới phi truyền thống đòi hỏi phải có sự hợp tác của nhiều quốc gia mới có thể giải quyết
Tóm lại, Chiến tranh lạnh chấm dứt, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của
cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã mở ra một cục diện mới trong tình hình quốc tế Trước hết đó là xu thế đối đầu được thay thế bằng xu thế đối thoại, hợp tác phát triển cùng tồn tại hòa bình ngày càng chiếm ưu thế Các quốc gia, dân tộc đang
cố gắng tìm kiếm sự ổn định mới, một sự tập hợp lực lượng mới trên phạm vi toàn thế giới cũng như từng khu vực sao cho đảm bảo lợi ích các bên có liên quan Trong
đó các nước vừa hợp tác vừa đấu tranh, song đấu tranh chỉ nhằm mục đích xác nhận lại lợi ích của các bên và đạt được một sự hợp tác có hiệu quả chứ không phải là đấu tranh để loại trừ lẫn nhau
Hai là, nhu cầu về sự phát triển kinh tế trở thành ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối nội, đối ngoại của tất cả các nước Lợi ích quốc gia là nhân tố chi phối chính sách đối ngoại của các nước nhất là trong điều kiện sự phát triển ngày càng tùy thuộc lẫn nhau trong kỷ nguyên phát triển cao độ nền khoa học công nghệ tiên tiến
Ba là, đi đôi với xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa thì xuất hiện xu thế liên kết khu vực với việc thành lập các khu vực thương mại tự do như NAFTA, AFTA…đây được coi là bước đi đầu tiên dẫn đến tự do hóa thương mại toàn cầu tạo ra thị trường chung của thế giới
Trong bối cảnh mới của thế giới sau Chiến tranh lạnh để thực hiện các mục tiêu của mình cả EU và Ấn Độ đều điều chỉnh chính sách và xây dựng biện pháp thực hiện nhằm đưa quan hệ EU - Ấn Độ phát triển phù hợp với tình hình mới
1.1.2 Tình hình EU
Khi nghiên cứu về lịch sử châu Âu, các nhà nghiên cứu lịch sử đều nhận ra một điều là ý tưởng xây dựng một châu Âu thống nhất không phải là một ý tưởng mới, mà đã có từ lâu đời Trải qua nhiều biến cố trong những thời đại khác nhau, đã
có những nhân vật nổi tiếng châu Âu từng bày tỏ quan điểm về việc xây dựng châu
Trang 13Âu, điển hình Napoléon Bonaparte1 Ông đã từng nói: “Chức phận của tôi vẫn chưa hoàn thành, tôi muốn hoàn thành cái điều mới chỉ được phác họa, tôi phải làm một
bộ luật châu Âu (…), một đồng tiền chung cũng châu Âu, các đơn vị đo lường, các quy tắc châu Âu Tôi phải biến tất cả các dân tộc châu Âu thành một dân tộc và
Paris thành thủ đô của thế giới” [32; tr4]
Tuy nhiên trong một thời gian rất dài, ý tưởng thống nhất châu Âu chỉ là của một số ít người, lạc lõng và chưa được sự đồng ý tán thành Người ta vẫn thường sử dụng chiến tranh như là một phương tiện hữu hiệu để tàn sát và xâm chiếm lẫn nhau
Phải đến khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, nghĩa là hơn một nữa thế
kỷ sau đó, ý tưởng đó một lần nữa lại được khơi nguồn Sự tàn phá ghê gớm của chiến tranh đối với các nước cả thắng trận lẫn bại trận- cũng như những thiệt hại nặng nề đã giúp châu Âu phần nào tỉnh ngộ và dần dần nhận ra sự cần thiết phải hợp tác để phát triển, đoàn kết để đối phó với bên ngoài Lần đầu tiên sau nhiều thế
kỷ, châu Âu không còn là trung tâm quyền lực của thế giới thậm chí còn trở nên phụ thuộc vào cường quốc bên ngoài Chính trong bối cảnh đó, một ý tưởng mang tính chất cách mạng đã mang đến cho châu Âu con đường đi tới sự phục hưng
Ý tưởng đó được nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Pháp Robert Schuman đưa ra trong bài phát biểu nổi tiếng ngày 9 tháng 5 năm 19502 Ông nhận thấy rằng than và thép là hai nguyên liệu quan trọng hàng đầu đối với công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh; hơn nữa, đây cũng là những nguyên, nhiên liệu chiến lược đối với công nghiệp quốc phòng, việc tranh chấp hai mặt hàng trên đã là nguyên nhân dẫn đến các cuộc chiến tranh tương tàn
Robert Schuman đã đề nghị “đặt toàn bộ việc sản xuất than, thép của Đức và Pháp dưới sự quản lý của một cơ quan tối cao chung trong một tổ chức mở cho các nước châu Âu khác có thể tham gia” [32; tr5] Sáng kiến này của R.Schuman thể hiện những điều mới mẻ nhưng cần thiết cho một nửa châu Âu (Tây Âu) khi đó, nó
1 Vị tướng cách mạng Pháp, là người cai trị nước Pháp với tư cách Đệ nhất Tổng tài của Cộng hòa Pháp từ 11/11/1979- 18/5/1804 và sau đó trở thành Hoàng đế Pháp
2 9/5/1950: Bộ trưởng ngoại giao Pháp Robert Schuman đọc tuyên ngôn kêu gọi Pháp, Đức và các nước châu
Âu khác tập hợp lại tạo ra Liên minh châu Âu
Trang 14vừa đề ra một kiểu quan hệ mới trong đó các nước phải phần nào hy sinh chủ quyền
để hợp tác và liên kết, vừa góp phần rất quan trọng nhằm hòa giải Pháp và Đức sau chiến tranh - nhất là lại thông qua một lĩnh vực sống còn đối với công cuộc tái thiết châu Âu là sản xuất than và thép Do tính hiện thực và tỏ ra rất cần thiết nên đề nghị của R.Schuman đã được năm nước Tây Âu là Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan và Lucxembua nhiệt tình hưởng ứng Anh khi đó không tham gia vì vẫn muốn giữ cho mình một khu vực riêng không bị ràng buộc Kết quả của sự hưởng ứng ấy là một bản hiệp ước được ký kết giữa sáu nước trên cho sự ra đời của Cộng đồng Than- Thép châu Âu (ECSC) vào ngày 18 tháng 4 năm 1951 Bản hiệp ước chính thức có hiệu lực từ ngày 25 tháng 7 năm 1952 Với mục tiêu là đảm bảo việc sản xuất và tiêu thụ than và thép của các nước thành viên trong điều kiện thống nhất, đẩy mạnh tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất, phân phối, tiêu thụ, và nâng cao năng suất lao động Song trên thực tế, ECSC đã giải quyết nhiệm vụ chính trị kép: hòa giải mâu thuẫn giữa Pháp và Đức, kiểm soát nước Đức, khống chế lẫn nhau để vừa phát triển kinh tế vừa gìn giữ hòa bình
Cộng đồng Than- Thép châu Âu ra đời đã mở ra một chương mới trong lịch
sử quan hệ giữa các nước Tây Âu Hoạt động thành công của cộng đồng Than- Thép châu Âu không những đã giúp các nước thành viên tăng cường được các mối quan hệ kinh tế trong những lĩnh vực cụ thể, mà còn góp phần đáng kể vào việc cải thiện bầu không khí để giải quyết nhiều vấn đề chính trị tồn tại trong quan hệ giữa các nước Tây Âu- nhất là giữa hai “kẻ thù truyền kiếp” trước đây là Pháp với Đức
Nó ràng buộc lợi ích các nước với nhau và thực sự đặt nền móng cho quá trình liên kết chính trị, kinh tế trong khu vực quan trọng này của thế giới
Sự ra đời của ECSC, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử quan hệ giữa các nước Tây Âu sau chiến tranh thế giới hai Điều này đã khích lệ chính phủ các nước thành viên tiến hành đàm phán và ký kết Hiệp ước thành lập “Cộng đồng năng lượng nguyên tử châu Âu” (EURATOM) ngày 25 – 3 – 1957 để thống nhất việc quản lý đối với ngành năng lượng nguyên tử của 6 nước thành viên Cùng ngày, Hiệp ước về việc thành lập “Cộng đồng kinh tế châu Âu” (EEC) cũng
Trang 15được ký kết nhằm tăng cường liên kết kinh tế của 6 nước thành viên, biến các thị trường riêng lẽ thành một thị trường chung Hai Hiệp ước này đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình thống nhất châu Âu
Để nâng cao hiệu quả của hoạt động liên kết, ngày 8 tháng 4 năm 1965 tại Brussells 6 nước thành viên đã ký Hiệp ước Merger, hay còn gọi là “Hiệp ước về Cộng đồng châu Âu” (EC) với mục đích: thành lập một thị trường thống nhất trong
đó vốn, hàng hoá, lao động được tự do di chuyển, xoá bỏ hàng rào thuế quan và phi quan thuế giữa các nước thành viên… Các nước thành viên đã thỏa thuận thống nhất các cơ quan hành pháp của ba cộng đồng thành một, lấy tên là Ủy ban châu Âu
và Hội đồng Bộ trưởng châu Âu Hiệp ước Merger trên thực tế đã đặt nền móng cho Liên minh châu Âu sau này
Cùng với quá trình hình thành và hoàn thiện cơ cấu tổ chức EC, thành phần của EC cũng đã được mở rộng Từ 6 thành viên ban đầu bao gồm Pháp, Đức, Italia,
Hà Lan, Bỉ, Luxembourg, năm 1973 có thêm Anh, Ireland, Đan Mạch gia nhập, nâng số thành viên lên 9 nước; sau đó Hy Lạp gia nhập năm 1981, Tây Ban Nha và
Bồ Đào Nha năm 1986; tổng số thành viên EC đến đầu thập niên 1990 là 12 nước
Ngày 7 tháng 2 năm 1991, tại Masstricht (Hà Lan), các nguyên thủ quốc gia của 12 nước thành viên EC đã ký Hiệp ước Masstricht thành lập “Liên minh châu Âu” (EU) – để thống nhất về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng và các chính sách về xã hội Hiệp ước Masstricht được ký kết đánh dấu sự ra đời của liên minh châu Âu trên nền tảng là các cộng đồng liên kết châu Âu trước đây, một liên minh được đánh giá là khá hoàn hảo hơn tất cả, lãnh đạo châu Âu trên nhiều lĩnh vực, cả trong lĩnh vực thống nhất tiền tệ, đối ngoại và an ninh
Năm 2004, EU đón nhận đợt mở rộng lớn nhất trong lịch sử, với việc 10 nước châu Âu, bao gồm cả Trung, Nam, Đông Âu trở thành thành viên của tổ chức (ba nước Baltic là Estonia, Litva, Latvi, bốn nước Đông Âu là Hungary, Ba Lan, Séc, Slovakia, và ba nước Nam Âu - Địa Trung Hải là Síp, Malta, Slovenia) Năm
2007, hai nước Bungary và Rumani cũng đã trở thành thành viên của EU Với số lượng thành viên lên tới 27 quốc gia, diện tích của EU tăng 34% khiến EU bao phủ
Trang 16gần hết lục địa châu Âu, dân số tăng thêm 105 triệu đưa tổng số dân EU năm 2010 lên tới hơn nửa tỷ người và tổng GDP khoảng 12,45 nghìn tỷ Euro vào năm 2010 Hầu hết các quốc gia châu Âu đều đã trở thành thành viên của EU, biến EU 27 thành một thị trường, một trung tâm kinh tế khổng lồ sản xuất hơn 25% lượng hàng hóa và dịch vụ trên toàn thế giới [14; tr.16] Quá trình mở rộng đúng như đánh giá
là “một thử thách đặc biệt chưa từng thấy về quy mô và sự đa dạng, đồng thời cũng
là một nhiệm vụ lịch sử”, “là cơ hội quan trọng nhất đối với EU trong thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh” [16; tr.185] Sự gia tăng về chiều rộng đòi hỏi một sự phát triển mạnh mẽ về chiều sâu của liên kết khu vực này Và gần đây nhất, theo hiệp ước Lisbon (có hiệu lực từ ngày 1/12/2009) EU trở thành một “siêu quốc gia” đánh dấu
sự phát triển lên mức độ cao nhất của liên kết khu vực ở lục địa châu Âu, EU sẽ có một bộ máy tổ chức tương tự như một nhà nước với chức danh tương tự để đại diện cho châu Âu trên trường quốc tế
Từ chỗ chỉ là một tổ chức khiêm tốn trong một lĩnh vực cụ thể, chỉ có sáu thành viên, ngày nay Liên minh châu Âu là tập hợp của 27 quốc gia có nền kinh tế tiên tiến, có ảnh hưởng quan trọng trên thế giới, cung cấp một hình mẫu thành công của sự liên kết khu vực cho các nước khác EU mở rộng với tiềm lực lớn mạnh không chỉ giúp EU nâng cao vị thế kinh tế - chính trị của mình mà còn tạo cơ hội cho các nước thành viên hội nhập mạnh hơn vào khu vực cũng như thế giới, mở rộng sự hợp tác với các quốc gia và khu vực trên thế giới
1.1.3 Tình hình Ấn Độ
Mỗi dân tộc, đất nước được hình thành và phát triển đều có những đặc điểm riêng của mình Ăngghen đã từng viết: Sự phát triển của mỗi dân tộc đều có những đặc trưng mang tính chất dân tộc và lịch sử của mình Tính dân tộc có tính lịch sử
và bản thân nó cũng rất lịch sử Trong quá trình phát triển của mỗi dân tộc, những đặc điểm và tâm lý mang tính dân tộc được xác định và chúng làm phân biệt dân tộc này với dân tộc khác
Để thấy được những nét độc đáo của dân tộc Ấn Độ cần thiết phải tìm hiểu những nét đặc trưng lịch sử đất nước và xã hội Ấn Độ Là một nước nằm ở Nam Á,
Trang 17Ấn Độ là nước lớn thứ bảy thế giới, rộng 3.280.483km2, dân số hơn 1,2 tỷ người Phía Bắc là dãy Himalaya hùng vĩ được ví là lâu đài tuyết trắng Từ đó đi dần xuống phía Nam bắt gặp vùng đồng bằng Ấn- Hằng, được tạo bởi dòng sông Ấn (Indus) và sông Hằng (Gange) Đây là vùng đất được mệnh danh là vùng châu thổ “đồng vàng” vùng này còn gọi là Ariavacta (có nghĩa là đất đai của Arian) Đi tiếp dãy núi Vindohia với cao nguyên Dekan rộng lớn với hai dãy núi Ghat Đông và Ghat Tây chạy dài xuống bờ biển tràn ngập ánh nắng mang hình vòng cung gần đất nước Sri Lanca Từ Đông đến Tây có vùng Penjiab do 5 nhánh sông hợp thành gọi là Ngũ
Hà, đất đai màu mỡ
Về mặt tôn giáo, Ấn Độ là một nước đa dạng nhất thế giới với nhiều tôn giáo khác nhau trong đó số người theo đạo Hindu chiếm đa số (khoảng 80% dân số), Hồi giáo chiếm 12- 13%, Thiên chúa giáo 2- 3%, đạo Xích 2%, đạo Phật 0,7%, đạo Jain 0,5% Xã hội Ấn Độ trước đây có chế độ phân biệt đẳng cấp nặng nề do ảnh hưởng của tôn giáo Ấn Độ còn là đất nước đa dạng về ngôn ngữ, dân tộc, đẳng cấp và giai cấp nên người ta thường nói Ấn Độ là một nước thống nhất trong đa dạng [24; tr.3]
Ấn Độ có một truyền thống văn minh lâu đời, nhưng chế độ phong kiến và thực dân đã kìm hãm sự phát triển của nền văn minh Ấn Độ Hậu quả là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, què quặt, mất cân đối, nhiều thành phần, tuy những cơ
sở ban đầu của chủ nghĩa tư bản đã hình thành và phát triển nhưng những thành phần kinh tế tiền tư bản chủ nghĩa vẫn phổ biến rộng rãi
Từ sau khi giành được độc lập, Ấn Độ đã có những bước phát triển dài và đạt được những thành tựu to lớn, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu
Từ một nước đông dân, thiếu lương thực trầm trọng, với cuộc “cách mạng xanh” nổi tiếng thế giới Ấn Độ, không những đã sản xuất đủ lương thực cho nhu cầu trong nước mà còn vươn lên thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo với mức xuất khẩu hơn 5 triệu tấn/năm Trong những năm gần đây, với cuộc “cách mạng trắng” Ấn Độ đang vươn dần lên vị trí đứng đầu thế giới về xuất khẩu sữa với mức 64 triệu tấn/năm (1996) và có thể đạt hơn 90 triệu tấn trong năm 2010, đảm bảo cung cấp đủ sữa tươi với giá rẻ cho dân nghèo Sau nhiều thập kỷ kiên trì thực hiện chính sách công
Trang 18nghiệp hóa, đặc biệt ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, Ấn Độ đã có nền khoa học- kỹ thuật phát triển cao trong các ngành luyện kim, chế tạo máy, dệt, hóa chất trong đó có một số ngành công nghiệp như năng lượng nguyên tử, sản xuất phần mềm máy tính, nghiên cứu vũ trụ, công nghệ sinh học… đạt trình độ tiên tiến nhất thế giới
Trong bối cảnh những thay đổi của tình hình thế giới sau Chiến tranh lạnh, Chính phủ Ấn Độ quyết định thực hiện mạnh mẽ chính sách tự do hóa nền kinh tế Đây có thể nói là bức chuyển cơ bản trong chiến lược công nghiệp hóa nói riêng, đường lối phát triển kinh tế- xã hội nói chung của đất nước
Nhờ cải cách và tự do hóa, Ấn Độ đã có bước tiến vượt trội về phát triển kinh
tế trong 20 năm qua Sự nổi lên của Ấn Độ thể hiện ở chỗ, Ấn Độ đã thay đổi từ một quốc gia nghèo, có tỷ lệ dân số thiếu đói lớn, vươn lên trở thành một cực tăng trưởng mới của thế giới, trở thành nền kinh tế lớn thứ ba châu Á, và cũng là một điểm sáng tăng trưởng kinh tế ở Nam Á Công cuộc cải cách đúng đắn đã đưa lại cho Ấn Độ một diện mạo mới
Về mặt kinh tế: kinh tế Ấn Độ có mức tăng trưởng tương đối cao và được duy trì trong nhiều năm Từ năm 1992, kinh tế Ấn Độ bước vào chu kỳ tăng trưởng cao, hiện nay Ấn Độ đã đứng trong danh sách 10 quốc gia có tốc độ tăng GDP cao nhất thế giới Nếu trong thời kỳ 1951- 1973 tăng trưởng bình quân đạt 3,5%, thì trong thời kỳ 1974- 1978 Ấn Độ đạt mức tăng trưởng 4,9% mỗi năm Thời kỳ 1978-
1979, đạt 4,1% năm Mức tăng trưởng bình quân của Ấn Độ từ năm 1981- 1991 là 5,3% Trong thời kỳ 1992- 2001 tỷ lệ này đã là 6,32%/năm [38; tr.78- 79] Nổi bật nhất là ngành công nghiệp với tốc độ tăng trưởng đạt 9,2% mỗi năm thời kỳ 1988-
1991, ngành dịch vụ 7,7%, cơ cấu kinh tế có sự thay đổi lớn tỷ lệ ba ngành kinh tế lớn là nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trước cải cách lần lượt là: 30,19%, 24,47% và 45,34%, đến năm 1998 chuyển thành 26,44%, 22,32% và 51,25% [44; tr.12]
Khác với Trung Quốc, tăng trưởng kinh tế của Ấn Độ không lệ thuộc quá lớn vào công nghiệp cũng như xuất khẩu mà phụ thuộc phần lớn vào lĩnh vực dịch vụ
Trang 19Lĩnh vực này chiếm trên 50% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và đang tăng 15- 20% hàng hăm Ấn Độ rất chú trọng tới phát triển công nghệ thông tin và công nghệ sinh học Năm 2005 – 2006, Ấn Độ xuất khẩu 31,4 tỷ USD phần mềm tin học, năm 2006- 2007 xuất khẩu 40 tỷ USD và năm 2008- 2009 xuất khẩu 46,3 tỷ USD, trở thành một trong những trung tâm của thế giới về dịch vụ công nghệ thông tin Nhờ những lợi thế này, Ấn Độ đang trở thành quốc gia thu hút sự chú ý của giới kinh doanh toàn cầu [85]
Do đạt tốc độ phát triển cao liên tục trong hơn mười năm qua, tổng GDP của
Ấn Độ cũng tăng nhanh chóng Năm 1995, tổng GDP của Ấn Độ là 317 tỷ USD, đến năm 1999 là 447 tỷ USD, năm 2005 là 755 tỷ USD Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đã đẩy thu nhập theo đầu người của người dân Ấn Độ cũng tăng nhanh Từ 50 USD năm 1950 lên xấp xỉ 700 USD năm 2005 (GDP năm 2005 là 754,8 tỷ USD và
dân số lúc này là 1,080 tỷ người) [38; tr 83]
Vốn đầu tư nước ngoài đổ vào ngày càng nhiều Nên thời kỳ từ 1985- 1991, hàng năm Ấn Độ thu hút khoảng 200 triệu USD vốn đầu tư từ nước ngoài, chủ yếu
là viện trợ, khoản vay thương nghiệp và tiền do Ấn kiều gửi về và những năm sau
đó lượng vốn đầu tư tăng nhanh Năm 1997, Ấn Độ nhận 3,6 tỷ USD vốn nước ngoài, năm 1999 tuy bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tiền tệ ở châu Á, nhưng
Ấn Độ vẫn đạt 2,2 tỷ USD, trong đó nguồn vốn đầu tư từ các nước phát triển từ 0,6% trước cải cách tăng lên 2% (năm 1997) và 1,2% (năm 1999) Mở cửa thị trường vốn cũng khiến nguồn vốn nước ngoài đầu tư vào thị trường chứng khoán nước này ngày càng nhiều Trong các nước đang phát triển, phần đầu tư chứng khoán nước ngoài mà Ấn Độ tiếp nhận từ 1,7% năm 1992 tăng lên 13,4% năm
1994, nhưng đến năm 1999 giảm còn 3,8% Đến năm 2000, Ấn Độ đã nhận tổng cộng 2,47 tỷ USD vốn rủi ro, chỉ sau Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông và Singapore [44; tr.12]
Có thể nói từ năm 1991, với công cuộc cải cách kinh tế đã giúp Ấn Độ thoát khỏi khủng hoảng và trở thành một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới Tuy nhiên, Ấn Độ cũng đang phải đứng trước những khó khăn,
Trang 20thử thách đó là sự chênh lệch giàu nghèo, gia tăng dân số, ô nhiễm môi trường… buộc chính phủ Ấn Độ phải có những giải pháp phù hợp
Tình hình chính trị
Từ sau khi giành độc lập, chính phủ Ấn Độ phần lớn thời gian do Đảng Quốc Đại Ấn Độ lãnh đạo Đảng này luôn chiếm đa số trong Nghị viện, chỉ trừ hai giai đoạn ngắn trong thập kỷ 1970 và cuối 1980, khi Liên minh của Đảng Janata chiến thắng trong cuộc bầu cử do sự bất mãn của cử tri với tình trạng khẩn cấp do Thủ tướng lúc bấy giờ là India Gandhi ban bố Janata Dal chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 1989 nhưng chính phủ của họ chỉ cầm quyền được hai năm Từ năm 1996 đến
1998, đã có một giai đoạn thay đổi chính trị liên tục với chính phủ ban đầu thuộc phái hữu theo đường lối quốc gia của Đảng Bharatiya Janata (Đảng Nhân Dân Ấn
Độ - BJP), tiếp sau là chính phủ của Mặt trận quốc gia thiên tả Năm 1998, BJP thành lập Liên minh dân chủ quốc gia (NDA) với các đảng nhỏ địa phương, và trở thành chính phủ liên minh không thuộc Đảng Quốc Đại đầu tiên tồn tại được một nhiệm kỳ năm năm Trong cuộc bầu cử năm 2004, Đảng Quốc Đại đã chiếm đa số ghế và thành lập một chính phủ lãnh đạo Liên minh tiến bộ thống nhất (UPA) và được các đảng phái cánh tả phản đối BJP ủng hộ và hiện nay Đảng Quốc Đại vẫn đang nắm quyền lãnh đạo đất nước
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Quốc Đại, Ấn Độ đã tiến hành công cuộc cải cách trên tất cả các lĩnh vực kinh tế- chính trị đã giúp Ấn Độ không những thoát khỏi khó khăn mà còn giúp Ấn Độ trở thành một trong những nền kinh tế có tốc độ phát triển nhanh nhất trên thế giới và làm gia tăng vị thế của họ trong khu vực và trên thế giới Với sự thành công đó tạo điều kiện cho Ấn Độ điều chỉnh lại chính sách đối ngoại của mình, tăng cường hợp tác với các nước trên thế giới đặc biệt là với Mỹ, Trung Quốc, EU, ASEAN là những đối tác lớn có tầm quan trọng chiến lược đối với Ấn Độ, qua đó giúp Ấn Độ giải quyết những khó khăn và đưa đất nước ngày càng phát triển
1.2 Quan hệ EU- Ấn Độ trước 1993
Cho đến năm 1947, Ấn Độ là thuộc địa của Anh Mọi liên hệ với châu Âu
Trang 21đều được thực hiện thông qua chính quyền thực dân Anh Trước sức mạnh đấu tranh giành độc lập của nhân dân Ấn Độ, năm 1947, thực dân Anh buộc phải trao trả độc lập cho Ấn Độ Tuy nhiên, Ấn Độ bị chia cắt thành hai quốc gia là Ấn Độ và nước Cộng hòa Hồi giáo Pakistan Sau khi giành độc lập năm 1947, phần lớn thương mại của Ấn Độ đã được thiết lập trở lại với Anh, các thuộc địa của Anh và các đồng minh Mô hình này được tiếp tục cho đến mấy năm sau
Năm 1950, Ấn Độ tuyên bố thể chế cộng hòa, có tên gọi chính thức là Cộng hòa Ấn Độ Giới lãnh đạo Ấn Độ ban hành chính sách “tự lực tự cường”, tăng cường quan hệ với các nước khác trên thế giới với một nền thương mại đa dạng Và các nước trong khối XHCN là lựa chọn đầu tiên và trở thành các đối tác thương mại lớn của Ấn Độ Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Ấn Độ chủ trương chính sách
“Không liên kết”, nhưng việc duy trì mối quan hệ chặt chẽ với Liên Xô đã tạo nên thái độ nghi ngờ, đề phòng của các nước phương Tây dành cho Ấn Độ Điều này đã dẫn đến quan hệ với châu Âu có phần bị hạn chế Sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, thực tế kinh tế và chính trị đã quyết định bản chất và quy mô quan
hệ của Ấn Độ với EU Điều này xảy ra trùng hợp với các cuộc cải cách và mở cửa nền kinh tế của Ấn Độ
Cho dù mối quan hệ giữa Ấn Độ và các nước khu vực Tây Âu chưa được hai bên chú trọng, nhưng quan hệ kinh tế thương mại với châu Âu thời kỳ này cũng đã đóng một vai trò quan trọng đối với Ấn Độ và hình thành những nền tảng bước đầu của quan hệ giữa Ấn Độ và Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC) Nhận thấy tầm quan trọng khi phát triển mối quan hệ kinh tế với các nước châu Âu, Ấn Độ là một trong những nước đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với EEC vào năm 1960 Tháng 12/1973, Hiệp định hợp tác thương mại (CCA- Commercial Cooperation Agreement) giữa Ấn Độ và EC đã được ký kết (hiệp định này có hiệu lực vào tháng 4/1974), Ấn Độ là người đầu tiên ký với EC Hiệp định hợp tác kinh tế thương mại Đây là một hiệp định toàn diện bao gồm một loạt các vấn đề kinh tế cả thương mại, hợp tác kinh tế, các ngành công nghiệp, dịch vụ, năng lượng, giao thông, du lịch, khoa học công nghệ… Năm 1983, EC cử một đoàn đại biểu cấp cao đến Delhi Đây
là chuyến viếng thăm Ấn Độ đầu tiên sau khi nước này giành độc lập Năm 1988,
Trang 22diễn ra cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Ủy ban hỗn hợp châu Âu với chính phủ Ấn Độ, đây được xem là những nền tảng đầu tiên hết sức quan trọng đối với sự phát triển quan hệ EU- Ấn Độ về sau
Tuy nhiên, mối quan hệ EU- Ấn Độ trước năm 1993 chủ yếu diễn ra giữa Ấn
Độ và một số nước thành viên EU vốn là những nước có mối quan hệ với Ấn Độ từ trước như Anh, Pháp, Đức, Bỉ và Hà Lan và chủ yếu quan hệ trên lĩnh vực kinh tế thương mại Năm 1960- 1961 các nước EEC chiếm khoảng 37% tổng số thương mại của Ấn Độ Từ sau khi Anh gia nhập EC (1970) Vương quốc Anh chiếm khoảng 20% của tổng kim ngạch xuất khẩu và 27% tổng kim ngạch nhập khẩu của
Ấn Độ [73]
Nhìn chung, mối quan hệ EU – Ấn Độ trước 1993 chưa thực sự phát triển, một mặt do EU lúc này còn bận rộn với việc xác lập và củng cố những mối liên hệ nội khối, trong khi đó Ấn Độ cũng vừa giành được độc lập, đất nước đang gặp nhiều khó khăn Hơn nữa, trong chính sách đối ngoại thì Ấn Độ có xu hướng nghiêng về phía Liên Xô và các nước XHCN; đồng thời Ấn Độ là nước có vai trò chủ yếu trong phong trào đoàn kết Á – Phi và phong trào không liên kết Nên giữa
Ấn Độ và châu Âu còn nhiều nghi ngờ và bất đồng quan điểm; bên cạnh đó cả hai bên còn bận với việc thúc đẩy các mối quan hệ trong khu vực thuộc phạm vi ảnh hưởng của mình mà chưa chú ý đến nhau Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, bối cảnh quốc tế có nhiều biến động mạnh mẽ, xu thế đối đầu được thay thế bởi xu thế đối thoại, hòa bình hợp tác cùng phát triển Bên cạnh đó, tình hình nội bộ hai bên cũng được cải thiện với những bước phát triển đột phá và với việc điều chỉnh chính sách đối ngoại của cả hai bên, lúc này EU và Ấn Độ mới bắt đầu chú ý đến nhau và với hiệp định hợp tác EU – Ấn Độ ký ngày 20/12/1993 đánh dấu sự mở đầu một giai đoạn mới trong quan hệ EU – Ấn Độ
1.3 Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của EU và Ấn Độ trong bối cảnh mới
1.3.1 Chính sách châu Á mới của EU
Trước sự thay đổi của bối cảnh quốc tế và bản thân khu vực châu Á là nhân tố
cơ bản nhất để EU hoạch định chính sách Châu Á mới EU tìm kiếm cơ hội trở về
Trang 23vùng đất từng có quan hệ truyền thống với mình Chiến tranh lạnh kết thúc mở ra giai đoạn mới trong lịch sử quan hệ quốc tế, trật tự hai cực tan vỡ thế giới đang bước vào giai đoạn hình thành trật tự mới, trật tự thế giới đa cực Đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức để các nước và khu vực trên thế giới tìm kiếm một vị trí thích hợp trên bàn cờ chính trị quốc tế Và EU cũng tận dụng thời cơ này để trở thành một cực
quan trọng trong trật tự đa cực này
Một châu Á đang “bừng tỉnh” với sự phát triển kinh tế đến chóng mặt và sự năng động, tích cực hội nhập của các quốc gia châu Á đang thu hút sự chú ý của thế giới thì ở đây lại đang tồn tại một “khoảng không quyền lực” tạo cơ hội cho các quốc gia vừa và nhỏ của khu vực châu Á tự do phát triển mà không chịu sự chi phối bởi bất kỳ nước lớn nào Nhưng nó cũng chính là nguyên nhân dẫn tới sự ganh đua của các nước lớn để tranh giành quyền lực tại châu Á Vì thế, với tham vọng trở thành một cực trên diễn đàn chính trị quốc tế EU không thể bỏ lỡ “chuyến tàu châu Á” [23; tr.3]
Mặt khác, bản thân các quốc gia thành viên EU cũng nhận thấy nhu cầu của mình trong quan hệ với châu Á Sau một thời gian dài bị chi phối bởi cục diện Chiến tranh lạnh, các quốc gia châu Âu nhận thấy rằng họ cần độc lập hơn với Mỹ Tháng 2/1992 Hiệp ước Liên minh châu Âu (thường được gọi là Hiệp ước Masstricht) được ký kết, Liên minh châu Âu thay thế cho Cộng đồng châu Âu (EC) đánh dấu một giai đoạn thay đổi về chất của Cộng đồng Việc tăng cường và nâng cao hợp tác trong nội bộ khối cùng với việc ra đời chính sách đối ngoại và an ninh chung (PESC) là minh chứng thể hiện EU mong muốn trở thành một liên minh chính trị, an ninh kinh tế có ảnh hưởng sâu rộng đến tất cả các mặt đời sống trên lục địa châu Âu nói riêng và thế giới nói chung
Trong thời kỳ toàn cầu hóa, mỗi thành viên EU không những muốn tăng cường quan hệ trong nội bộ khối mà họ cũng muốn thông qua liên minh EU để mở rộng đối ngoại với các quốc gia khác trên thế giới nhằm tìm kiếm thị trường mới và nguồn nguyên liệu phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế Chính lợi ích kinh tế là nhân
tố đầu tiên để các quốc gia châu Âu ủng hộ và cho ra đời chính sách Châu Á mới
Trang 24Các quốc gia thành viên EU vốn đã có quan hệ lâu đời với các quốc gia châu Á dù
đó là quan hệ thời kỳ thuộc địa hay quan hệ thời kỳ Chiến tranh lạnh, thì ngày nay khi EU muốn mở rộng quan hệ quốc tế đều phải dựa trên những mối quan hệ truyền thống này Điều đó, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tăng cường hợp tác của EU đối với khu vực châu Á và sự ra đời của chính sách Châu Á mới là một tất yếu
Một nhân tố quan trọng không kém ảnh hưởng đến sự ra đời của chính sách Châu Á mới của EU đó là sự thay đổi chính sách đối ngoại của các cường quốc đối với khu vực châu Á Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga…đều có những chính sách
ưu tiên trong hợp tác với châu Á Quan tâm trước tiên của các nước lớn là lợi ích kinh tế tại châu Á Khu vực này quy tụ nhiều nền kinh tế đang phát triển, trong đó phải kể tới hai nền kinh tế đang được đánh giá là phát triển mạnh nhất là Trung Quốc và Ấn Độ Các nước đang phát triển với dân số đông, tốc độ tăng trưởng kinh
tế cao là thị trường hấp dẫn cho các hàng hóa xuất khẩu của bất kỳ quốc gia nào; đồng thời cũng là thị trường đầu tư hấp dẫn với nguồn nguyên liệu phong phú và nguồn nhân công dồi dào, giá rẻ… Hơn nữa, các nước này đang thực hiện chính sách mở cửa để thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, các nước thuộc EU có thể đáp ứng được những nhu cầu trước mắt của châu Á như vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm Nhưng thực chất việc quay trở lại châu Á còn được hiểu như là cuộc cạnh tranh của các nước lớn để lấp đi “khoảng không quyền lực” tồn tại bấy lâu trong khu vực, xác lập vai trò ảnh hưởng của mình trong khu vực cũng là nâng cao vị thế chính trị của mình trên bàn cờ chính trị quốc tế Các nước lớn điều chỉnh chính sách Châu Á không chỉ vì lợi ích kinh tế trước mắt mà còn vì mục đích cân bằng quyền lực với các nước lớn khác nhằm bảo đảm chỗ đứng của mình tại khu vực châu Á
Trước những nhân tố chủ quan và khách quan tác động như vậy, EU nhận thấy cần
có một chính sách đối ngoại phù hợp với châu Á trong tình hình mới và kết quả là tháng 7/1994 chiến lược Châu Á mới của EU ra đời và đi vào thực hiện ngay sau đó Chính sách Châu Á mới xác định bốn mục tiêu tổng quát và lĩnh vực cho sự trở lại châu Á của EU bao gồm:
Trang 25Thứ nhất là, “tăng cường sự hiện diện kinh tế tại châu Á để duy trì vai trò dẫn dắt của EU trong nền kinh tế thế giới” Mục tiêu này quán xuyến trong toàn bộ chính sách và biện pháp thực hiện nhằm đạt được sự hiện diện nổi bật nổi bật của
EU tại khu vực châu Á trong những thập niên đầu thế kỷ XXI để đảm bảo gặt hái được các lợi ích đầy đủ tại khu vực này Hợp tác với một khu vực kinh tế năng động như châu Á sẽ đưa kinh tế châu Âu vào guồng quay của kinh tế thế giới, tạo động lực thúc đẩy kinh tế các quốc gia thành viên EU phát triển theo Ngoài ra, việc xây dựng chỗ đứng tại thị trường châu Á sẽ là nhân tố thuận lợi để mở rộng ảnh hưởng kinh tế của châu Âu trên thế giới
Thứ hai, thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các quốc gia kém phồn vinh trong khu vực Tuy là khu vực phát triển năng động nhưng khoảng cách giàu nghèo tại châu Á còn nhiều chênh lệch, đói nghèo vẫn là vấn nạn của các quốc gia châu Á Điểm yếu của nền kinh tế châu Á là hệ thống quản lý tài chính và quản lý kinh tế còn nhiều lỗ hổng dễ dẫn tới khủng hoảng Với mục tiêu này EU ủng hộ và giúp đỡ các quốc gia kém phồn vinh tại châu Á nhằm giúp họ thoát khỏi vấn nạn an ninh kinh tế, giảm nghèo và phát triển bền vững trong khu vực
Thứ ba, đóng góp cho sự ổn định ở châu Á thông qua tiếp xúc hợp tác quốc tế tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau Nhận định về môi trường an ninh châu Á, EU cho rằng đặc điểm của lục địa châu Á là sự khác biệt trong hệ thống chính trị giữa các quốc gia Nơi đây quy tụ tất cả các loại hình nhà nước như nhà nước quân chủ (Campuchia, Thái Lan…), nhà nước XHCN (Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Bắc Triều Tiên) và nhà nước theo mô hình nhà nước dân chủ phương Tây (Singapore, Indonesia…) Tuy vậy, các quốc gia châu Á đang hướng tới sự dân chủ trong nền chính trị quốc gia và điều đó phù hợp với giá trị dân chủ của EU Do đó, việc xác định mục tiêu này có nghĩa là EU muốn phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu các quan hệ chính trị và kinh tế với các đối tác ở châu Á
Thứ tư, đóng góp cho sự phát triển và củng cố dân chủ, cai quản bằng pháp luật, tôn trọng quyền con người và các quyền tự do cơ bản ở châu Á Thông qua chính sách Châu Á mới EU muốn tăng cường truyền bá các giá trị dân chủ phương Tây tại
Trang 26khu vực này bằng nhiều hình thức như trao đổi văn hóa, du lịch, hỗ trợ pháp lý… nhiều quốc gia châu Á vẫn bị phương Tây cho rằng chưa tôn trọng nhân quyền, tự do dân chủ nên EU mong muốn chính phủ cũng như người dân nhận thức được giá trị dân chủ, tự do và pháp quyền từ đó không những đảm bảo tư tưởng tự chủ được tôn trọng mà còn đảm bảo cho các giá trị văn hóa chính trị khác của EU tại châu lục này Trước những thay đổi nhanh chóng của khu vực và môi trường quốc tế đồng thời EU cũng có những nhu cầu phát triển mới, tháng 9/2001 EU quyết định nâng cấp chính sách đối ngoại dành cho châu Á trên cơ sở chính sách Châu Á mới ra đời năm 1994 Văn kiện mới mang tên “Châu Âu và châu Á: một khuôn khổ chiến lược cho sự gia tăng quan hệ đối tác”, trong đó EU xã định lại những mục tiêu then chốt cho sự trở lại châu Á của mình nhằm nâng cao khuôn khổ hợp tác Á- Âu cho tương xứng với tiềm năng quan hệ giữa hai bên
Điểm điều chỉnh trong chính sách là việc EU không chỉ coi trọng quan hệ kinh
tế với châu Á mà còn mở rộng hợp tác trên lĩnh vực chính trị, an ninh Hợp tác toàn diện là mục tiêu tổng thể của chính sách Châu Á nâng cấp sao cho tương xướng với sức nặng toàn cầu của EU khi liên minh này ngày càng mở rộng và lớn mạnh EU xây dựng quan hệ hợp tác với châu Á trên ba trụ cột: kinh tế tiền tệ, đối ngoại- an ninh và tư pháp- nghiệp vụ Trong đó hợp tác kinh tế vẫn là lĩnh vực ưu tiên hàng đầu trong chính sách mới, EU xây dựng mối quan hệ hợp tác bình đẳng với châu Á Bên cạnh đó, hợp tác an ninh, chính trị cũng được tăng cường nhất là khi EU tham gia vào diễn đàn ARF và sau sự kiện 11/9 tại Mỹ, EU cũng lưu ý tới lĩnh vực hợp tác chống khủng bố với các quốc gia châu Á Tiếp tục các chương trình trao đổi văn hóa, đẩy mạnh tuyên truyền quảng bá hình ảnh của EU tới các quốc gia châu Á đây
là những hoạt động được EU chú trọng
Những ưu tiên trong quan hệ giữa EU- châu Á bao gồm:
1 Tiếp tục quan hệ hợp tác song phương
2 Tăng cường sự hiện diện của EU tại châu Á
3 Ủng hộ hợp tác khu vực theo hướng củng cố hòa bình, an ninh
4 Khuyến khích châu Á đóng vai trò lớn hơn trên các diễn đàn đa phương
Trang 275 Bảo đảm các thị trường mở và khuôn khổ kinh doanh không phân biệt đối xử
6 Khuyến khích sự liên kết các nền kinh tế nhà nước vào thị trường tự do
7 Đóng góp cho sự phát triển bền vững và xóa nghèo ở các nước kinh tế kém phát triển nhất
8 Đảm bảo cách tiếp cận phối hợp giữa các nước EU đối với sự phát triển quan
hệ của EU với khu vực [ 23; tr.4]
Với việc nâng cấp chính sách Châu Á của EU cho thấy vị trí của châu Á ngày càng quan trọng trong chính sách đối ngoại của EU Liên minh châu Âu đã đặt các quốc gia châu Á ở vị trí là những đối tác kinh tế cần tăng cường quan hệ hợp tác hai bên cùng có lợi Từ chính sách Châu Á ra đời năm 1994 và việc nâng cấp lên “châu Âu- châu Á: một khuôn khổ chiến lược cho sự gia tăng quan hệ đối tác” n ăm 2001 thể hiện cách nhìn mới của EU đối với châu Á và muốn đưa mối quan hệ này trở thành quan hệ chiến lược trong thế kỷ mới và không ngừng thúc đẩy mối quan hệ này ngày càng phát triển
1.3.2 Vị trí của Ấn Độ trong chính sách đối ngoại của EU
Trong suốt quá trình xây dựng và phát triển của các nước Tây Âu sau khi chiến tranh thế giới hai kết thúc, kể từ Cộng đồng Than – Thép (1952) đến Liên minh châu Âu, vấn đề xây dựng một liên minh chính trị và một chính sách đối ngoại, quốc phòng an ninh chung đã nhiều lần được các nước thành viên đem ra thảo luận với nhiều dự án khác nhau Tuy nhiên, các cố gắng này đều đi đến chỗ thất bại do
cơ chế vận hành của Cộng đồng kinh tế châu Âu lúc đó việc thông qua những vấn
đề lớn đòi hỏi phải tuân thủ nguyên tắc nhất trí của các nước trong khối
Cuối những năm 1980 đầu những năm 1990 với sự biến động của tình hình thế giới cũng như chuyển biến to lớn của châu Âu đã buộc các nước EC phải nhanh chóng đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực chính trị - an ninh hay nói cách khác là phải cho ra đời một chính sách đối ngoại và an ninh chung giữa các nước
Với sự ra đời của Hiệp ước Mastricht, đã đặt những nền tảng đầu tiên cho Chính sách đối ngoại an ninh chung của EU (PESC) Mục tiêu chính của EU được nêu trong Hiệp ước này là: “Khẳng định bản sắc của mình trên trường quốc tế thông
Trang 28qua vận hành một chính sách đối ngoại và an ninh chung để đến một thời hạn nhất định tiến tới một chính sách quốc phòng chung, một chính sách mà khi thích hợp có thể sẽ đưa đến một nền phòng thủ chung” [19; tr.242] Chính sách đối ngoại và an ninh chung được xác định là một trong ba trụ cột của Liên minh châu Âu Bao gồm bốn nội dung chính đồng thời cũng là những công cụ chủ yếu để thực hiện chính sách này đó là: Chiến lược chung trong đối ngoại và an ninh, lập trường chung của
cả khối, các hoạt động chung trong đối ngoại và an ninh, hợp tác quốc tế
Trong vấn đề hợp tác quốc tế, thì việc tăng cường quan hệ với các nước và tổ chức quốc tế khác trên thế giới trong đó có châu Á, được EU hết sức quan tâm nhất
là sau khi chính sách Châu Á mới của EU được ban hành năm 1994 và được nâng cấp lên năm 2001 đã đánh dấu sự quay trở lại châu Á của EU Ngay từ đầu thực hiện chiến lược quay trở lại châu Á, EU đã “ủng hộ nỗ lực của các nước châu Á thúc đẩy hợp tác cấp vùng như ASEAN, ARF, SAARC… Trong đó EU rất chú trọng thúc đẩy quan hệ hợp tác với Trung Quốc, ASEAN, Nhật Bản, Ấn Độ EU đã bắt đầu nhận thức được vai trò và vị thế của Ấn Độ trong bối cảnh mới, EU thấy rằng Ấn Độ đang dần trở thành một “người khổng lồ” với sự phát triển đáng nể trong những năm sau Chiến tranh lạnh, và hợp tác với Ấn Độ sẽ đưa lại cho EU một
vị thế cao và vững chắc hơn ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương Sau khi chính sách Châu Á mới ra đời và đi vào thực hiện, EU tăng cường các chuyến thăm và bàn bạc đối thoại giữa các nhà lãnh đạo Ấn Độ Qua đó để thấy được Ấn Độ đang dần chiếm một vị trí quan trọng trong chính sách đối ngoại của EU tại châu Á cũng như trên thế giới
EU lựa chọn thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Ấn Độ là do đánh giá cao vai trò nước lớn hiện có và tiềm tàng của nước này Những năm gần đây cục diện chính trị trong nước ổn định, cuộc cải cách kinh tế tiến hành năm 1990 thu được nhiều thành tựu và được nhân dân ủng hộ Trong các công việc quốc tế, việc Ấn Độ yêu cầu trở thành Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an, thúc đẩy cải cách Liên Hiệp Quốc, tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình chứng tỏ giấc mộng nước lớn
“có tên tuổi” đang dần dần trở thành sự thật Do đó, EU đã đánh giá cao Ấn Độ,
Trang 29nhận định đây sẽ là cường quốc khu vực và “sân chơi thế giới” và EU cũng cho rằng “Ấn Độ là lược lượng quan trọng nhất ở Nam Á đã phát huy vai trò duy trì ổn định, bảo vệ nhân quyền và chế độ dân chủ trong khu vực, đồng thời còn là nước lãnh đạo toàn cầu ngày càng quan trọng trong thương mại thế giới và hợp tác quốc tế” [50; tr.6] Ngoài ra, chế độ dân chủ nghị viện của Ấn Độ phù hợp với quan niệm
ý thức hệ của EU, lập trường và quan điểm của Ấn Độ trong các công việc khu vực
và quốc tế có nhiều điểm trùng với EU, tất cả những điều này đã khiến cho EU thúc đẩy quan hệ với Ấn Độ Chính vì nhận thức được vị trí chiến lược quan trọng của
Ấn Độ tại châu Á nên EU đã không ngừng quan tâm đến Ấn Độ và thúc đẩy quan
hệ này lên thành quan hệ đối tác chiến lược
1.3.3 Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ
Ấn Độ là sản phẩm của một xã hội độc đáo và đặc sắc, một sự pha trộn giữa cái
cũ và cái mới Do đó, Ấn Độ luôn coi mình là một trong những nước lớn ở châu Á
có nền văn minh lâu đời nhất trên trái đất với sự giàu có và đa dạng về các di tích văn hóa, văn minh của thế giới Ngày nay mong muốn kế tục địa vị của một đế chế
xa xưa vẫn còn, Ấn Độ có rất nhiều tham vọng, muốn đóng vai trò lãnh đạo trong khu vực và vai trò một cường quốc trên thế giới “ngang hàng với Nga, Mỹ, EU,Trung Quốc, Nhật Bản”
Trước khi Ấn Độ giành được độc lập, Thủ tướng Nehru đã có tư tưởng loại trừ
ảnh hưởng của các nước lớn ra khỏi tiểu lục địa của mình và khái niệm “Không liên kết” ra đời năm 1939, Đảng Quốc đại Ấn Độ nêu rõ: “Duy trì quan hệ hữu nghị và hợp tác với tất cả các nước và tránh mắc vào các liên minh quân sự hay các nhóm tương tự mà có thể phân chia thế giới thành các nhóm thù địch, đe dọa hòa bình thế giới” [18; tr.250]
Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Ấn Độ coi “hòa bình”, “không liên kết” như là nội dung chính của chính sách đối ngoại; và để thực hiện Nehru đề ra chính sách
“chung sống hòa bình, tự lực, tự cường và hợp tác không can thiệp vào công việc nội
bộ của nhau, ủng hộ xu thế phi thực dân hóa, giải trừ vũ khí, xây dựng trật tự kinh tế
Trang 30quốc tế công bằng và đấu tranh trên toàn cầu chống phân biệt chủng tộc” Đây cũng chính là cơ sở cho việc hoạch định chính sách đối ngoại của Ấn Độ về sau
Chiến tranh lạnh kết thúc, bối cảnh quốc tế và chính bản thân Ấn Độ cũng có nhiều thay đổi buộc phải có những điều chỉnh cơ bản trong chiến lược đối ngoại cho phù hợp với tình hình mới, đảm bảo lợi ích dân tộc, lấy lại vị thế cường quốc trên thế giới
Sau Tổng tuyển cử lần thứ X, Chính phủ thiểu số của Đảng Quốc đại Ấn Độ do ông P.V.Narasimha Rao làm Thủ tướng được thành lập ngày 21/6/1991, để thích ứng với tình hình thế giới mới và giải quyết những khó khăn trước mắt của đất nước, Thủ tướng N Rao đã điều chỉnh chính sách đối ngoại nhưng không thay đổi nguyên tắc và mục tiêu ông từng tuyên bố: “Thế giới đã thay đổi, các nước đều đã thay đổi, và không có gì có thể biện minh nếu Ấn Độ thay đổi Chúng ta phải điều chỉnh và có cách đề cập thực tế, nhưng chúng ta sẽ không bao giờ thay đổi nguyên tắc và mục tiêu” [25; tr.4]
Với tuyên bố này mở đầu sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ Trên
cơ sở đó có thể thấy chính sách đối ngoại của Ấn Độ sau Chiến tranh lạnh được vạch ra với những mục tiêu cụ thể:
- Bảo vệ độc lập chủ quyền, an ninh quốc gia
- Tạo môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển kinh tế
- Tăng cường và mở rộng quan hệ với các nước lớn, các trung tâm kinh tế thế giới nhằm tranh thủ vốn đầu tư và kỹ thuật cao
- Đẩy nhanh quá trình hội nhập khu vực và hội nhập toàn cầu
- Nâng cao vai trò và vị trí của Ấn Độ trong khu vực và trên thế giới, đưa Ấn
Độ trở thành cường quốc châu Á và thế giới vào những thập niên đầu của thế kỷ XXI, giành lại vị trí xứng đáng trong trật tự thế giới [27; tr.114]
Ấn Độ vẫn tiếp tục theo đuổi đường lối đối ngoại hòa bình, độc lập không liên kết mà Nehru vạch ra trước đây, song có những điều chỉnh để thích ứng và phù hợp với tình hình mới Điểm nổi bật trong sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ
là sự đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ Ấn Độ thực hiện chính sách ngoại
Trang 31giao cân bằng với tất cả các nước lớn, nỗ lực phát triển quan hệ với tất cả các trung tâm quyền lực không bị lôi kéo vào các liên minh chống đối nhau: tách khỏi xu hướng thân Liên Xô trước đây nhưng vẫn coi trọng Nga, coi đây là nguồn cung cấp
kỹ thuật quân sự chủ yếu và là chỗ dựa làm đối trọng trong quan hệ với Mỹ, Trung Quốc Chú trọng hơn trong việc cải thiện quan hệ với Mỹ, tránh đối đầu với Mỹ trên các vấn đề quốc tế; tăng cường hợp tác kinh tế và chung sống hòa bình với Trung Quốc; tăng cường quan hệ với EU, Nhật Bản và đề ra chính sách “hướng Đông”, tăng cường quan hệ với các nước ASEAN về mọi mặt, tiếp tục thúc đẩy quan hệ toàn diện với Việt Nam
Đi vào chi tiết cho thấy Ấn Độ có những điều chỉnh riêng đối với từng khu vực Đối với Nam Á, mục tiêu là không thay đổi: Ấn Độ tiếp tục củng cố và phát huy vai trò nước lớn trong khu vực, hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng của các nước lớn tại khu vực này kể cả Mỹ Tuy nhiên, trong tình hình mới Ấn Độ khó có thể ngăn cản được các nước láng giềng Nam Á mở rộng quan hệ hợp tác với các nước khác, đặc biệt là với các nước lớn như: Mỹ, Trung Quốc Mặc khác, giữa Ấn
Độ và các nước Nam Á còn tồn tại nhiều bất đồng tranh chấp chưa giải quyết được… Vì vậy, để tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác với khu vực Nam Á, Ấn
Độ thay thế chính sách đối ngoại có phần áp đặt nước lớn bằng chính sách mềm dẻo, cởi mở trong quan hệ song phương cũng như với Hiệp hội hợp tác khu vực Nam Á (SAARC)
Ấn Độ luôn tìm cách cải thiện quan hệ với các nước láng giềng, đặc biệt chú trọng quan hệ với Pakistan bởi lẽ xung đột Ấn Độ - Pakistan có được giải quyết thì khu vực Nam Á mới thể có môi trường hòa bình, ổn định và hợp tác Cải thiện quan
hệ với Pakistan Ấn Độ tạo được môi trường khu vực hòa bình, thúc đẩy hợp tác kinh tế khu vực lên tầm cao mới, Ấn Độ có điều kiện vươn lên củng cố và phát huy vai trò nước lớn ở khu vực
Đối với Đông Nam Á, Ấn Độ thực hiện chính sách “hướng Đông” (Look East
Policy) nhằm mở rộng quan hệ với các nước Đông Nam Á Đây là một điều chỉnh chiếm vị trí quan trọng và có ý nghĩa chiến lược đối với Ấn Độ
Trang 32Đông Nam Á luôn được đặt ở vị trí trung tâm trong chính sách “hướng Đông” của Ấn Độ Các quan chức cấp cao Ấn Độ từ thủ tướng, bộ trưởng các Bộ ngoại giao, Tài chính… đã lần lượt có chuyến viếng thăm các nước Đông Nam Á Và quan hệ Ấn Độ - ASEAN đã thu được những thành công lớn: Ấn Độ được công nhận là thành viên Đối ngoại bộ phận của ASEAN (1992), thành viên đối thoại đầy
đủ ASEAN (1995), và được mời tham dự Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN
và tham gia diễn đàn an ninh khu vực Đông Nam Á (ARF) (1997) Tháng 11/2004, tại Hội nghị Thượng đỉnh diễn ra tại Lào Ấn Độ và các nước ASEAN đã ký biến bản kế hoạch “Đối tác vì hòa bình, tiến bộ và thịnh vượng”, mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ giữa ASEAN và Ấn Độ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh, thương mại, văn hóa… Năm 2007, Hội nghị cấp cao ASEAN +1 với Ấn Độ diễn ra tại Cebu (Philippines) đẩy mạnh hơn nữa quan hệ giữa hai bên
Trên lĩnh vực kinh tế - thương mại: Hội nghị hợp tác với các nước ASEAN trên lĩnh vực kinh tế - thương mại được Ấn Độ hết sức quan tâm triển khai Từ 1992, với
tư cách là một thành viên đối thoại bộ phận của ASEAN với bốn lĩnh vực hợp tác đầu tiên là thương mại, đầu tư, khoa học - công nghệ và du lịch, Ấn Độ có điều kiện thúc đẩy mạnh mẽ hơn với ASEAN Sang những năm đầu thế kỷ XXI, quan hệ trên lĩnh vực kinh tế thương mại của Ấn Độ với Đông Nam Á tiếp tục được tăng cường
và gặt hái được nhiều thành công lớn
Trên lĩnh vực an ninh, quốc phòng cũng được Ấn Độ đẩy mạnh trên cơ sở lợi ích của hai bên, hai bên đã có những chuyến viếng thăm cấp cao của Bộ quốc phòng, việc Ấn Độ được các nước ASEAN mời tham gia diễn đàn an ninh khu vực (ARF) đã xác nhận vai trò của Ấn Độ đối với vấn đề hòa bình và an ninh khu vực Năm 2003, Ấn Độ - ASEAN đã ký một bản “Tuyên bố chung về hợp tác chống khủng bố quốc tế”
Đối với các nước lớn Nga, Mỹ, Trung Quốc, từ kinh nghiệm lịch sử trong thời
kỳ Chiến tranh lạnh và đứng trước những biến động to lớn của tình hình thế giới,
Ấn Độ đã nhận thức được rằng không chỉ dựa vào một quốc gia riêng biệt nào dù đó
là một siêu cường Để có được một vị trí vững chắc của một cường quốc ở khu vực
Trang 33thì cần phải xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với các cường quốc khác trên thế giới
Do đó, khi thực hiện điều chỉnh chính sách đối ngoại Ấn Độ đặc biệt hướng sự điều chỉnh này đến quan hệ với các nước Trung Quốc, Mỹ, EU và Nhật Bản cố gắng cải thiện quan hệ với các nước này, gạt bỏ những bất đồng, tranh chấp và trở ngại trước đây nhất là đối với nước láng giềng Trung Quốc để cùng cạnh tranh và hợp tác trong hòa bình đưa lại cơ hội phát triển cho cả hai bên và cả châu Á
Đối với Nga, Ấn Độ vẫn tiếp tục duy trì mối quan hệ tốt đẹp được thừa kế từ quan hệ hữu nghị với Liên Xô trước đây Đặc biệt là trên lĩnh vực quân sự, Ấn Độ
đã tăng cường quan hệ giao lưu và hợp tác quân sự song phương, thúc đẩy việc đổi mới những vũ khí mà Ấn Độ mua của Liên Xô và mua một số vũ khí chiến lược mới mà phương Tây không muốn bán cho Ấn Độ Hiện nay quan hệ hai nước đang chuyển dần từ quan hệ quốc phòng sang quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư và khoa học – công nghệ
Riêng đối với Mỹ, Ấn Độ đã có những điều chỉnh quan trọng, tỏ thái độ mềm dẻo, theo hướng cân bằng lực lượng, tránh đến mức tối đa sự đối đầu với Mỹ trên nhiều vấn đề quan hệ quốc tế để tranh thủ Mỹ, giải quyết những khó khăn về kinh tế
và kỹ thuật cao, để hiện đại hóa đất nước, hạn chế những khả năng hoạt động của các lực lượng Hồi giáo cực đoan ở Ấn Độ, và khắc phục những diễn diến phức tạp ở khu vực vì mục tiêu trở thành cường quốc của Ấn Độ
1.3.4 EU trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ
Đối với EU chính sách đối ngoại của Ấn Độ cũng giống như với các nước lớn Nga, Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản Với sự điều chỉnh chính sách đối ngoại Ấn Độ ngày càng quan tâm hơn đối với EU và mối quan hệ này được đánh giá là có tốc độ phát triển nhanh chóng, từ quan hệ hợp tác nay được nâng lên thành “quan hệ đối tác chiến lược”, đây là mối quan hệ được cả EU và Ấn Độ ca ngợi là mối quan hệ của hai nền dân chủ lớn nhất thế giới, có thể tác động to lớn trong việc giải quyết những thách thức toàn cầu như hòa bình, an ninh chính trị và biến đổi khí hậu Tuy nhiên, mối quan hệ này không phải lúc nào cũng diễn ra suôn sẻ bởi vì trước đây Ấn Độ chưa mấy quan tâm đến EU và họ chỉ coi EU đơn thuần như một
Trang 34khối thương mại, trong khi nhiều người Trung Quốc coi tham vọng chính trị của EU một cách nghiêm chỉnh, và coi EU như là một cực đang nổi lên trong thế giới đa cực Và Ấn Độ cũng đã nhận thấy rằng EU không có chính sách về những vấn đề
mà họ quan tâm nhất là trong vấn đề giành chiếc ghế Ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc Trong những trường hợp EU không có chính sách ngoại giao chung, Ấn Độ không mặn mà trong việc quan hệ với Liên minh này Điều đặc biệt nữa là trong quá khứ sự chỉ trích của EU về sự vi phạm nhân quyền của các lực lượng Ấn Độ tai Kashmir đã làm cho nhiều người Ấn Độ tức giận Nhưng đứng trước sự thay đổi của bối cảnh quốc tế và khu vực cũng như ngay trong chính bản thân EU và Ấn Độ, Ấn Độ nhận thấy rằng để có được vị trí vững chắc của một cường quốc trong khu vực và vươn lên địa vị cao hơn trên trường quốc tế thì việc điều chỉnh quan hệ với EU là hết sức cần thiết, và mối quan hệ này thực sự phát triển nhanh chóng Với Hiệp định hợp tác ký ngày 20/12/1993, ngoài hợp tác kinh tế và thương mại, đã có thêm đối thoại chính trị EU- Ấn Độ Và đến tháng 6/ 1996 thì mối quan hệ này được nâng lên “Quan hệ đối tác tăng cường”, hai bên đã diễn ra Hội nghị cấp cao đầu tiên năm 2000, mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ giữa hai bên Và để thấy rõ hơn sự phát triển không ngừng của mối quan hệ này ta đi tìm hiểu mối quan hệ này trên một số lĩnh vực chủ yếu như: an ninh chính trị, ngoại giao, kinh tế thương mại, văn hóa, giáo dục… để thấy được vị trí quan trọng của hai nước trong chính sách đối ngoại của nhau
Trang 35Chương 2 QUAN HỆ EU - ẤN ĐỘ TRÊN CÁC LĨNH VỰC CHỦ YẾU (1993 - 2010)
2.1 Những nhân tố tác động đến việc EU và Ấn Độ tăng cường quan hệ với nhau
Bước sang thế kỷ XXI, EU và Ấn Độ không ngừng tăng cường trên mặt trận ngoại giao, các chuyến thăm cấp cao và bàn bạc đối thoại giữa các nhà lãnh đạo của hai bên diễn ra thường xuyên, và đã nâng quan hệ EU- Ấn Độ từ quan hệ quốc gia thông thường lên quan hệ đối tác chiến lược Có một số nhân tố tác động chủ yếu đó là:
Thứ nhất, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn phát triển của cả EU và Ấn Độ tiến hành điều chỉnh chính sách nhằm phát huy vai trò lớn hơn trong các công việc quốc
tế và khu vực Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới xuất hiện cục diện “nhất siêu đa cường” Các nước châu Âu một mặt đẩy nhanh chấn chỉnh nội bộ, thành lập Liên minh châu Âu năm 1993, thúc đẩy tiến trình nhất thể hóa châu Âu, mặt khác bắt đầu thực thi “chính sách đối ngoại và an ninh chung”, với mong muốn phát huy vai trò và ảnh hưởng trong các công việc quốc tế với “một tiếng nói chung” Đầu năm 2003, mâu thuẫn EU- Mỹ leo thang, nội bộ EU đã tổ chức các buổi thảo luận
về các chính sách đối ngoại của châu Âu và tất cả đều nhất trí cho rằng EU cần thực hiện chính sách ngoại giao toàn diện và độc lập hơn với Mỹ, tăng cường hợp tác với các đối tác khác, Nga, Nhật Bản, Trung Quốc và Ấn Độ được coi là những đối tượng trọng điểm để EU phát triển quan hệ đối tác chiến lược trong thời gian tiếp sau đó
Về phía Ấn Độ, được đánh giá ngày càng cao với vai trò và vị trí trong khu vực và trên trường quốc tế, với những tiềm năng to lớn của đất nước họ có những thế mạnh mà các nước khác không có được Về kinh tế, từ khi thực thi cải cách đầu năm 1990 đến nay Ấn Độ luôn duy trì mức tăng trưởng trên 6%, năm 2005 đạt 8,5% và duy trì mức ổn định trong một thời gian dài Ngành công nghệ thông tin Ấn
Độ được đánh giá là khá phát triển, 61% phần mềm được xuất khẩu sang Mỹ Về tiềm lực quân sự, Ấn Độ đang tăng cường đầu tư xây dựng sức mạnh quân sự, đẩy
Trang 36nhanh các bước hiện đại hóa quân đội, mua sắm thêm nhiều vũ khí hiện đại Trong các công việc quốc tế, việc Ấn Độ yêu cầu trở thành Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an, thúc đẩy cải cách Liên Hiệp Quốc, tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình, chứng tỏ giấc mộng nước lớn “có tên tuổi” đang dần trở thành sự thật
EU đánh giá rất cao vị thế của Ấn Độ, nhận định đây sẽ là cường quốc khu vực và là “sân chơi thế giới”, EU còn cho rằng “Ấn Độ là lực lượng quan trọng nhất
ở Nam Á, đã phát huy vai trò (duy trì ổn định, bảo vệ nhân quyền và chế độ dân chủ trong khu vực), đồng thời còn là nước lãnh đạo toàn cầu ngày càng quan trọng trong thương mại thế giới và hợp tác quốc tế” [46; tr.6] Ấn Độ cũng hết sức coi trọng
EU, hiện tại EU là đối tác thương mại và là bạn hàng lớn nhất của Ấn Độ
Với những điều kiện này, khiến hai bên đều có chu cầu và khả năng hợp tác cùng thúc đẩy mối quan hệ ngày càng phát triển và việc này còn nhằm thực hiện các mục tiêu chung mà hai bên cùng quan tâm đó là: bảo vệ các giá trị chung, lợi ích cơ bản, an ninh độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của cả hai bên; củng cố và ủng hộ dân chủ, nhân quyền, pháp trị và luật pháp quốc tế; duy trì hòa bình, phòng ngừa xung đột và củng cố an ninh quốc tế theo Hiến chương Liên Hiệp Quốc với mục tiêu cơ bản là xóa bỏ đói nghèo, nâng đỡ sự phát triển bền vững kinh tế, xã hội và môi trường trong các nước đang phát triển Khuyến khích tất cả các nước tham gia vào tiến trình liên kết kinh tế thế giới, bao gồm từng bước hủy bỏ sự hạn chế đối với thương mại thế giới, đảm bảo phát triển bền vững
Thứ hai, EU muốn tìm cách mở rộng thị trường Ấn Độ thông qua “Kế hoạch Galilê” EU coi kế hoạch này là nội dung quan trọng thậm chí là nội dung hàng đầu trong các hoạt động ngoại giao “Kế hoạch Galilê” là một kế hoạch nghiên cứu khoa học chiến lược, một chương trình nghiên cứu mũi nhọn liên ngành tập trung kỹ thuật cao, mới Ấn Độ cũng rất quan tâm đến kế hoạch này và cho rằng hai bên cùng hợp tác và cùng thắng trong kế hoạch này có thể mở ra một thị trường rất lớn cho cả hai, nhất là đối với EU
Với sự thắng lợi của Kế hoạch Galilê sẽ đem lại 10 tỷ Euro/năm, tạo ra khoảng 10.000 cơ hội việc làm, nhanh chóng thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật
Trang 37trong các lĩnh vực và phát triển kinh tế; đồng thời kế hoạch này có thế giúp Ấn Độ phát triển phần mềm ưu tú và nhân tài khoa học kỹ thuật, nâng cao sức mạnh tổng hợp của mình Do đó, cả EU và Ấn Độ đều coi kế hoạch này như là “chiếc cầu nối” nhằm gắn kết hơn nữa quan hệ kinh tế giữa hai bên, thúc đẩy cơ hội mở rộng thị trường của nhau
Thứ ba, việc cải thiện quan hệ Ấn Độ - Mỹ và một số chính sách của Mỹ đối với Ấn Độ đã kích thích EU đẩy mạnh quan hệ với Ấn Độ Thời kỳ Chiến tranh lạnh, Mỹ và châu Âu liên minh cùng đối phó với Liên Xô, sau khi Liên Xô tan rã đối đầu Đông - Tây không còn, sự hội tụ chiến lược giữa Mỹ và châu Âu giảm xuống Mỹ bắt đầu điều chỉnh chính sách ngoại giao, kết đồng minh rộng rãi, thiết lập quan hệ đối tác với Ấn Độ, Nga, Trung Quốc, làm cho các nước EU thấy
lo lắng
Nhất là khi Mỹ thay đổi thái độ với Ấn Độ và khẳng định địa vị quốc tế của nước này trên mức độ rất lớn và đã ảnh hưởng đến tư duy của các nước châu Âu Quan hệ EU - Ấn Độ phát triển thay đổi cùng những thay đổi trong quan hệ Mỹ -
Ấn Độ Tháng 3/2000, Mỹ - Ấn Độ xây dựng “quan hệ đối tác kiểu mới gắn bó hơn”, thì đến tháng 6/2000, EU - Ấn Độ tổ chức Hội nghị thượng đỉnh đầu tiên, EU nâng cao cấp độ hợp tác với Ấn Độ Năm 2001, Mỹ - Ấn Độ bắt đầu xây dựng
“quan hệ đối tác chiến lược” và tháng 1/2004 Mỹ một lần nữa khẳng định “quan hệ đối tác chiến lược Mỹ - Ấn đang trở thành hiện thực”, thì tháng 10/2004 EU chính thức quyết định nâng cấp quan hệ EU - Ấn Độ thành “quan hệ đối tác chiến lược” [50; tr.9]
Thứ tư, EU - Ấn Độ thúc đẩy quan hệ còn nhằm mục đích kiềm chế Trung Quốc và tránh rủi ro Ấn Độ muốn dựa vào EU để đối phó với Trung Quốc và EU thì muốn tìm cách nâng đỡ Ấn Độ nhằm kiềm chế sự phát triển và ảnh hưởng của Trung Quốc Cả hai đều lo ngại trước sự vươn lên toàn diện của Trung Quốc; Trung Quốc tham gia ngày càng nhiều các công việc quốc tế và khu vực, địa vị quốc tế không ngừng được nâng cao; Trung Quốc đang phát huy vai trò ngày càng quan trọng trong vấn đề hạt nhân Bắc Triều Tiên và Iran; sức mạnh của Trung Quốc tăng
Trang 38nhanh khiến các nước trên thế giới đua nhau thiết lập quan hệ kinh tế thương mại và nâng cấp quan hệ chính trị với Trung Quốc
Ấn Độ với ưu thế đặc biệt là nước láng giềng và có tiềm lực kinh tế, quân sự ngày càng lớn mạnh đã trở thành sự lựa chọn hàng đầu của EU trong việc kiềm chế Trung Quốc và Ấn Độ cũng không mong muốn sống chung với một nước láng giềng từng xảy ra nhiều hiềm khích với mình trong quá khứ có sự phát triển quá lớn mạnh Ấn Độ cũng muốn tận dụng cơ hội này nhằm đưa hàng hóa nước mình xâm nhập ngày càng mạnh mẽ vào thị trường châu Âu và EU cũng muốn sử dụng các sản phẩm của Ấn Độ thay cho sản phẩm Trung Quốc, giảm sự phụ thuộc vào ngành chế tạo của Trung Quốc phòng ngừa các khả năng rủi ro xẩy ra đối với nền kinh tế Trung Quốc hay quan hệ Trung Quốc - EU xấu đi sẽ tác động đến nền kinh tế EU
2.2 Quan hệ EU – Ấn Độ trên các lĩnh vực chủ yếu (1993- 2010)
2.2.1 Quan hệ trên lĩnh vực ngoại giao, an ninh, chính trị
Quan hệ EU - Ấn Độ trở lại đầu những năm 1960, nhưng từ đó cho đến cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX mối quan hệ này phát triển rất chậm, chủ yếu là trên lĩnh vực kinh tế thương mại Năm 1993, Liên minh châu Âu xác lập lại quan hệ ngoại giao với Ấn Độ, mở đầu bằng các cuộc họp hàng năm của các Bộ trưởng, tuy nhiên trọng điểm vẫn là để thúc đẩy phát triển kinh tế, còn vấn đề chính trị ít được chú ý còn, thiếu sự bàn bạc chặt chẽ trong các vấn đề mà cả hai cùng quan tâm và các vấn
đề quốc tế lớn, nhất là vấn đề Liên Hiệp Quốc Bước sang thế kỷ XXI, trước sự thay đổi mạnh mẽ của bối cảnh quốc tế và bản thân hai chủ thể, EU bắt đầu chú ý hơn đến Ấn Độ, tăng cường tiến công ngoại giao đối với Ấn Độ Bắt đầu từ năm 2000, hai bên xác lập cơ chế gặp gỡ cấp cao định kỳ, Hội nghị thượng đỉnh lần thứ nhất
diễn ra tại Lisbon đã mở đầu giai đoạn mới trong quan hệ chính trị giữa EU và Ấn
Độ Hội nghị thượng đỉnh EU- Ấn Độ diễn ra chậm hơn so với Trung Quốc là 12 năm (Trung Quốc năm 1988) và sau Nhật Bản 9 năm (Nhật Bản năm 1991) nhưng mối quan hệ này lại được đánh giá là có cường độ phát triển khá nhanh Năm 2004, trong Hội nghị cấp cao lần thứ 5 diễn ra tại Lague đã nâng cấp mối quan hệ này lên thành “Đối tác chiến lược” với chương trình hành động cụ thể Hội nghị cấp cao lần
Trang 39thứ sáu tại New Delhi ngày 7/5/2005, đã thể hiện rõ hơn mức độ gắn kết và tầm vóc chiến lược của mối quan hệ EU- Ấn Độ, Hội nghị đã thông qua “Chương trình hành động chung” (Joint Action Plan) thực hiện toàn diện quan hệ đối tác chiến lược và
ký nhiều hiệp định hợp tác song phương Trong đó vấn đề chính trị được hai phía hết sức quan tâm và đã đề ra những mục tiêu chính trị dựa trên những nguyên tắc hợp tác hai bên cùng có lợi, bao gồm nhu cầu thúc đẩy tự do, dân chủ, đa nguyên, tôn trọng pháp luật, nhân quyền và cùng đóng góp cho việc duy trì một trật tự thế giới dựa trên pháp luật và có thể thông qua Liên Hiệp Quốc (UN) hoặc thông qua tổ chức Thương mại thế giới (WTO) cùng giải quyết nhằm duy trì hòa bình và an ninh quốc tế- thúc đẩy sự tiến bộ kinh tế- xã hội của tất cả các dân tộc trên thế giới trước những thách thức và đe dọa của toàn cầu
Tại các Hội nghị thượng đỉnh diễn ra hàng năm, EU và Ấn Độ đã cùng nhau thảo luận, bàn bạc và chia sẻ mong muốn về một thế giới hòa bình và ổn định bằng việc tham gia giải quyết những vấn đề còn vướng mắc trong khu vực của nhau Theo như đánh giá Jose Manuel Barroso Chủ tịch Ủy ban châu Âu: “EU và Ấn Độ, hai nền dân chủ lớn nhất thế giới có thể tác động to lớn trong việc giải quyết những thách thức toàn cầu như hòa bình và an ninh, chống khủng bố ” [2; tr77] Vì vậy,
cả EU và Ấn Độ luôn đề cao tự do và dân chủ với mục tiêu chính là ngăn chặn và giảm thiểu những tội ác để người dân có cuộc sống hòa bình và an toàn EU- Ấn Độ cùng hướng đến việc hợp tác trong vấn đề giải quyết các xung đột khu vực và quốc
tế bằng con đường hòa bình hữu nghị giúp đỡ các quốc gia đang phát triển để họ có thể hòa nhập vào hệ thống thế giới
Tại hội nghị cấp cao EU- Ấn Độ lần thứ 7 ở Helsinki năm 2006, Thủ tướng Phần Lan Vanhanen- nước Chủ tịch luân phiên EU, Chủ tịch Ủy ban châu Âu Manuel Barroso, đại diện cấp cao EU phụ trách chính sách ngoại giao và an ninh Solana đã cùng Thủ tướng Ấn Độ Hand Singh thảo luận sâu về các vấn đề nóng bỏng mà hai bên cùng quan tâm và phát triển quan hệ song phương, hai bên đã thông qua tuyên bố chính trị mới, nhấn mạnh sự mở rộng hợp tác trên tất cả các lĩnh
Trang 40vực, thúc đẩy Liên Hiệp Quốc cải cách; việc Ấn Độ trở thành “Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an”cũng được đề cập [52; tr.7]
Bước sang thế kỷ XXI, quan hệ chính trị EU- Ấn Độ ngày càng được tăng cường và phát triển nhằm đáp ứng trước những thách toàn cầu mới Nhất là vấn đề chống khủng bố, sau sự kiện 11/9/2001 ở Mỹ, EU và Ấn Độ đều thấy rằng vấn đề khủng bố đang là vấn đề đáng lo ngại không chỉ của một nước mà của toàn thế giới Điều đó đã thúc đẩy EU và Ấn Độ hợp tác chặt chẽ hơn nữa trong công cuộc chống khủng bố Ngoài ra việc tăng cường hợp tác chính trị EU - Ấn Độ còn nhằm giải quyết các vấn đề thuộc về khu vực địa lý của phía bên kia
EU và Ấn Độ cũng đã hợp tác có hiệu quả trong việc giải quyết các điểm nóng khu vực Tháng 12/2005, Ấn Độ đưa quân tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình ở Bosnia và Hergovina, khu vực Ban Căng, ủng hộ các hoạt động gìn giữa hòa bình của EU Hai bên không những ủng hộ về nhân đạo cho Chính phủ quá độ Hamid Karzai ở Afghanistan, mà trong tuyến bố chung tại Hội nghị cấp cao EU-
Ấn Độ lần thứ ba năm 2002, EU và Ấn Độ còn nhấn mạnh: “… Chúng tôi đảm bảo ủng hộ về chính trị và kinh tế cho chính phủ quá độ Afghanistan trong việc hoàn thành nhiệm vụ củng cố hòa bình và ổn định, ủng hộ chính phủ Afghanistan đấu tranh với các phần tử khủng bố” [52; tr9] Trên thực tế, chính phủ Ấn Độ đã viện trợ cho chính phủ Afghanistan 100 triệu USD, Ủy ban châu Âu viện trợ 1 tỷ Euro trong vòng năm năm
Các vấn đề ở khu vực Nam Á cũng được EU hết sức quan tâm nhất là trong vấn
đề tranh chấp vùng Kashmir giữa Ấn Độ và Pakistan, EU luôn ủng hộ giải pháp hòa bình để giải quyết vấn đề tranh chấp biên giới giữa hai nước này, EU cũng đã gửi các quan sát viên đến khu vực Kashmir nhằm làm trung gian hòa giải giữa Ấn Độ
và Pakistan
Ấn Độ ủng hộ EU cộng tác với các nước thuộc Hiệp hội hợp tác khu vực Nam
Á (SAARC) với tư cách là một quan sát viên và tham dự Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 14 của SAARC được tổ chức tại New Delih ngày 1- 4/4/2007 nhằm chia sẻ kinh nghiệm về những tiến trình tương tác đang diễn ra Ủy ban châu Âu đã có một biên